LỐI VÀO HÁN THI NHẬT BẢN

    Thịnh suy của một loại hình văn học

 

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

 

http://www.ccv.ne.jp/home/tohou/06_05_0.JPEG

 

Chúng ta biết rằng Hán thi là một di sản văn hoá chung của nhân loại, vượt khỏi mọi dị biệt về chính trị và tình cảm dân tộc, đă được phổ biến từ lâu đời ở khu vực văn hoá chữ Hán, chủ yếu là bốn quốc gia Trung, Hàn, Nhật, Việt. Thế nhưng nguồn gốc xa xôi và lâu đời của nó là Trung Quốc, v́ như theo định nghĩa đơn giản thứ nhất, đó là thể thơ viết bằng văn tự của tộc Hán, c̣n theo định nghĩa đơn giản thứ hai - giới hạn hơn trong không gian và thời gian - là thơ làm ra vào đời Hán, một triều đại khá xưa trong lịch sử nước ấy. Theo nghĩa thứ hai đó thì ngoài Hán thi hãy c̣n có Đường thi, Tống thi, Nguyên thi, Minh thi và Thanh thi vv... Điều này có nghĩa là Hán thi theo định nghĩa thứ nhất bao trùm cả Hán thi theo định nghĩa thứ hai.
 

Phần I: Hán thi tại Trung Quốc:

Tuy vậy, khi nói Hán thi tại Trung Quốc, chúng ta hiểu rằng đó là loại thơ viết bằng chữ Hán nhưng nó khác với thơ viết theo bạch thoại của người Trung Quốc đời nay dù bạch thoại cũng là Hán văn. Trước tiên, phải hiểu Hán thi như một loại cổ thi, dựa trên văn viết, nhiều qui luật chứ không phải văn nói tự do, bôn phóng như bạch thoại dù đôi khi - trong ḍng lịch sử của nó - Hán thi cũng có khuynh hướng tiến gần tới văn nói.

Hán thi có lẽ đă được sáng tác và ngâm nga ít nhất từ 3.200 năm trước. Về lịch sử lâu dài và kế tục của nó th́ cho đến nay, thật không có loại h́nh văn nghệ nào có thể sánh bằng.

Ḍng sông gọi là Hán thi phát nguyên từ Kinh Thi trên miền bắc và Sở Từ ở phương nam. Hai sông con này hợp lưu với nhau rồi đến đời Hán, nhờ tiếp nhận nguồn thơ ngũ ngôn từ phía tây, đă trở nên sống động hơn. Nó lại phân ra thành hai nhánh bắc nam, mỗi nhánh đều có tính đặc thù và chỉ được gộp thành một dưới hai triều Tùy Đường, khi nhà nước Trung Quốc một lần nữa thống nhất. Kể từ đấy, Hán thi bước vào thời cực thịnh, khí thế ào ạt, tuôn chảy như một ḍng sông lớn. Ba trăm năm đời Đường là một giai đoạn sung măn nhất của Hán thi, đến nỗi có lúc người ta dùng từ Đường thi để nói về thơ chữ Hán. Đường thi chính là tinh hoa của Hán thi vậy.

Từ đời Tống trở về sau, ḍng sông Hán thi trở thành b́nh lặng và nông cạn, chỉ dàn trải theo chiều ngang. Cùng lúc, bên cạnh những chỗ nước sâu, có thêm nhiều con lạch và băi cát, khiến cho cảnh trí trở nên đa dạng và phong phú. Khuynh hướng ấy kéo dài đến cuối đời Thanh nhưng khi bước vào thế kỷ 20, ḍng sông đó không c̣n ổn định nữa, dần dần khô mạch, mõi mòn chờ đợi được khai thông.

Từ đây, chúng ta hăy thử bước lên thuyền để ngao du trên ḍng sông Hán thi ấy. Tuy nhiên, v́ Hán thi của Trung Quốc không c̣n xa lạ ǵ với độc giả Việt Nam nên sau đây chúng tôi mạn phép không chua chữ Hán và cũng chẳng dịch lại mà dành thời giờ để dịch Hán Thi Nhật Bản, mục tiêu chính của loạt bài nghiên cứu này. Phần thơ dịch sang Việt ngữ, xin nhường lời cho các dịch giả tiền bối. Để có những bản dịch tốt của Kinh Thi sang tiếng Việt, chúng ta có thể đọc công tŕnh của Tạ Quang Phát, Tản Đà, Kim Y Phạm Lệ Oanh, Nguyễn Hiến Lê vv….Thơ tác giả Ngụy Tấn như Đào Uyên Minh đă có Phan Kế Bính. Về thơ Đường, đặc biệt có Ngô Tất Tố, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân), Trần Trọng San, Đỗ Bằng Đoàn - Bùi Khánh Đản, các tác giả Chung Phu Song trong Đường Thi Trích Diễm, các nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính vv... Thơ Tống ít được người dịch nhưng ngoài Hoàng Trung Thông dịch Lục Du, đă có công tŕnh dịch Tống thi của Vũ Thế Ngọc rất đáng chú ư. Thơ Minh Thanh không được quan tâm nhiều nên chỉ có những bài dịch lẻ tẻ chẳng hạn trong Chương Dân thi thoại của Phan Khôi có hai bài dịch rất đạt thơ cuối Minh đầu Thanh ... Ở miền Bắc nước ta trước 1975, cũng có nhiều dịch giả Hán thi được đánh giá cao như Nam Trân (Nguyễn Học Sỹ), Khương Hữu Dụng, Tương Như, Ngô Văn Phú …

Do kiến thức c̣n hạn hẹp, người viết chỉ có thể đưa ra vài nhận xét phiến diện và thiên lệch như trên nhưng phải nói là người Việt chúng ta khi đọc Hán thi chỉ dừng lại ở thời Tống chứ không đi xa hơn. Đều đó cũng dễ hiểu v́ về phẩm chất, thơ Đường Tống là bộ phận rực rỡ nhất.

Văn tự Trung Quốc có lẽ đă xuất hiện cách đây 3.500 năm và Trung Quốc đă xây dựng được một đất nước từ nền tảng văn tự. Lịch sử Nhật Bản chậm hơn Trung Quốc khoảng 2.000 năm cho nên buổi đầu phải mô phỏng Trung Quốc rồi mới có một nền văn học độc lập sau khi thoát ra khỏi ảnh hưởng văn hoá áp đảo của nước này.

Ba ngh́n năm trăm năm trước, ở Trung Quốc là thời nhà Ân. Trước nhà Ân là nhà Hạ, và trước nhà Hạ, tương truyền có Tam hoàng Ngũ đế. Dĩ nhiên thực hư thế nào th́ không ai rơ v́ chúng là những triều đại và nhân vật chỉ thấy trong truyền thuyết.

Sau đây, xin làm một việc vất vả nếu không nói là bất khả: tóm tắt lịch sử Hán thi Trung Quốc trong mươi trang giấy.

 

Tiết 1: Truyền thuyết và đồng dao

Một trong Ngũ đế là Đế Nghiêu. Nghe nói thời ông cai trị, thiên hạ thái b́nh. Một hôm nhà vua vi hành và nghe người dân hát bài đồng dao Khang cù dao ca ngợi công đức của ḿnh. Bài thơ 4 chữ này có lẽ là một trong những tác phẩm Hán thi đầu tiên. Cũng vậy, bên cạnh nó là Kích nhưỡng ca (4 câu 4 chữ), Nam phong ca (4 câu 2 ngắn 2 dài) ca tụng công lao vua Thuấn, người nối nghiệp Đế Nghiêu.
 

 

Lập ngă chưng dân,
Mạc phỉ nhĩ cực.
Bất thức bất tri,
Thuận đế chi tắc.

(Khang cù dao)  

Nhật xuất nhi tác,
Nhật nhập nhi tức.
Tạc tỉnh nhi ẩm,
Canh điền nhi thực,
Đế lực vu ngă hà hữu tai.

(Kích nhưỡng ca)  

Nam phong chi huân hề,
Khả dĩ giải ngô dân chi ôn uẩn hề.
Nam phong chi th́ hề,
Khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề.

(Nam phong ca)

 


Vua Vũ kế nghiệp Đế Thuấn, khai sáng cơ nghiệp 430 năm nhà Hạ trước khi Kiệt làm mất chính quyền về tay Thành Thang của nhà Ân. Dù vậy lịch sử chỉ bắt đầu sáng tỏ ra đôi chút từ cuối đời Ân, chung quanh triều đại của Trụ, ông vua cuối cùng. Trụ mất nước về tay Vũ Vương nhà Chu vốn đến từ phía Tây.

Bá Di Thúc Tề cho nhà Chu cướp chính quyền là vô đạo, hai anh em bèn vào núi Thú Dương làm ẩn sĩ, trước hái rau vi ăn rồi sau chết đói. Bài Thái vi ca có lẽ đă được sáng tác nhân cảm hứng đến từ câu chuyện đó. Thế nhưng Bá Di Thúc Tề là nhân vật có thực hay không và bài thơ nói trên có đúng đă được làm vào thời điểm đó chăng th́ chưa thấy ai lấy làm chắc.
 

 

Đăng bỉ Tây Sơn hề,
Thái kỳ vi hĩ.
Dĩ bạo dịch bạo hề,
Bất tri kỳ phi hĩ.
Thân Nông Ngu Hạ hốt yên một hề,
Ngô thích an quy hề,
Hu ta tồ hề,
Mệnh chi suy hĩ.

(Thái vi ca)

 

 

Tiết 2: Giáp cốt văn và Kinh Dịch

Những bài Hán thi cổ mà chúng ta có thể tin cậy về thời điểm xuất hiện vốn nằm trong loại thơ văn hay câu chữ bói toán viết trên mai rùa xương thú vào đời Ân. Loại văn tự này có tên là giáp cốt văn v́ chúng đă được khắc bằng vật nhọn trên xương cốt động vật và được phát hiện cách đây hơn 100 năm ở quần thể di tích gần kinh đô cũ của nhà Ân. Theo các học giả th́ loại văn tự này là thủy tổ của chữ Hán hiện đại .

Văn giáp cốt được truy ra có khoảng 8.000 chữ. Trong đó người ta đă biết cách đọc độ 2.000 chữ. Nó giúp ta hiểu được phần nào hoàn cảnh xă hội và văn hoá của thời nhà Ân nghĩa là 3.500 năm về trước. Từ đó, khoa giáp cốt học vẫn tiếp tục phát triển và giúp chúng ta mở được nhiều cánh cửa của quá khứ.

Thực ra người đời Ân dùng văn giáp cốt để ghi chép những lời lẽ trong bói toán (bốc từ), về sự biển chuyển của khí hậu, mùa màng và chiến tranh. Như thế, thi ca đă manh nha từ những quẻ bói. Ví dụ Quư Măo bốc là lời bàn đoán về mưa vào ngày hôm ấy. Lời của quẻ bói b́nh dị, tự nhiên giống như câu hát phát ra từ tâm hồn đơn sơ, chất phác của con người sống cách đây 3.500 năm.
 

 

Quí Măo bốc,
Kim nhật vũ,
Kỳ tự tây lai vũ,
Kỳ tự đông lai vũ,
Kỳ tự bắc lai vũ,
Kỳ tự nam lai vũ.

(Quư Măo bốc)

 


H́nh thức thi ca của quẻ bói thấy rơ ràng hơn vào thời kỳ của Kinh Dịch, một tác phẩm thu thập những quẻ bói truyền lại tự đời xưa.. Đó là một trong 5 quyển sách (Ngũ Kinh) nói về qui phạm luân lư đạo đức của nhà Nho.

Điều đó không tránh khỏi việc là, ngay trong Kinh Dịch, nội dung của các quẻ bói có khi lại nhắc đến quan hệ và t́nh cảm nam nữ, khiến cho tác phẩm có màu sắc bói toán hay triết lư này được xem như đă mở đường cho Kinh Thi, một tác phẩm văn học. Chẳng hạn các quẻ Truân lục nhị, Bí lục tứ, Truân thượng lục ... đề cập đến tập tục “cướp vợ” (lược đoạt hôn) trong một xă hội hăy c̣n bán khai, quẻ Trung phù cửu nhị dùng chữ “hạc minh” (chim hạc gáy) để nói lên sự thuận ḥa của đôi trai gái.

 

Tiết 3: Kinh Thi

Nói đến Kinh Thi là nói đến thi tập tối cổ của Trung Quốc, bao gồm những bài thơ ra đời từ đầu đời Chu đến cuối đời Xuân Thu, nghĩa là từ thế kỷ 12 TCN đến thế kỷ 6 TCN. Nó gồm 305 biên tuy rằng tương truyền có đến 3.000. Khổng tử (551 TCN-479 TCN) đă chỉnh lư (san định) lại c̣n 300 nên mới có chữ “thi tam bách”.

Kinh Thi có ba bộ phận lớn là Phong, Nhă và Tụng. Phong là “quốc phong” (dáng vẻ các nước) bao gồm dân ca của 15 tiểu quốc bên bờ sông Hoàng Hà, chiếm hết phân nửa (160 bài). Nhă (105 bài) nghĩa là “âm nhạc của triều đ́nh”, bao gồm một đại bộ phận là những bài ca trong dịp tế lễ mừng mùa màng, có hai phần Đại Nhă và Tiểu Nhă. Tụng (40 bài) nhằm ca ngợi công đức tiền nhân nhà nước, nên được chia làm 3 phần là Chu tụng, Thương tụng và Lỗ tụng.

Không ai rơ tác giả của 305 bài thơ ấy nhưng lời lẽ của nó khi th́ tỏ ḷng oán ghét chiến tranh, khi th́ than thở cho sưu cao thuế nặng, khi nói đến sự quyến luyến giữa nam nữ, đều biểu lộ t́nh cảm chất phác mộc mạc của con người thời cổ và được coi như nguồn cội của thi ca đời sau. Khổng tử đánh giá nó rất cao, xem đó như giáo khoa thư giúp Nho gia có kiến thức căn bản về xă hội, nhất là vì nội dung vốn hồn nhiên, đơn thuần, không thiên lệch, sai trái (tâm vô tà). Đến đời Xuân Thu Chiến Quốc, Kinh Thi lại được xem như sách gối đầu giường của các nhà ngoại giao. Họ trao đổi với nhau bằng những bài thơ chép trong đó để bày tỏ nỗi ḷng cũng như lập trường của mình một cách thanh tao nho nhă.

Thơ Kinh Thi phần nhiều có 4 chữ, gọi là “tứ ngôn thi” (nhưng cũng có rất nhiều ngoại lệ). Hăy thử đọc một số câu trong những bài nổi tiếng nhất như Quan thư, Đào yêu, Khải phong, Thạc thử.
 

 

Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.

(Trích Quan thư)  

Đào chi yêu yêu,
Chước chước kỳ hoa.
Chi tử vu quy,
Nghi kỳ thất gia.

(Trích Đào yêu)  

Khải phong tự nam,
Xuy bỉ cức tâm.
Cức tâm yêu yêu,
Mẫu thị cù lao.

(Trích Khải phong)  

Thạc thử thạc thử,
Vô thực ngă thử.
Tam tuế quán nữ,
Mạc ngă khẳng cố.
Thệ tương khứ nữ,
Thích bỉ lạc thổ.
Lạc thổ lạc thổ,
Viên đắc ngă sở.

(Trích Thạc thử)

 


Trong Kinh Thi, nhờ có những bài như Hoàng hạc, ta biết thời xưa (khoảng 621 TCN) hăy có tục tuẫn tử và tùy táng. Bài thơ này đă than khóc cho bi kịch của ba anh em người hiền là Yểm Tức, Trọng Hàng và Kiềm Hổ của gia đ́nh Tử Xa - bầy tôi của Tần Mục Công. Họ bị chôn sống cùng với 167 gia thần khác của nhà vua. Tục lệ dă man đó đă được kiểm chứng qua việc khai quật lăng mộ các đế vương thời Ân. Nơi đây, hàng trăm, hàng ngh́n bộ hài cốt đă được đào lên. Như thế, Hán thi đă giúp chúng ta sống lại được với cả con tim và trí tưởng tượng trước một thảm cảnh xảy ra trong xă hội phong kiến xa xưa. 

Hán thi trong Kinh Thi dần dần đă đạt đến một tŕnh độ tượng trưng cao hơn. Tiếng đốn cây, tiếng chim xao xác gọi đàn (Phạt mộc đinh đinh, Điểu minh anh anh) trong thiên Phạt mộc khiến người ta liên tưởng đến t́nh bạn giữa con người. Thiên Đệ đỗ nói về cây đường lê đứng lẻ loi có ư bày tỏ ḷng người vợ lính nhớ thương chồng đang đồn thú ngoài quan ải. Nội dung Kinh Thi cũng trở nên phong phú hơn trong đề tài và độ dài ví như bài thơ 74 câu nhan đề Sinh dân tŕnh bày câu chuyện bà Khương Nguyên dẫm vào ngón chân cái Thiên Đế mà đẻ ra Hậu Tắc để thuyết minh cho “nguồn gốc con trời” của các nhà cầm quyền nhà Chu.

 

Tiết 4: Sở Từ

Định nghĩa của Sở Từ là “những bài ca của nước Sở”. Sở vốn là một quốc gia nằm ở lưu vực phía Nam sông Dương Tử, trước kia là giang sơn của một chủng tộc không thuộc gốc Hán nhưng đă bị đồng hóa vào thời Xuân Thu Chiến Quốc khi người Hán vượt sông Dương Tử để lấn chiếm bờ bên kia. Được tưới mát bởi ḍng nước của Kinh Thi miền Bắc, phương Nam trở thành quê hương của ra một ḍng thơ mới là Sở Từ. Nếu mảnh đất màu vàng bạt ngàn, khô khốc và lạnh lẽo của phương Bắc đă sinh ra Kinh Thi th́ những đồi núi, thung lũng, sông rạch của miền Nam ấm áp và ẩm thấp là phong thổ tạo nên Sở Từ.

Thời đại của Kinh Thi chấm dứt vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Thời của Sở Từ bắt đầu khoảng ba trăm năm sau đó. Nhà thơ quan trọng và c̣n lưu danh lại với đời sau của giai đoạn này là Khuất Nguyên.

Thơ Sở Từ thường là câu sáu chữ với nhịp ngắt quăng sau chữ thứ ba. Sau chữ ấy, người ta ngừng lại và đặt vào đó một hư tự là “hề” (các cụ ta dịch là “chừ“) như thể lấy hơi. Ta có thể thấy h́nh thức này qua những bài thơ của Khuất Nguyên như Tương phu nhân.
 

 

Đế tử giáng hề bắc chử,
Mục miễu miễu hề sầu dư.
Niệu niệu hề thu phong,
Động Đ́nh ba hề mộc diệp há.

(Trích Tương phu nhân)

 


Tuy vậy cũng có bài giữ h́nh thức bốn chữ như Thiên vấn hay trường đoản cú theo lối kể chuyên trong Ngư phụ:
 

 

Cửu thiên chi tế,
An phóng an thuộc.
Ngung ngung đa hữu,
Thùy tri kỳ số.

(Trích Thiên vấn)  

Khuất Nguyên viết,
Ngô văn chi,
Tân mộc giả tất đàn quan,
Tân dục giả tất chấn y.
An năng dĩ thân chi sát sát,
Thụ vật chi môn môn giả hồ.
Ninh phó Tương lưu,
Táng ư giang ngư phúc trung.

(Trích Ngư phụ)

 

 

Khuất Nguyên (343 TCN-289 TCN) tên thật là B́nh, quí tộc nước Sở , một trong thất hùng thời Chiến Quốc (Tần, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề, Sở). Vào một thời kỳ mà mạnh được yếu thua, v́ ưu tư cho vận mệnh của nước ḿnh, ông nhiều lần can gián vua không nghe và c̣n bị lưu đày nên cuối cùng đă phẫn uất, tự trầm ở vực sông Mịch La. Trong các tác phẩm ông để lại, kiệt xuất hơn cả là Ly Tao (Gặp chuyện ưu phiền), một trường ca.

 

Tiết 5: Sở điệu ca

Năm 221 TCN, Tần gồm thâu lục quốc, xây dựng cung điện, đắp Vạn lư trường thành, đốt sách chôn học tṛ...thi hành chính sách khắc nghiệt, gây căm phẫn trong dân. Hạng Vũ và Lưu Bang cùng nổi lên dẹp bạo Tần nhưng cuối cùng, họ cũng chỉ tranh phong để đoạt lấy thiên hạ cho riêng ḿnh. Hai bài Hán thi nổi tiếng thời đó thác ngụ tâm t́nh Hạng Vũ và Lưu Bang. Đó là Cai Hạ CaĐại Phong Ca, đă được viết ra vào năm 202 TCN bởi kẻ chiến bại và người chiến thắng:
 

 

Lực bạt sơn hề khí cái thế,
Thời bất lợi hề, chuy bất thệ.
Chuy bất thệ hề, khả nại hà,
Ngu hề Ngu hề, nại nhược hà.

(Cai Hạ ca, lời Hạng Vũ)  

Đại phong khởi hề, vân phi dương,
Uy gia hải nội hề qui cố hương.
An đắc mănh sĩ hề thủ tứ phương.
(Đại phong ca, lời Lưu Bang)

 

 

Hai bài thơ này tuy ngắn nhưng đă làm theo giai điệu thấy trong Sở Từ, đặc biệt là sử dụng hư tự “hề” để ngắt nhịp nên được cho là đă làm theo Sở điệu.

 

Tiết 6: Cổ thi thập cửu thủ:

Bẵng đi 200 năm sau hai bài thơ này, mới có những bài thơ đáng chú ư ra đời khoảng cuối đời Tiền Hán bắt sang Hậu Hán. Đến giữa thời Hậu Hán xuất hiện 19 bài nổi tiếng tục gọi là Cổ thi thập cửu thủ. Nhân vật nào đă làm ra chúng vào năm nào tháng nào th́ không ai rơ. Đó là Hành hành trùng hành hành (Chàng đi, đi măi chưa về) nói lên t́nh luyến thương của người vợ đối với chồng đang trên đường viễn du, Điều điều Khiên NgưuTinh (Sao Ngâu phía xa vời) cảm hoài t́nh cảnh chia ly cách trở của Ngưu Lang Chức Nữ trong truyền thuyết, Sinh niên bất măn bách (Đời đâu đến trăm năm) khuyên con người nên sống cho thỏa thích v́ cuộc đời ngắn ngủi. Có những câu mà ai cũng nằm ḷng:
 

 

Hồ mă y bắc phong,
Việt điểu sào nam chi.

(Trích Hành hành trùng hành hành)  

Trú đoản khổ dạ trường,
Hà bất bỉnh chúc du.

(Trích Sinh niên bất măn bách)

 

 

Tiết 7: Cổ nhạc phủ

Trong thơ đời Hán, Cổ nhạc phủ chiếm một vị trí quan trọng. Nhạc phủ là công sảnh lo về nhạc, có nhiệm vụ thu thập những bài ca trong dân gian và ghi chép thành nhạc phổ để tŕnh tấu. Thế nhưng với thời gian, bộ phận âm nhạc thất lạc chỉ c̣n lại ca từ. Dấu tích của âm nhạc có thể thấy trong cách bố trí câu chữ hoặc đồng đều hoặc tự do... của khúc hát. Chúng ta có thể thấy qua vài ví dụ như Chiến thành nam (Đánh nhau ở thành nam), Dới lộ ca (Bài hát về sương đầu lá kiệu), Hao lư khúc (Khúc ca trong đám cỏ ngải), Cô nhi hành (Khúc hát về trẻ mồ côi), Mạch thượng tang (Cây dâu trên bờ ruộng), Thập ngũ tùng quân hành (Mười lăm tuổi đăng lính):
 

 

Chiến thành nam,
Tử quách bắc.
Dă tử bất táng ô khả thực,
Vi ngă điệu ô.
Thả vị khách hào
Dă tử lượng bất táng
Hủ nhục an năng khứ liễu đào.
Thủy thanh kích kích,
Bồ vi minh minh.
Kiêu kỵ chiến đấu tử,
Nô mă bồi hồi minh

(Chiến thành nam)  

Dới thượng lộ,
Hà dị hi.
Lộ hi minh triêu cánh phục lạc,
Nhân sinh nhất khứ hà th́ qui.

(Dới lộ ca)  

Cô nhi sinh,
Cô nhi ngộ.,
Sinh mệnh đương độc khổ.
Phụ mẫu tại th́,
Thừa kiên xa,
Giá tứ mă
Phụ mẫu dĩ khứ,
Huynh tậu lệnh ngă hành cổ.
Nam đáo Cửu Giang,
Đông đáo Tề dữ Lỗ.
Lạp nguyệt lai qui,
Bất cảm tự ngôn khổ.

(Trích Cô nhi hành)  

Thập ngũ tùng quân chinh,
Bát thập thủy đắc qui.
Đạo phùng hương lư nhân,
Gia trung hữu a thùy.
Dao vọng thị quân gia,
Tùng bách trũng luy luy.

(Trích Thập ngũ tùng quân hành)

 

 

Qua những bài cổ nhạc phủ, chúng ta thấy như hiện ra trước mắt cảnh tượng đương thời và tiếng than thở của nguời thường dân trước thảm cảnh xă hội và chiến cuộc liên miên.

 

Tiết 8: Khi những nhà thơ thực sự xuất hiện

Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (220-589), thơ bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Đề tài phong phú và cách diễn tả trở nên đa dạng. Cho đến lúc ấy nếu thơ được truyền lại là những bài dân ca của các tác giả vô danh th́ kể từ đây, đă có những người chuyên chú vào việc làm thơ. Điều đó đă nâng cao chất lượng của Hán thi. Tuy là một thời ly loạn, không ổn định về mặt chính trị nhưng văn chương nghệ thuật th́ đă thực sự đơm bông kết trái.

Trước tiên, trong đám thi nhân hữu danh thuở ấy, phải kể đến Tào Thực (192-232), con trai Tào Tháo, người sáng lập ra vương triều Ngụy. Chúng ta c̣n nhớ tài bảy bước thành thơ của con người hào hoa phong nhă đó trong bài Thất bộ thi khi bị anh là Văn Đế Tào Phi bức bách:
 

 

Chử đậu tŕ tác canh,
Lộc chi dĩ vi trấp.
Ky tại phủ hạ nhiên,
Đậu tại phủ trung khấp.
Bản thị đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp.

(Thất bộ thi)

 

 

Thực c̣n có những danh tác khác như Danh đô biên ca ngợi cuộc sống hào nhoáng ở thành phố Lạc Dương, Mỹ nhân biên nói về nỗi ḷng thầm kín khi đứng trước người đẹp tuyệt thế, Hu ta biên, than thở cho tấm thân lưu lạc...Bài nào cũng dài từ 24 đến 30 câu. Xin trích vài câu của Bạch mă biên, một trong những tác phẩm đó:
 

 

Bạch mă sức kim ky,
Liên phiên Tây Bắc tŕ.
Tá vấn thùy gia tử,
U, Tinh du hiệp nhi.
Thiếu tiểu khứ hương ấp,
Dương thanh sa mạc thùy.
Túc tích bỉnh lương cung,
Khổ thỉ hà sân si.
Khống huyền phá tả đích,
Hữu phát thôi nguyệt chi.
Ngưỡng thủ tiếp phi nhu,
Phủ thân tản mă đề.
Giảo thiệp quá hầu viên,
Dũng phiêu nhược báo ly.

(Trích Bạch mă biên)

 

 

Đây là h́nh ảnh của người dũng sĩ. Đoạn đầu tả cảnh một thiếu niên anh hùng đất U Châu (Bắc Kinh bây giờ), sớm rời quê hương để lên đường viễn chinh rồi chuyển qua phần sau nói về thái độ hiên ngang của người tuổi trẻ ấy khi ra chiến trường, quên cha mẹ vợ con và coi cái chết như... đi về nhà:
 

 

Biên thành đa cảnh cấp,
Hồ lỗ số thiên di.
Vũ hịch tùng bắc lai,
Lệ mă đăng cao đê.
Trường khu đạo Hung Nô.
Tả cố lăng Tiên Ti.
Khí thân phong nhận đoan,
Tính mệnh an khả hoài.
Phụ mẫu thả bất cố,
Hà ngôn tử dữ thê.
Danh biên tráng sĩ tịch,
Bất đắc trung cố tư.
Tổn khu phó quốc nạn,
Thị tử hốt như qui.

(Trích Bạch mă biên)

 

 

Tuy có thể bị buộc tội là những vần thơ ca tụng chiến tranh nhưng quả là thi ca của quí tộc Lạc Dương đă đem đến một cái ǵ mới mẻ chưa từng thấy nếu đem so với những bài thơ của người b́nh dân được biết cho đến thời ấy.

Cùng thời Ngụy Tấn với Tào Thực c̣n có những nhà thơ đáng kể khác như Vương Xán (177-217) với Thất ai thi, Nguyễn Tịch (210-263) với Vịnh hoài thi, Tả Tư (250-305) với Kiều nữ thi. Họ Tả chính là tác giả của Tam đô phú, được vị tiền bối thời ấy là Trương Hoa không hết lời khen ngợi. Áng văn hay này đă khiến thiên hạ đua nhau chép làm cho giá giấy trong thành Lạc Dương tăng vọt.

 

Tiết 9: Đào Uyên Minh và thơ điền viên

Một nhân vật sáng chói trên thi đàn sau đó là Đào Uyên Minh (365-427). Họ Đào người Tầm Dương (Giang Tây), tuy ḍng dơi thế gia nhưng thời trẻ nghèo khổ, học vấn cao mà không chen nổi vào xă hội quí tộc. Với bản tính yêu thích cuộc sống tự do, không ràng buộc, Đào đă sớm treo ấn từ chức huyện lệnh Bành Trạch về sống cuộc đời ẩn dật, vui thú điền viên. Ông để lại nhiều bài Hán thi nổi tiếng phản ánh cuộc sống nhàn dật của ḿnh như Ẩm tửu, Qui viên điều cư và nhất là Qui khứ lai từ với lời mời mọc “Về đi thôi !”(Qui khứ lai!) đă trở thành bất hủ:
 

 

Qui khứ lai hề,
Điền viên tương vu.
Hồ bất qui,
Kư tự dĩ tâm vi h́nh dịch.
Hề trù trướng nhi độc bi,
Ngộ dĩ văng nhi bất gián,
Tri lai giả chi khả truy,
Thực mê đồ kỳ vị viễn,
Giác kim thị nhi tạc phi.
Chu dao dao dĩ khinh dương,
Phong phiêu phiêu nhi suy y.
Vấn chinh phu dĩ tiền lộ,
Hận thần quang chi hy vi....

           (Quy khứ lai từ, thơ Đào Uyên Minh)

 

 

Về h́nh thức, bài thơ cũng được tŕnh bày theo thể trường đoản cú, câu ngắn xen lẫn câu dài, biểu lộ được sự tự do tự tại trong tâm cảnh của tác giả.

 

Tiết 10: Dân ca Nam Bắc Triều:

Sau đời Tấn, chính trị Trung Quốc rối loạn, chia cắt. Các vương triều Tống, Tề, Lương, Trần thay nhau chiếm cứ vùng Giang Nam, được gọi chung là Nam Triều (420-589). Trước đó, vào cuối đời Đông Tấn, ở gần kinh đô có một người con gái tên là Tư Dạ. Nàng Tư Dạ giỏi về âm nhạc, thường gửi tặng người yêu những bài hát ngắn với các câu 4 chữ. Nhân v́ chúng có h́nh thức ngắn ngọn và giọng điệu thanh tao nên dễ lưu hành. Văn nhân đời sau thường mô phỏng h́nh thức đó để viết những bài Tư Dạ Ca hay Tư Dạ Ngô Ca (v́ vùng này xưa thuộc nước Ngô). Nội dung thường là bày tỏ t́nh cảm nhớ nhung giữa nam nữ:

 

 

Tự tùng biệt hoan hậu,
Thán âm bất tuyệt hưởng.
Hoàng bá hướng xuân sinh,
Khổ tâm tùy nhật trưởng.  

Thùy năng tư bất ca,
Thùy năng cơ bất lương.
Nhật minh đương hộ ỷ,
Trù trướng để bất ức.

(Tư Dạ tứ thời ca)

 

 

Trong khi dân ca Nam Triều ủy mị. nữ tính như thấy trong những bài Tư Dạ Ca vừa kể th́ dân ca Bắc Triều hùng tráng, nam nhi. Điều đó có thể thấy qua ca từ các bài Lang Nha Vương ca, Sắc Lặc[1] ca, Chiết dương liễu ca từ, Lũng đầu ca từ, Mộc Lan thi. Bài cuối này một trường ca viết theo thể thơ chủ yếu là ngũ ngôn, có tính cách tự sự, nói về việc nàng Mộc Lan - một người con gái thời Bắc Ngụy (thế kỷ thứ 5) - giả trai đi tùng quân thế cho cha già.
 

 

Tân mại ngũ xích đao,
Huyền trứ trung lương trụ.
Nhất nhật tam ma sa,
Kịch vu thập ngũ nữ.

(Lang Nha Vương ca)  

Kiện nhi tu khoái mă,
Khoái mă tu kiện nhi.
Tất bạt hoàng trần hạ,
Nhiên hậu biệt hùng thư.

(Chiết dương liễu ca từ)  

Triêu phát Hân thành,
Mộ túc Lũng đầu.
Hàn bất năng ngữ,
Thiệt quyển nhập hầu.

(Lũng đầu ca từ)  

Vạn lư phó nhung ky,
Hàn sơn độ nhược phi.
Sóc khí truyền kim thác,
Hàn quang chiếu thiết y.
Tướng quân bách chiến tử,
Tráng sĩ thập niên qui.

(Trích Mộc Lan thi)

 

 

Khi đọc dân ca Nam Bắc Triều, ta nhận ra rằng sự khác nhau về phong thổ và văn hoá hai miền đă tạo ra tính chất đối nghịch. Đến khi Tùy Đường thống nhất thiên hạ, chúng sẽ hấp thụ rồi ḥa hợp vào nhau để trở thành nguyên động lực cho một thi phong mới.

 

Tiết 11: Sơ Đường

Ba trăm năm nhà Đường (618-907) là một thời thi ca đạt đến đỉnh cao. Thời kỳ từ đầu thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ thứ 10 tương ứng với các triều đại Asuka, Nara và Heian sơ kỳ của Nhật Bản và thời Bắc thuộc ở Việt Nam trước khi Ngô Quyền dành được nền tự chủ cho quê hương (939). Có thể nói tất cả công phu kỷ xảo và cảm tính của 400 năm thi ca Ngụy Tấn Nam Bắc Triều đă chuẩn bị đầy đủ giúp cho Đường thi hưng thịnh. Thơ Đường giống như một ḍng sông lớn đă tiếp nhận tất cả nước đến từ các phụ lưu và bắt đầu dàn trải rộng răi. Đường thi thật xứng đáng được gọi là tinh hoa của Hán thi.

Đường thi có thể chia ra làm 4 thời kỳ mà 90 năm đầu tiên được mệnh danh là thời Sơ Đường. Thơ thời kỳ này vừa có phong cách hùng tráng của thơ phương Bắc, vừa có phong cách yểu điệu của thơ miền Nam. Sau đó ḍng thơ lớn đó tỏa rộng ra và tỏa thành nhiều chi nhánh với sự đóng góp của nhiều nhà thơ kiệt xuất.

Thi nhân tiêu biểu cho thời Sơ Đựng là Ngụy Trưng (580-643), Vương Bột (649- 675), Lưu Hy Di (651-679):

 

Trung nguyên hoàn trục lộc,
Đầu bút sự nhung hiên.
Tung hoành kế bất tựu,
Khảng khái chí do tồn.
Trượng sách yết thiên tử,
Khu mă xuất quan môn.
Thỉnh anh hệ Nam Việt,
Bằng bức hạ Đông phiên...

(Trích Thuật hoài, thơ Ngụy Trưng)  

Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại,
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.

(Trích Đằng Vương Các, thơ Vương Bột)  

Lạc Dương thành đông đào lư hoa,
Phi lai phi khứ lạc thùy gia.
Lạc Dương nữ nhi tích nhan sắc,
Hành phùng lạc hoa trường thán tức.
Kim niên hoa lạc nhan sắc cải,
Minh niên hoa khai phục thùy tại...  

Nhất triêu ngọa bệnh vô tương thức,
Tam xuân hành lạc tại thùy biên.
Uyển chuyển nga mi năng kỷ th́,
Tu du hạc phát loạn như ti.
Đản khán cổ lai ca vũ địa,
Duy hữu hoàng hôn điểu tước bi.

        (Trích Đại bi bạch đầu ông, thơ Lưu Hy Di)

 

Thơ Ngụy Trưng hùng hồn, đầy khí thế của một con người sinh ra vào thời mở nước (lại còn phảng phất tham vọng bành trướng nữa) nhưng ngược lại, hai ông Vương Bột và Lưu Hy Di dù tuổi c̣n trẻ mà đă mang những nỗi buồn sâu sắc về lẽ vô thường của cuộc đời.

 

Tiết 12: Thịnh Đường

Sau 90 năm của thời Sơ Đường là 55 năm Thịnh Đường, thời kỳ thi ca hưng thịnh nhất. Nhà Đường đă đặt được nền mống cho một quốc gia hùng mạnh, phồn vinh. Từ phía Tây, thương nhân và vũ công Ba Tư, La Mă ...t́m đến. Từ phiá Đông, tăng lữ và du học sinh Triều Tiên, Nhật Bản đi sang. Phiá Nam th́ Giao Châu, Lâm Ấp... đến tiến cống. Quốc đô Trường An là thành phố lớn số một trên thế giới vào thời ấy. Thế nhưng sau 30 năm thái b́nh thời Khai Nguyên, đến năm Thiên Bảo th́ vượng khí đă sa sút v́ Đường Huyền Tông xa xỉ huy hoắc, thất nhân tâm và không làm chủ nổi t́nh h́nh để xảy ra cuộc loạn An Sử. Phải mất 8 năm loạn lạc mới b́nh định nhưng nhà Đường đă đánh mất hết hào quang.

 

http://www5a.biglobe.ne.jp/~shici/V3-024.jpg

 

Trong 5 thập niên Thịnh Đường có hai thi nhân nổi tiếng là Lư Bạch (701-762) và Đỗ Phủ (712-770). Riêng hai ông thôi cũng đủ để lại một sự nghiệp đồ sộ gồm mọi thể loại, từ thơ cảm thương, phúng thích, tống biệt, du yến, nhàn cư cũng như tả cảnh thiên nhiên, chiến trường, nói lên tâm sự phản chiến ...Giai đoạn hai ông sống tương xứng với thời Nara ở Nhật Bản khi các ca nhân Vạn Diệp khai triển tài năng thơ quốc âm của họ.

Thơ Lư Đỗ rất nhiều bài c̣n được truyền tụng. Nếu đơn cử một ít thơ họ Lư th́ có thể nói đến ba bài Thanh b́nh điệu từ, Tương tiến tửu, Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng lăng, Tống hữu nhân, Tảo phát Bạch Đế thành, Tư Dạ Ngô ca, Trường Can hành, Sơn trung vấn đáp...
 

 

Trường An nhất phiến nguyệt,
Vạn hộ đảo y thanh.
Thu phong xuy bất tận,
Tổng thị Ngọc quan t́nh.
Hà nhật b́nh Hồ lỗ,
Lương nhân băi viễn chinh.

(Tư Dạ Ngô ca)  

Cố nhân tây từ Hoàng hạc lâu,
Yên ba tam nguyệt há Dương châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

(Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

 

 

Những bài thơ tiêu biểu của Đỗ Phủ là tám bài Thu hứng, Lệ nhân hành, Binh xa hành, Nguyệt dạ, Xuân vọng, Ai giang đầu, Thạch hào lại, Mao ốc vị thu phong phá sở ca, Đăng cao, Đăng Nhạc Dương lâu ...
 

 

Kim dạ Phu châu nguyệt,
Khuê trung chỉ độc khan.
Dao liên tiểu nhi nữ,
Vị giải ức Trường An.
Hương vụ vân hoàn thấp,
Thanh huy ngọc tí hàn.
Hà thời ỷ hư hoảng,
Song chiếu lệ ngân can.

(Nguyệt dạ)  

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai,
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lư bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lạo đảo tân đ́nh trọc tửu bôi.

(Đăng cao)

 

 

Bên cạnh hai ngôi sao sáng vừa kể, không thể không nói đến những nhân tài khác như Vương Duy (699-759), Vương Hàn, Vương Chi Hoán (695 -?), Sầm Tham (715-770), Cao Thích, Mạnh Hạo Nhiên (689-740), Thôi Hạo (? – 754), Vương Xương Linh (700? - 755) ...mỗi người một vẻ. Nếu thơ Vương Duy đượm màu sắc Phật giáo và ảnh hưởng của hội họa th́ thơ Cao, Sầm, Vương Hàn, Vương Chi Hoán sử dụng nhiều chủ đề biên tái, Vương Xương Linh cảm động trước số phận những người đẹp trong cung, Mạnh Hạo Nhiên gần gũi với thiên nhiên và Thôi Hạo cao kỳ phiêu dật.
 

 

Cố viên đông vọng lệ man man,
Song tụ long chung lệ vị can.
Mă thượng tương phùng vô chỉ bút,
Bằng quân truyền ngữ báo b́nh an.

(Phùng nhập kinh sứ, thơ Sầm Tham)  

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
B́nh minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

(Phù dung lâu tống Tân Tiệm, thơ Vương Xương Linh)  

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần,
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

(Tống Nguyên nhị sứ An Tây, thơ Vương Duy)

 

 

Tiết 13: Trung Đường

Sau 50 năm thời Thịnh Đường là đến 70 năm Trung Đường. Ở Nhật, các thi nhân Man.yôshuu (Vạn diệp tập) của triều đ́nh Nara đă nhường bước cho các nhà thơ Kokinshuu (Cổ kim tập). Khi thế Thịnh Đường yếu đi sau khi đạt đến đỉnh cao với những Thi Tiên (Lư Bạch), Thi Thánh (Đỗ Phủ), Thi Phật (Vương Duy) ... nhưng ḍng thơ vẫn được tiếp nối với các nhà thơ lớn như Bạch Lạc Thiên (772-846) và Hàn Dũ (768-824):
 

 

Thiên nhai tảo vũ nhuận như tô,
Thảo sắc dao khan cận khước vô.
Tối thị nhất niên xuân hảo xứ,
Tuyệt thăng yên liễu măn hoàng đô.

(Tảo xuân tŕnh Thủy bộ Trương thập bát viên ngoại, thơ Hàn Dũ)

 

 

Về thơ họ Bạch, được biết đến nhiều nhất có lẽ là những bài như Trường hận ca, Tân Phong chiết tư ông, Hương Lô phong hạ tân bốc sơn cư thảo đường sơ thành ngẫu đề đông bích, Bát nguyệt thập ngũ nhật dạ cấm trung độc trực đối nguyệt ức Nguyên cửu ...
 

 

Nhật cao thụy túc do thung khởi,
Tiểu các trùng khâm bất phạ hàn.
Di Ái tự chung y chẩm thính,
Hương Lô phong tuyết bát liêm khan.
Khuông lư tiện thị đào danh địa,
Tư mă nhưng vi tống lăo quan.
Tâm thái thân ninh thị qui xứ,
Cố hương hà độc tại Trường An.

(Hương lô phong ..., thơ Bạch Cư Dị)  

Ngân đài kim khuyết tịch trầm trầm,
Độc túc tương tư tại Hàn Lâm.
Tam ngũ dạ trung tân nguyệt sắc,
Nhị thiên lư ngoại cố nhân tâm.
Chử cung đông diện yên ba lănh,
Dục điện tây đầu chung lậu thâm.
Do ức thanh quang bất đồng kiến,
Giang Lăng ti thấp túc thu âm.

(Bát nguyệt thập ngũ nhật ..., thơ Bạch Cư Dị)

 

 

Buổi đầu của thời Trung Đường tương ứng với niên hiệu Đại Lịch (766-779) nên trước tiên phải kể đến “Đại Lịch thập tài tử” trong đó có Tiền Khởi, Hàn Hoành và Trương Kế. Phải kể thêm Vi Ứng Vật, Liễu Tông Nguyên (773-819), Nguyên Chẩn, Trương Tịch, Vương Kiến, Lư Hạ ....
 

 

Tiêu tương hà sự đẳng nhàn hồi,
Thủy bích sa minh lưỡng ngạn đài.
Nhị thập ngũ huyền đàn dạ nguyệt,
Bất thăng thanh oán khước qui lai.

(Qui nhạn, thơ Tiền Khởi)  

Xuân thành vô xứ bất phi hoa,
Hàn thực đông phong ngự liễu tà.
Nhật mộ Hán cung truyền lạp chúc,
Thanh yên tán nhập ngũ hầu gia.

(Hàn thực, thơ Hàn Hoành)  

Liêu lạc cổ hành cung,
Cung hoa tịch mịch hồng.
Bạch đầu cung nữ tại,
Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.

(Hành cung, thơ Nguyên Chẩn)  

Lạc Dương thành lư kiến thu phong,
Dục tác gia thư ư vạn trùng.
Hốt khủng thông thông thuyết bất tận,
Hành nhân lâm phát hựu khai phong.

(Thu tứ, thơ Trương Tịch)  

Trung đ́nh địa bạch thụ thê nha,
Lănh lộ vô thanh thấp quế hoa.
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
Bất tri thư tứ tại thùy gia.

(Thập ngũ dạ vọng nguyệt, thơ Vương Kiến)

 

 

Đặc biệt nhà thơ Lư Hạ với phong cách tự do tự tại, ư tưởng tân kỳ, khinh thế ngạo vật, xứng đáng được gọi là “Quỷ tài”. Trong bài thơ sau đây, ông chê cười con người muốn trường sinh bất tử như Tần Thỉ Hoàng, Hán Vũ Đế..., và như thế, đương đầu với định luật thiên nhiên một cách vô vọng:
 

 

Phi quang phi quang,
Khuyến nhĩ nhất bôi tửu.
Ngô bất thức thanh thiên cao,
Hoàng địa hậu.
Duy kiến nguyệt hàn nhật noăn,
Lai tiễn nhân thọ.
Thực hùng tắc ph́,
Thực oa tắc sấu.
Thần quân hà tại,
Thái nhất an hữu...

Tự nhiên lăo giả bất tử,
Thiếu giả bất khốc.
Hà vi phục hoàng kim,
Thôn bạch ngọc.
Thùy tự Nhiệm công tử,
Vân trung kỵ bích lư.
Lưu Triệt Mậu Lăng đa trệ cốt,
Doanh Chính tử quan phí bào ngư.

(Trích Khổ trú đoản, thơ Lư Hạ)

 

 

Tiết 14: Văn Đường:

Văn Đường là giai đoạn hơn 70 năm vào cuối đời Đường. Khí thế thi ca có yếu đi nhưng vẫn sinh sản ra được những nhân tài đặc dị mà thi phong thiên về việc phát huy vẻ đẹp và sự tinh tế, nặng màu sắc cảm thương, hoài cổ. Đỗ Mục (803-852), Lư Thương Ẩn (812-858), Ôn Đ́nh Quân, Vi Trang (836-908), Đỗ Thu Nương ... là những người tiêu biểu:
 

 

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng Hậu Đ́nh Hoa.

(Bạc Tần Hoài, thơ Đỗ Mục)  

Quăng thuyền nhất trạo bách phân không,
Thập tuế thanh xuân bất phụ công.
Kim nhật mấn ti thiền tháp bạn,
Trà yên khinh dướng lạc hoa phong.

(Túy hậu đề thiền viện, thơ Đỗ Mục)  

Viễn thướng hàn sơn thạch kính tà,
Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia.
Đ́nh xa tọa ái phong lâm văn,
Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa.

(Sơn hành, thơ Đỗ Mục)  

Quân vấn qui kỳ vị hữu kỳ,
Ba sơn dạ vũ trướng thu tŕ.
Hà đương cộng tiễn tây song chúc,
Khước thoại Ba sơn dạ vũ th́.

(Dạ vũ kư bắc, thơ Lư Thương Ẩn)  

Tử thành cung điện tỏa yên hà,
Dục thủ vu thành tác đế gia.
Ngọc tỉ bất duyên qui nhật dốc,
Cẩm phàm ưng thị đáo thiên nha.
Vu kim hủ thảo vô huỳnh hỏa,
Chung cổ thùy dương hữu mộ nha.
Địa hạ nhược phùng Trần Hậu Chủ,
Khởi nghi trùng vấn Hậu Đ́nh Hoa.

(Tùy Cung, thơ Lư Thương Ẩn)  

Quán Oa cung ngoại Nghiệp thành tê,
Viễn ánh chinh phàm cận phất đê.
Hệ đắc vương tôn qui ư thiết,
Bất quan xuân thảo lục thê thê.

(Dương liễu chi, thơ Ôn Đ́nh Quân)  

Giang vũ phi phi giang thảo tề,
Lục triều như mộng điểu không đề,
Vô t́nh tối thị Đài thành liễu,
Y cựu yên lung thập lư đê.

(Kim Lăng đồ, thơ Vi Trang)

 

 

Tiết 15: Tống thi:

Sau khi nhà Đường suy vong vào năm 907, thời Ngũ đại thập quốc bắt đầu và kéo dài đến năm 960. Giai đoạn quần hùng cát cứ này chỉ chấm dứt khi nhà Tống thống nhất thiên hạ. Đến đầu thế kỷ 12, Bắc Tống bị vương triều Kim của dân tộc phiá bắc xâm lấn nên phải dời đô từ Biện Kinh (Khai Phong) xuống Lâm An (Hàng Châu). Tiền bán thế kỷ 13, Mông Cổ dấy lên thay thế nước Kim và thành lập nhà Nguyên. Khi Kubilai trị v́, Nguyên tiêu diệt Nam Tống và tiến đánh Việt Nam, Nhật Bản.

Nhà Tống tương ứng với triều Heian trung kỳ cho đến giữa thời Kamakura. Thơ Tống không t́m lại được đỉnh cao của thơ dưới đời Đường nhưng đă bộc lộ nhiều sự mới mẻ. Thứ nhất, thơ mượn nhiều chủ đề đời thường nên phạm vi rộng răi hơn. Hai nữa, nhờ thương nghiệp phát triển, giai cấp thương nhân trở nên giàu có mà giáo dục được phát triển, người đọc sách nhiều ra. Ba nữa, kỹ thuật ấn loát được phát triển nên thi ca có thể qua sách vở đến với mọi người. Con số người làm thơ và số lượng thơ cũng nhiều ra.

Khi thi ca được phổ biến như thế th́ tuy Tống thi không c̣n đọ được với Đường thi về mặt hùng hồn, thống thiết hay mỹ cảm nhưng bù vào đó, nó phản ánh cuộc sống đời thường một cách tinh tế hơn, vừa biết dùng lư trí để phân tích vừa dựa lên t́nh cảm để diễn tả. Ngoài thi, từ là một h́nh thức mới được lưu hành rộng răi. Tuy từ đă có từ đời Đường nhưng đến cuối Đường bước sang Ngũ đại thập quốc mới thực sự phát triển và sẽ đạt đến đỉnh cao dưới thời Tống. Khác với thi, những câu trong từ có độ dài ngắn khác nhau. Về nội dung th́ từ có nhiều nữ tính và thiên về cái đẹp, cái nhẹ nhàng. Chẳng hạn như trong bài từ do một vị vua trong thập quốc, Nam Đường hậu chủ Lư Dục (937-978) viết, thấy nói lên được nỗi buồn của đời mất nước, lưu vong:
 

 

Liêm ngoại vũ sàn sàn,
Xuân ư lan san.
La khâm bất nại ngũ canh hàn,
Mộng lư bất tri thân thị khách,
Nhất hướng tham hoan.
Độc tự mạc bằng lan,
Vô hạn giang san.
Biệt thời dung dị kiến thời nan.
Lưu thủy lạc hoa xuân khứ dă,
Thiên thượng nhân gian.

(Lăng đào sa lệnh, thơ Lư Dục) 

 

 

Về thơ th́ thời Tống có những nhà thơ đáng chú ư như Lâm Bô (967-1028), Mai Nghiêu Thần (1002-1060), Tư Mă Quang (1019-1086), Vương An Thạch (1021-1086), Tô Thức (1036-1101) Hoàng Đ́nh Kiên (1045-1105) Trần Sư Đạo (1053-1101), Lục Du (1125-1209), Phạm Thành Đại (1126-1193) Dương Vạn Lư (1127-1206) và Chu Hy (1130-1200):
 

 

Chúng phương dao lạc độc huyên nghiên,
Chiêm tận phong t́nh hướng tiểu viên.
Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,
Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn.

(Sơn viên tiểu mai, thơ Lâm Bô)  

Tứ nguyệt thanh ḥa vũ sạ t́nh,
Nam sơn đương hộ chuyển phân minh.
Cánh vô liễu nhứ nhân phong khởi,
Duy hữu qú hoa hướng nhật khuynh.

(Khách trung sơ hạ, thơ Tư Mă Quang)  

Giản thủy vô thanh nhiễu trúc lưu,
Trúc tây hoa thảo lộng xuân nhu.
Mao diêm tương đối tọa chung nhật,
Nhất điểu bất đề sơn cánh u.

(Chung sơn tức sự, thơ Vương An Thạch)  

Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim,
Hoa hữu thanh hương nguyệt hữu âm.
Ca quản lâu đài thanh tế tế,
Thu thiên viện lạc dạ trầm trầm.

(Xuân dạ, thơ Tô Thức)  

Thủy quang liễm diễm t́nh phương hảo,
Sơn sắc không mông vũ diệc kỳ.
Dục bả Tây hồ tỉ Tây tử,
Đạm trang nồng mạt tổng tương nghi.

(Ẩm hồ thượng sơ t́nh hậu vũ, thơ Tô Thức)

 

 

Nếu trong các bài trên, Lâm Bô, Tư Mă Quang, Vương An Thạch, Tô Thức mượn cảnh vật để nói lên tâm trạng th́ dưới đây, Hoàng Đ́nh Kiên gửi thư cho Hoàng Kỷ Phục tỏ ḷng tưởng nhớ người bạn ở phương trời xa, Trần Sư Đạo nói lên kiếp sống của con nhà nông và có phong vị thơ Đỗ Phủ, Lục Du bày tỏ nỗi nhớ nhung người yêu dấu là nàng Đường Uyển khi trở về khu vườn cũ (Trầm viên) cũng như ước mơ phục quốc trong bài thơ dặn ḍ con cháu (Thị nhi) và Chu Hy nói lên hoài băo tu học:
 

 

Ngă cư bắc hải quân nam hải,
Kư nhạn truyền thư tạ bất năng.
Đào lư xuân phong nhất bôi tửu,
Giang hồ dạ vũ thập niên đăng.
Tŕ gia đăn hữu tứ lập bích,
Trị bệnh bất kỳ tam chiết quăng.
Tưởng đắc độc thư đầu dĩ bạch,
Cách khê viên khốc chướng yên đằng.

(Kư Hoàng Kỷ Phục, thơ Hoàng Đ́nh Kiên) 

Kê minh nhân đương hành,
Khuyển phệ nhân đương qui.
Thu lai công sự cấp,
Xuất xử bất đăi th́.
Tạc dạ tam xích vũ,
Táo hạ dĩ sinh nê.
Nhân ngôn điền gia lạc,
Nhĩ khổ nhân đắc tri.

(Điền gia, thơ Trần Sư Đạo)  

Thành thượng tà dương họa dốc ai,
Trầm viên phi phục cựu tŕ đài.
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.

(Trầm viên, thơ Lục Du)  

Tử khứ nguyên tri vạn sự không,
Đăn bi bất kiến cửu châu đồng.
Vương sư bắc định trung nguyên nhật,
Gia tế vô vong cáo nải ông.

(Thị nhi, thơ Lục Du)  

Thiếu niên dị lăo, học nan thành,
Nhất thốn quang âm bất khả khinh.
Vị giác tŕ đường xuân thảo mộng,
Giai tiền ngô diệp dĩ thu thanh.

(Ngẫu thành, thơ Chu Hi)

 

 

Tiết 15: Nguyên Minh Thanh
 

Năm 1234, ở phiá bắc Trung Quốc, người Mông Cổ diệt nước Kim của tộc Nữ Chân và mở ra một thời kỳ hung thịnh, ảnh hưởng đến toàn thể đại lục Âu Á. Đế quốc Mông Cổ sau khi lập ra triều Nguyên, năm 1279 đă dẹp Nam Tống rồi thống nhất thiên hạ. Thế nhưng chưa đầy 100 năm sau, tộc Hán ở phiá Nam đă nổi dậy và sự cai trị của nhà Nguyên trên đất Trung Quốc phải kết thúc.

Minh có lẽ là vương triều Trung Quốc duy nhất dấy lên từ phương Nam. Tuy nhiên, 3 thế kỷ sau, các thế lực phương bắc hưng thịnh trở lại và khoảng giữa thế kỷ 17, bộ tộc Măn châu đă nổi dậy, vượt Sơn Hải Quan, lật đổ nhà Minh dựng nên Thanh triều. Nhà Thanh (1616-1912) trị v́ ở Trung Quốc trong khoảng thời gian ở Nhật có Mạc phủ Edo (1603-1868) và chính quyền Minh Trị duy tân (1868-1912).

Kể từ đời Tống, thương nghiệp đă bắt đầu hưng thịnh. Khuynh hướng này vẫn nối tiếp và có hậu quả tốt là giúp cho giáo dục được phát triển, văn hoá phổ cập trong dân chúng. Những bộ môn nghệ thuật như sân khấu và tiểu thuyết nhân đó có những bước tiến dài. Dưới triều Nguyên có Bắc khúc và Nam khúc là những tuồng kịch được ra đời. Đời Minh th́ đến lượt tứ đại kỳ thư là 4 cuốn tiểu thuyết trường biên Thủy Hử, Tây Du, Tam Quốc và Kim B́nh Mai. Đó là chưa kể loại tiểu thuyết ngắn mà con số phải nói rất là đồ sộ. Thơ cũng lan rộng trong tầng lớp thị dân. Họ thành lập những đoàn thể gọi là thi xă, xuất bản những thi tập. Ngựi thích thơ Thịnh Đường, kẻ chuộng thơ Văn Đường hay thơ Tống... Những nhà thơ được yêu thích rất đa dạng, tùy theo khẩu vị người đọc. Không c̣n có một phong cách nào có thể độc chiếm thi đàn. Nhưng cùng lúc, so với thơ Đường Tống th́ càng ngày, khí thế của thơ suy yếu đi. May thay, có một vài thi nhân xuất sắc nhưng lẻ loi đă xuất hiện để giúp thi đàn khỏi rơi vào chỗ tầm thường.

Chúng ta có thể kể đến Nguyên Hảo Vấn (1190-1257), Cao Khải (Cao Thanh Khâu, 1336-1374), Viên Hoằng Đạo (1568-1610), Ngô Vĩ Nghiệp 1609-1671), Lệ Ngạc (692-1752) ...

Họ Nguyên làm quan dưới thời Kim, sau bị lính Mông Cổ bắt làm tù giải về phía bắc sông Hoàng Hà, trên đường đi, từng chứng kiến cảnh khổ của trăm họ trong thời chiến:
 

 

Đạo bàng cương ngọa măn luy tù,
Quá khứ chiên xa tự thủy lưu.
Hồng phấn khốc tùy Hồi Hột mă,
Vị thùy nhất bộ nhất hồi đầu.
 
Bạch cốt tung hoành tự loạn ma,
Kỷ niên tang tử biến long sa.
Chỉ tri Hà Sóc sinh linh tận,
Phá ốc sơ yên khước sổ gia.

(Quí Tị ngũ nguyệt tam nhật bắc độ, thơ Nguyên Hảo Vấn)

 


C̣n như Cao Khải, ông là ngựi cuối Nguyên đầu Minh. Tuy ra phụng sự Minh triều và trở thành nhà thơ số một đương thời nhưng v́ làm phật ư hoàng đế, phải lănh án tử h́nh năm mới 39 tuổi. Thơ ông theo phong cách đời Đường, có bài hùng tráng như khi ca ngợi cảnh vật đất Kim Lăng (Nam Kinh), có bài nhẹ nhàng như khi rong thuyền đến thăm một người bạn đang ở ẩn:
 

 

Thạch Đầu thành hạ đào thanh nộ,
Vũ kỵ thiên quần thùy cảm độ.
Hoàng kỳ nhập Lạc cánh hà tường,
Thiết tỏa hoành giang vị vi cố.
Tiền Tam Quốc,
Hậu Lục Triều.
Anh hùng thừa th́ vụ cát cứ,
Kỷ độ chiến huyết lưu hàn triều...

(Trích Đăng Kim Lăng Vũ Hoa đài vọng đại giang, thơ Cao Khải)  

Độ thủy phục độ thủy,
Khán hoa hoàn khán hoa.
Xuân phong giang thượng lộ,
Bất giác đáo quân gia.

(Tầm Hồ ẩn quân, thơ Cao Khải)

 

 

Viên Hoằng Đạo tức Viên trung lang, người thứ hai trong ba anh em danh sĩ, cùng với anh là Tông Đạo và em là Trung Đạo được xưng tụng là Công An tam Viên v́ đều sinh ở huyện Công An tỉnh Hồ Bắc. Liễu Lăng, đề tài của bài thơ sau đây là một cảnh hồ đẹp ở quê nhà họ. Thơ Hoằng Đạo có phong vị Đường Tống và dễ đến với đại chúng chẳng khác Bạch Lạc Thiên và Tô Đông Pha.
 

 

Giả mị nhật cao thung,
Thanh sơn lạc chẩm trung.
Thủy hàm thương tiên sắc,
Song măn bích trù phong.
Thích tính doanh hoa thạch,
Thư phương khứ điểu trùng.
Tửu nhân đa đạo lữ,
Túy lư dă đàm không.

(Liễu Lăng tạp vịnh, thơ Viên Hoằng Đạo)

 

 

Còn Ngô Vĩ Nghiệp, hiệu Mai Thôn, người cuối Minh đầu Thanh, tuy làm thơ tả cảnh Uyển hồ khi đi chơi ở Chiết Giang nhưng man mác một niềm cảm khái thời thế. Ngô tuy là thi nhân có tài nhưng bị chỉ trích là thiếu khí tiết v́ làm quan hai triều.
 

 

Lạc nhật t́nh hồ phóng tiếp hồi,
Cố nhân tằng thử cộng đăng đài.
Phong lưu đốn tận khê sơn cải,
Phú quí hà thường tiêu quản ai.
Yến khứ kỹ đường hoang mạn hợp,
Vũ xâm linh các dă đường khai.
Đ́nh nhiêu khứ vọng yên thâm xứ,
Kư đắc đương niên tái tửu lai

(Uyển hồ cảm cựu, thơ Ngô Vĩ Nghiệp)

 

 

Một nhà thơ khác nổi tiếng thời Thanh Khang Hy - Càn Long là Lệ Ngạc (1692-1752). Ông không có duyên với quan trường v́ thất bại trong khoa cử, sống một đời bất đắc chí. Thơ ông có phong thái nhàn nhă thanh cảnh, đă để lại dấu ấn trong Hán thi Nhật Bản.
 

 

Mạn thoát xuân y hoán tửu hồng,
Giang Nam tam nguyệt tối đa phong.
Lê hoa tuyết hậu đồ mi tuyết,
Nhân tại trùng liêm thiển mộng trung.

(Xuân hàn, thơ Lệ Ngạc)

 

 

Tiết 16: Hán thi thời đại mới

Cuối đời Thanh, sau Chiến Tranh Nha Phiến, loạn Thái B́nh Thiên Quốc và Chiến tranh Nhật Thanh, Trung Quốc bị liệt cường xâu xé và lâm vào cảnh loạn lạc v́ c̣n bị tranh chấp từ bên trong. Những cuộc đấu tranh và ước vọng cải cách để hủy bỏ chế độ phong kiến kéo dài từ hai thiên niên kỷ để đánh thức con sư tử đang ngủ đă dẫn đến cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911). Sau đó Hoàng đế Tuyên Thống của nhà Thanh thoái vị và nước Trung Hoa Dân Quốc ra đời.

Văn học thời ấy do đó đă có nhiều màu sắc chính trị với ước mơ cải cách. Thơ không c̣n được xem như là công cụ tiêu khiển mà nhắm vào những mục đích tích cực hơn. Một cuộc cách mạng thi ca về h́nh thức lẫn nội dung đă bắt đầu khoảng năm 1910. Đến năm 1917, phong trào băi bỏ h́nh thức cũ, sử dụng văn nói thay cho văn viết đă lan ra rộng răi. Đó là ḍng thơ tự do. Tuy nhiên người Trung Quốc lúc ấy không bỏ được các thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn đă có tự thời xưa cho nên sau đời Thanh, vẫn c̣n nhiều người làm theo lối cũ. Có điều là thể chế chính trị cũ đă băng hoại, chế độ giáo dục cũ cũng sụp đổ nhanh chóng cho nên Hán thi thời ấy đă khác xưa. Số người làm thơ ít đi và lớp độc giả cũng thưa thớt dần. Hán thi lúc đó nói chung là rơi vào cảnh “b́nh cũ rượu mới”.

Hoàng Tôn Hiến (1848-1905) được coi như nhà thơ tiêu biểu cho thời kỳ này. Ông là một nhà ngoại giao, từng là công sứ ở Nhật khoảng năm Meiji 10 đến Meiji 15, lúc mới ngoài 30 tuổi. Ông am hiểu nước Nhật. Trong tác phẩm của ông, có những bài khá đặc biệt nói về Nhật Bản thời đó nhưng với giọng phúng thích hơn là đồng t́nh.
 

 

Ngọc tường cựu quốc kỷ duy tân,
Vạn pháp tùy phong thúc chuyển luân.
Trữ trụ tuy không y phục xán,
Đông nhân doanh đắc tự Tây nhân.

(Nhật Bản tạp sự thi, thơ Hoàng Tôn Hiến)

 

 

Hán thi thời đại mới c̣n có một tác giả quan trọng là Lỗ Tấn (1881-1936), từng du học Nhật Bản. Ông vẫn được coi như đệ nhất văn hào Trung Quốc của thời hiện đại, có những bài Hán thi nhắc lại cảnh đấu tranh chính trị và đàn áp vào thời đó:
 

 

Quán ư trường dạ quá xuân th́,
Khiết phụ tuơng sồ mấn hữu ti.
Mộng lư y hi từ mẫu lệ,
Thành đầu biến huyễn đại vương kỳ.
Nhăn khan bằng hữu thành tân quỉ,
Nộ hướng đao biên mịch tiểu thi.
Ngâm băi đê mi vô tả xứ,
Nguyệt quang như thủy chiếu truy y.

(Vi liễu vong khước đích kỷ niệm, thơ Lỗ Tấn)  

Vận giao hoa cái dục hà cầu,
Vị cảm phiên thân dĩ bính đầu.
Phá mạo già nhan qua náo thị,
Lậu thuyền tái tửu phiếm trung lưu.
Hoành mi lănh đối thiên phu chỉ,
Phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu.
Đoá tiến tiểu lâu thành nhất thống,
Quản tha đông hạ dữ xuân thu.

(Tự trào, thơ Lỗ Tấn)

 

 

Như thế, từ giáp cốt văn thời Ân cho đến Lỗ Tấn, Hán thi đă là một ḍng sông lớn chảy xuyên thời đại. Nh́n suốt 3.200 năm của Hán thi có thể tóm gọn là ngoài Đường thi là nổi bật và sâu dày, Tống thi c̣n giữ được ảnh hưởng chứ kể từ đời Nguyên về sau, Hán thi đă cạn dần nguồn nước. Dầu vậy, nói chung thì qua bao nhiêu thế kỷ, Hán thi đã là một ḍng sông lớn, thẩm thấu vào văn hoá Trung Quốc và thường xuyên bồi đắp cho nó.

 

Tiết 17: Tân thi, Hán thi hiện đại hoá
 

Chính ra, người Trung Quốc không dùng danh từ Hán thi hay Hán văn như chúng ta. Họ chỉ phân biệt “Cựu thi” và “Tân thi”, như khi nói đến văn xuôi th́ phân biệt “Văn ngôn” với “Văn bạch thoại”. Cựu thi là thơ định h́nh, nhiều qui tắc, Tân thi là thơ h́nh thức bất định, có thể xem là tự do như văn nói.

Dù bảo thế, nếu có vốn liếng cổ điển, người Trung Quốc ngày nay khi cần thiết vẫn viết được Hán thi kiểu cổ (Cựu thi). Nhà nghiên cứu Itsukai Tomoyoshi trong tác phẩm Hán thi nhập môn (1998) của ông cho biết nữ danh ca Teresa Teng (Đặng Lệ Quân) người Đài Loan là một trong những kẻ có năng lực ấy. Ông kể lại như thí dụ trường hợp một người Trung Quốc vốn là cô nhi Nhật Bản bị cha mẹ bỏ lại bên đó hồi thế chiến thứ 2, khi đáp xuống phi trường Narita nh́n thấy quê hương của cha mẹ đă biết làm ra một bài thơ chữ Hán nhan đề “Qui quốc”. Itsukai còn trích đăng bài thơ lưu biệt sau đây mà một thanh niên Trung Quốc, học tṛ ông và du học sinh tại Nhật Bản tặng ḿnh khi lên đường về nước:
 

 

Tinh di vật hoán bát xuân thu,
Tuyết
án huỳnh song tự thủy lưu.
Hoa
Hạ cổ kim giai học vấn,
Phù
Tang nội ngoại diệc tham cầu.
Sơn
dao địa động thiên vô hạn,
Tâm
khoáng thần di nhân hữu trù.
Đăi
đáo anh hoa hàm tiếu nhật,
Tái
lai tiên đảo túng hoành du.

(Tất nghiệp qui quốc lưu biệt chư sư hữu)

 

 

Bài thơ cho thấy người sinh viên này đă hoàn tất 8 năm học (tuyết án huỳnh song, bát xuân thu) trên đất Nhật (Phù Tang), đă từng trải qua kinh nghiệm động đất năm 1995 vùng Hanshin (sơn dao địa động) và mong có ngày trở lại cái đất nước đẹp đẽ thần tiên (tái lai tiên đảo) để ngắm hoa anh đào (anh hoa hàm tiếu nhật) và du lịch đó đây (túng hoành du).

 

Phần II: Nhật Bản tiếp xúc với Hán thi :
 

Nhật Bản đă thu nhận một cách gián tiếp nguồn thơ chữ Hán từ khi du nhập văn minh Trung Quốc, có lẽ từ thế kỷ thứ 5, tương ứng với thời Quy khứ lai từ của Đào Uyên Minh. Các thế kỷ 7, 8, 9...thương nhân, học tăng qua lại đă đem về nhiều tin tức và sách vở. Nhờ thế, Nhật Bản tiếp nhận được ảnh hưởng của đại lục trên nhiều phương diện như tư tưởng học thuật, kỹ thuật, văn chương, kể cả thi ca. Tuy có một độ lệch chậm đi khoảng 50 năm do thời gian cần thiết để phổ cập và tiêu hoá nhưng ảnh hưởng đó khá đều đặn.  

Người Nhật Bản không nói được tiếng Trung, vẫn ngâm nga được thơ chữ Hán bằng cách đảo ngược vị trí câu chữ và đặt thêm trợ từ dù họ không thể đọc thẳng với đầy đủ bằng trắc và âm vận như người Việt chúng ta.

Hán thi đă thấm đẫm trong văn học và văn hoá Nhật Bản. Những áng văn cổ điển như Man.yôshuu và Genji Monogatari đều vận dụng Hán thi. Những bài yết, bài kệ của Phật giáo, Thiền gia, sân khấu Nô, thư đạo, ngâm vịnh, đâu đâu mà chẳng phảng phất hương vị Hán thi. Có điều đáng tiếc là nền giáo dục Nhật Bản hậu chiến không c̣n đặt nặng vai tṛ của Hán văn nên sinh viên học sinh hết biết thưởng thức Hán thi, cùng lắm chỉ có kiến thức sơ thiển về nó. Sự mai một của kho tàng văn hoá mà tổ tiên người Nhật đă ǵn giữ lâu đời thật là điều đáng tiếc tuy rằng cũng có những lư do lịch sử của nó.

 

Tiết 1: Vài nét về kỹ thuật Hán thi:

Như đă nói, đời Đường là thời đại Hán thi hưng thịnh nhất. Nó kéo dài khoảng 300 năm (thế kỷ 7, 8 và 9) và tương xứng với thời Asuka, Nara và Heian sơ kỳ ở Nhật. Có thể nói vào thời này, cách h́nh thức Hán thi đều đă được qui định. Cho đến lúc đó, người Trung Quốc đă thử đi thử lại nhiều lần các loại h́nh để cuối cùng đi đến một sự đồng thuận. Từ đời Tống trở đi, người ta chỉ làm thơ theo khuôn mẫu đă có sẵn.

Dưới thời Đường, có hai h́nh thức thi ca. Một là Cổ thể thi đă có trước đời Đường và được truyền lại, hai là Cận thể thi được qui định vào đời Đường. Cận thể thi có hai luồng: Tuyệt cú và Luật thi. Cổ thể thi bao gồm cả Nhạc phủ.

Cận thể thi àTuyệt cú (tứ cú) à Ngũ ngôn tuyệt cú / Thất ngôn tuyệt cú.

Cận thể thi àLuật thi (bát cú) àNgũ ngôn luật thi / Thất ngôn luật thi.

Cổ thể thi àCổ thi (số câu tự do) àNgũ ngôn cổ thi / Thất ngôn cổ thi / Tạp ngôn cổ thi

Cổ thể thi à Nhạc phủ.

 

Tiết 2: Tuyệt cú:

Thơ tuyệt cú do 4 câu mà thành và là h́nh thức Hán thi ngắn nhất. Câu đầu gọi là khởi cú, cậu thứ hai gọi là thừa cú, câu ba là chuyển cú và câu thứ tư là kết cú. Tóm lại, nó được sáng tác theo qui luật “khởi-thừa-chuyển-kết”. Ba câu trong 4 câu thường theo một vần, chỉ có câu chuyển là ngược lại. Ví dụ như bài Xuân hiểu của Mạnh Hạo Nhiên:

Khởi: Xuân miên bất giác hiểu,

Thừa: Xứ xứ văn đề điểu,

Chuyển; Dạ lai phong vũ thanh,

Kết: Hoa lạc tri đa thiểu.

Tuyệt cú v́ là thơ ngắn nên khi sáng tác phải dùng nhiều công sức nhưng dư hưởng của nó kéo được lâu dài. Ở điểm này, nó tương đồng với thể thơ Waka và Haiku của Nhật Bản. Về ư nghĩa chữ Tuyệt trong Tuyệt cú có thể hiểu là cắt ra (v́ nó ngắn so với một bài thơ có nhiều liên) hay còn hiểu là h́nh thức tuyệt diệu v́ gói ghém được một nội dung giá trị trong một số câu chữ hạn chế.

http://juppo.up.n.seesaa.net/juppo/image/shungyo.jpg?d=a58660287

Người Nhật dùng Manga để diễn ư Hán thi (bài Xuân hiểu)

 

Tiết 3: Luật thi:

Gồm 8 câu. Hai câu (cú) hợp thành một đôi (liên). Câu 1 và 2 gọi là thủ liên (cái đầu), câu 3 và 4 là hàm liên (quai hàm), câu 5 và 6 là cảnh liên (cần cổ), hai câu 7 và 8 là vĩ liên (cái đuôi). Ví dụ bài Đăng Nhạc Dương Lâu của Đỗ Phủ:

Thủ liên: Tích văn Động Đ́nh thủy / Kim thướng Nhạc Dương Lâu

Hàm liên: Ngô Sở đông nam sách / Càn khôn nhật dạ phù (đối cú)

Cảnh liên: Thân bằng vô nhất tự / Lăo bệnh hữu cô châu (đối cú)

Vĩ liên: Nhung mă quan sơn bắc / Bằng hiên thê tứ lưu.

Đối cú không những đối chữ mà c̣n đối ư là một thủ pháp mà để đạt được, thi nhân Hán thi phải dùng nhiều công phu. Người ta có thể tăng số câu từ 8 lên đến 10 hay nhiều hơn đến cả trăm liên (bộ phận 2 câu một) và áp dụng đối cú trong mỗi liên. Thể thơ đó gọi là bài luật.

 

Tiết 4: Cổ thi:

Cổ thi không có số câu nhất định, có thể dài đến 120 câu như Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị. Số chữ trong câu cũng không bị ràng buộc. Tuy ra đời trước đó nhưng từ đời Đường trở đi vẫn được tiếp tục phát triển. Nói chung, cổ thi là loại thơ không chịu theo qui luật như kiểu Tuyệt cú và Luật thi.

 

Tiết 5: Vần:

Khi làm thơ chữ Hán, người ta bắt buộc phải gieo vần (thi vận) ở cuối một số câu (cước vận). Việc bắt vần ở một số chỗ như thế gọi là áp vận. V́ vần là những chữ có cùng một âm hưởng nên bắt đúng vần th́ câu thơ đọc lên sẽ êm tai hơn. Trong tuyệt cú, vần được bắt ở cuối các câu 1,2 và 4, c̣n trong luật thi th́ vần nằm ở cuối các câu 1, 2,4, 6 và 8 dù rằng có trường hợp câu 1 không cần phải bắt vần. Ví dụ trong bài tuyệt cú nhan đề Tảo phát Bạch đế thành của Lư Bạch th́ vần là gian / hoàn / san:

Triêu từ Bạch Đế thái vân gian,

Thiên lư Giang Lăng nhất nhật hoàn.

Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú,

Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.

C̣n như trường hợp của bài luật thi nhan đề Xuân vọng của Đỗ Phủ th́ vần là thâm / tâm / câm (kim) / trâm:

Quốc phá sơn hà tại,

Thành xuân thảo mộc thâm.

Cảm thời hoa tiễn lệ,

Hận biệt điểu kinh tâm.

Phong hỏa liên tam nguyệt,

Gia thư đề vạn câm (kim).

Bạch đầu tao cánh đoản,

Hồn dục bất thăng trâm.

Tuy nhiên, nếu là bài thơ dài th́ giữa chừng, người ta có thể đổi sang một vần khác. Thủ pháp này gọi là “hoán vận” (đổi vần nửa chừng). C̣n như cứ giữ nguyên một vần từ đầu đến cuối th́ gọi là “nhất vận đáo để” (dùng suốt một vần).

Dĩ nhiên có vần th́ câu thơ đẹp, đọc lên nghe nghe êm tai. Thế nhưng tại sao vần thường đặt ở cuối câu thứ hai. Nhiều người đưa ra giả thuyết cho rằng điều đó phát xuất từ tư tưởng âm dương của Trung Quốc. Thuyết này c̣n có thể áp dụng trong kỹ thuật đối cú nữa.

Trong các từ điển chữ Hán, dưới mỗi chữ, thường có dấu hiệu về âm vận của chúng. Chẳng hạn như 4 chữ Đông, Đồng, Phong, Hồng đều được biết là thuộc vần Nhất Đông. Gọi Nhất Đông chỉ v́ trong bản Bách Lục Thi Vận (106 vần để làm thơ) nó đứng ở vị trí thứ nhất của nhóm Thượng B́nh. Các vần được chia theo 2 loại B́nh và Trắc. Trong loại B́nh có hai nhóm Thượng B́nh và Hạ B́nh. Trong loại Trắc có 3 nhóm Nhập Thanh, Khứ Thanh và Thượng Thanh. Ví dụ:

Thượng B́nh: Nhất Đông, Tam Hồng, Ngũ Vi... tương đương với không dấu và dấu huyền của Việt Nam ta (tổng cộng 15 vần).

Hạ B́nh: Nhất Tiên, Tứ Hào, Lục Ma ... tương đương với không dấu và dấu huyền của ta (tổng cộng 15 vần),

Nhập Thanh: Nhất Ốc, Tam Giác, Lục Nguyệt ... tương đương với dấu sắc và dấu nặng của ta (tổng cộng 17 vần),

Khứ Thanh: Nhất Tống, Lục Vị, Cửu Thái, Tam Thập Hăm ... tương đương với dấu sắc, dấu nặng và dấu ngă của ta (tổng cộng 30 vần)

Thượng Thanh: Nhất Đổng, Tam Giảng, Lục Ngữ... tương đương với dấu hỏi và dấu ngă của ta (tổng cộng 29 vần),

Năm nhóm này hợp lại thành Tứ Thanh (B́nh / Thượng / Khứ / Nhập). Nên nhớ sự tương đương giữa B́nh /Thượng / Khứ / Nhập / Thượng / Hạ trong Hán Thi đối với các dấu và không dấu của ta chỉ là tương đối v́ đây là những âm Hán cổ đă biến dạng theo thời gian và không gian. Chẳng hạn, xưa kia Hán ngữ c̣n có những âm kết thúc bằng p (f), t, k như trường hợp các từ up, it, look trong tiếng Anh nhưng ngày nay chỉ c̣n ba loại ngữ vĩ chính, một là mẫu âm, hai là âm n, ba là âm ng nếu là tiếng Trung Quốc tiêu chuẩn.

Về nguyên tắc gieo vần cho một bài thơ th́ khi ta có các chữ Lưu, Chu, Du, Lưu, Du, Khưu, Hưu, Lâu chẳng hạn, v́ vốn là những chữ có đồng tính chất nên đã có thể chọn ra từ đó một số để sử dụng khi làm một bài thơ như dưới đây:

Độ viễn Kinh Môn ngoại,

Lai tùng Sở Quốc du.

Sơn tùy b́nh dă tận,

Giang nhập đại hoang lưu.

Nguyệt hạ phi thiên kính,

Vân sinh kết hải lâu.

Nhưng liên cố hương thủy,

Vạn lư tống hành chu.

(Độ Kinh Môn tống biệt, thơ Lư Bạch)

 

Tiết 6: Đối cú:

Hai câu thơ được gọi là đối cú trong Hán thi phải theo những qui phạm nghiêm nhặt. Điều kiện thứ nhất là số âm tiết – cũng là số chữ v́ tiếng Trung Quốc vốn đơn âm – phải giống nhau. Ví dụ khi người ta viết theo âm Hán Việt và âm Trung Quốc :

Anh khai (Ying kai) (1+1)

Mai tán (Méi sàn) (1+1)

th́ số âm tiết là 2 đối 2. Thế nhưng trong cùng một trường hợp, đọc sang âm Nhật th́ chúng ta đánh mất sự thăng bằng đó:

Sakura hiraki (3+3)

Ume chiru (2+2)

(Ý nói khi hoa anh đào nở là lúc hoa mơ rụng)

Dĩ nhiên không có sự khác nhau về ư nghĩa nhưng về mặt âm tiết th́ trong cách tŕnh bày theo tiếng Nhật, không thể gọi là “đối cú”.

Điều kiện thứ hai là các chữ dùng phải có chung một tính chất, không những đối xứng (symmetrical) mà c̣n tương phản (contrast) nữa.

“Anh” và “Mai” đều là danh từ và là tên hoa nên đối xứng. Chúng là hai loại hoa khác nhau nên có sự tương phản. “Khai“ và “Tán“ đều là động từ nên đối xứng. Ư nghĩa của chúng lại hoàn toàn ngược nhau nên có sự tương phản.

Tuy vậy, có người đặt câu hỏi: Hai câu “Quốc phá sơn hà tại, Thành xuân thảo mộc thâm” trong bài Xuân vọng của Đỗ Phủ, th́ “phá” (động từ, verb) và “xuân” (danh từ, noun) chẳng lẽ gọi là đối chỉnh hay sao? Người ta mới giải thích rằng “xuân” trong Hán tự vốn có thể xem cùng lúc là động từ, tính từ (h́nh dung từ, adjective), phó từ (trạng từ, adverb) và động từ nữa. Chẳng hạn trong “xuân phong” th́ “xuân“ chỉ là một từ tu sức cho “phong” (danh từ, thể ngôn) nên được xem như một tính từ (h́nh dung từ) theo nghĩa rộng. C̣n như “tử” trong “xuân tử” với cái ư “ chết giữa thời xuân sắc” th́ xuân là phó từ để tô điểm cho động từ “tử” (dụng ngôn).

“Thành xuân” trong bài thơ của Đỗ Phủ ư nói “mùa xuân đă về trên thành Trường An”. Như vậy “xuân” chỉ một trạng thái, t́nh huống và như thế nó là một động từ, theo nghĩa rộng. Trong hai câu sau cũng vậy. Nếu bảo “tại” và “thâm” có đối với nhau không th́ mới nh́n qua ta thấy chúng chúng không đối. “Tại” là động từ trong khi “thâm” là tính từ (h́nh dung từ).Thế nhưng cả hai đều chỉ trạng thái hay t́nh huống của một sự vật nên có tính cách chung. V́ vậy, đối như thế có thể gọi là đối chỉnh.

Điều kiện thứ ba và cuối cùng của đối cú là sự đối xứng không chỉ có giữa một chữ mà còn giữa một cặp chữ. Ví dụ: “Quốc phá” : chủ từ (subject) + thuật từ (predicate) đối được với “Thành xuân” v́ vế này cũng có một quan hệ chủ từ + thuật từ như nó. “Sơn hà” là sự liên kết danh từ + danh từ nên đối được với “thảo mộc” cũng có một sự liên kết tương tự. Ngoài ra “Sơn hà tại” có cấu trúc chủ từ + thuật từ nên đối được với “thảo mộc thâm” vốn đồng tính chất.

Khi hội đủ 3 điều kiện như trên rồi, ta có một đối cú hoàn chỉnh. 

Thế nhưng đến khi đọc một bài thơ như Đăng cao - vẫn của Đỗ Phủ - ta sẽ thấy phép “đối cú” không giản dị như thế. Ví dụ khi xét về 2 câu 3, 4:

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,

Bất tận trường giang cổn cổn lai.

Ở đây, ta thấy giữa “ biên” và “Bất tận” c̣n có một quan hệ đối cú nữa là “sự rộng lớn” và “sự phủ định”. Đó là chưa kể giữa chúng có sự tương phản, bởi v́ một bên là thước đo không gian, một bên là thước đo thời gian.

“Lạc mộc” và”trường giang” sở dĩ đối xứng v́ cùng là danh từ nhưng thêm vào đó, chúng lại có một liên hệ tương phản nữa bởi vì “lạc mộc” là danh từ chung (common noun) trong khi “trường giang” có thể là một danh từ riêng (proper noun) khi ám chỉ Dương Tử Giang. Thêm vào đó “lạc mộc” là 2 âm trắc, đối chọi chặt chẽ với “trường giang” là 2 âm b́nh.”Lạc mộc” trên đỉnh núi chỉ một không gian với chiều thẳng đứng và tĩnh lặng trong khi trường gian chỉ một ḍng thời gian ngang bằng mà di động. “Hai tính từ “tiêu tiêu” và “cổn cổn” cũng đối xứng với nhau và càng tăng hiệu quả khi được lập đi lập lại. “Tiêu tiêu” là âm thanh thính giác thu nhận, “cồn cổn” có hiệu ứng thị giác. Cả “há” và “lai” cũng đối xứng, chúng đều chỉ sự chuyển động theo hai trục tung hoành.

Phân tích từng câu một, từng chữ một như thế, ta mới thấy Đỗ Phủ là một nhà thơ Hán thi kiệt xuất như thế nào. Một kỷ niệm nhỏ: GS Bửu Cầm khi dạy ở ĐHVK Saigon hồi thập niên 1960 có lần cho học trò biết Đăng Cao của Đỗ Phủ đã được độc giả Hongkong bình bầu là bài thơ Đường hay nhất.

 

Tiết 7: Bằng trắc:

Đối với người Trung Quốc và Việt Nam, phân biệt bằng trắc không khó vì nó đã nằm trong bản chất của tiếng nói hai dân tộc nhưng đối với người Nhật là cả một vấn đề. Tuy nhiên họ cũng có cách t́m ra giải pháp. Chẳng hạn biết rằng những chữ Trung Quốc kết thúc bằng p(f), t, k là có âm trắc th́ họ xem chữ ḿnh dùng có âm ấy hay không.

Điệp   Tefu (pf) / Chô

Thiết  鉄 Tetsu (t)

Nhất   一 Ichi (c) / (k)

Mộc   木 Moku (k)

Chúng đều là những âm bị khựng lại, không buông thả nên phải là âm trắc. Vả lại, khi làm thơ, thấy những âm nào được gọi là nhập thanh, khứ thanh, thượng thanh trong mục lục 106 vần cũng có thể tự động hiểu là âm trắc. Sau đây là hai câu thơ biểu diễn luật bằng trắc:

Quốc phá sơn hà tại          =      Trắc trắc b́nh b́nh trắc

Thành xuân thảo mộc thâm   =      B́nh b́nh trắc trắc b́nh

Trong tiếng Trung Quốc hiện đại, quốc là một âm b́nh (guó) kết thúc bằng một mẫu âm, thế nhưng ngày xưa nó kết thúc bằng tử âm k có tính nghẽn tắc nên vẫn được liệt vào âm trắc.

Tuy nhiên, luật bằng trắc không chỉ đơn giản như thế. Có 4 qui tắc cơ bản cần tham khảo:

Phép thứ nhất là trong thơ ngũ ngôn tuyệt cú, có luật “nhị tứ bất đồng” và trong thơ thất ngôn tuyệt cú th́ “nhị tứ bất đồng, nhị lục đối” (và như thế, người ta không bàn đến luật bằng trắc của các âm 1, 3 và 5 (nhất tam ngũ bất luận).

Chữ thứ 2 và thứ 4 trong mỗi câu b́nh trắc phải ngược nhau, chữ thứ 2 và thứ 6 th́ cần giống nhau. Do đó, nếu trong thơ ngũ ngôn th́:

Trắc b́nh b́nh trắc trắc (câu bắt đầu bằng âm trắc, chữ thứ 2 và chữ thứ 4 ngược nhau),

B́nh b́nh trắc trắc b́nh (câu bắt đầu bằng âm b́nh, chữ thứ 4 cũng ngược nhau)

Ví dụ tương xứng:

Ngọc giai sinh bạch lộ (Lư Bạch, Ngọc giai oán)

Minh tiên qua tửu tứ (Trừ Quang Hy, Trường An đạo)

C̣n như trong thơ thất ngôn, nó phải là:

Trắc b́nh b́nh trắc trắc b́nh b́nh

B́nh b́nh trắc trắc b́nh b́nh trắc

Trắc trắc b́nh b́nh trắc trắc b́nh

Trắc trắc b́nh b́nh b́nh trắc trắc

Như chúng ta có thể thấy trong những ví dụ cụ thể:

Cẩm thành ti quản nhật phân phân (Đỗ Phủ, Tặng Hoa Khanh)

Nhân gian tứ nguyệt phương phi tận (Bạch Cư Dị, Đại Lâm Tự đào hoa)

Viễn thướng hàn sơn thạch kính tà (Đỗ Mục, Sơn hành)

Nhất hoàng ly minh thúy liễu (Đỗ Phủ, Tuyệt cú)

Dĩ nhiên, một câu thơ chữ Hán vừa có thể bắt đầu bằng một âm b́nh hay một âm trắc và khép lại bằng một âm trắc hay một âm b́nh tùy trường hợp.

Phép thứ hai của luật bằng trắc là “tị hạ tam liên” nghĩa tránh viết liên tiếp ba âm b́nh (BBB) hay 3 âm trắc (TTT) liên tiếp ở cuối mỗi câu.

Phép thứ ba là “tị cô b́nh” (tránh để một âm b́nh lẻ loi), căn dặn người làm Hán thi không để cho một âm b́nh bị bao vây giữa 2 âm trắc. Trong thơ ngũ ngôn, đó là trường hợp của âm thứ 2 và trong thơ thất ngôn, đó là trường hợp của âm thứ 4 trong câu.

Phép thứ tư là nếu cuối câu chẳn, cước vận là b́nh th́ cuối câu lẻ, chữ không bắt vận phải là trắc.

Áp dụng bốn phép bằng trắc ấy một cách tài hoa, ngoài Đỗ Phủ trong Xuân vọng, c̣n có Vương Duy trong Tống Nguyên nhị sứ An Tây. Thay v́ viết “Khách xá liễu sắc thanh thanh tân” cho đúng tiếng nói thông thường nhưng không có một chút thi vị nào, ông đă biết sắp xếp thành câu thơ bất hủ:

Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.

 

Tiết 8: Thử sắp xếp một giáo trình Hán thi Nhật Bản:
 

Dựa trên những tư liệu Nhật Bản có trong tay, chúng tôi mạn phép thử xếp đặt một giáo trình về lịch sử Hán thi Nhật Bản qua 4 chương chính, xem nó như một bộ phận tất yếu của văn học sử nước này:
 

Chương I: Hán thi cung đình từ thời Asuka đến thời Heian:

-Hai thời đại Asuka và Nara với thi tuyển Hoài Phong Tảo.

-Ba tuyển tập soạn theo sắc chiếu: Kinh Quốc, Lăng Vân, Văn Hoa Tú Lệ.

-Thi ca vương triều: Thiên hoàng Saga và đình thần.

-Thời đại của Sugawara no Michizane.

-Triều đ́nh Thiên hoàng Murakami.

-Triều đ́nh Thiên hoàng Ichijô.

-Thời Heian hậu kỳ.

Chương II: Hán thi từ thời Kamakura đến thời Edo trung kỳ:

-Từ thời Kamakura đến thời Nam Bắc Triều (Nanbokuchô).

-Thời các thiền tăng Ngũ Sơn (Gozan).

-Từ thời Muromachi bước qua thời Chiến Quốc (Sengoku).

-Hán thi Edo sơ kỳ: Ishikawa Jozan, Itô Tôgai, Kinoshita Jun.an.

-Hán thi Edo trung kỳ: Ogyuu Sorai, Hattori Nankaku.

Chương III: Hán thi thời Edo hậu kỳ:

-Các thi xă: Hỗn Độn Thi Xã, Giang Hồ Thi Xã vv...

-Chuyển biến trong thi phong: Kan Chazan, Shaku Ryôkan, Rai Sanyô.

-Thái độ văn nhân trí thức Edo đối với Hán thi.

-Thi nhân thời Bunka và Bunsei: Hirose Tansô, Satô Issai.

-Thơ chữ Hán cuối đời Mạc phủ: Sakuma Shôzan, Yoshida Shôin

-Tính túy (Iki) và tính hài hước trong Hán thi Edo.

Chương IV: Hán thi từ cuối Mạc phủ đến Shôwa:

-Thơ chí sĩ Duy Tân: Itô Hirobumi, Kido, Enomoto, Saigô Takamori.

-Thi đàn Meiji: Ryôhoku, Nogi, Yamagata, Fukuzawa Yukichi.

-Những nhà thơ bất hủ: Sôseki, Ôgai, Buson, Rohan, Kafuu.

-Hán thi thời chiến tranh Đại Đông Á.

-Những nỗ lực bảo tồn di sản Hán thi hiện tại.

 

Tiết 9: Đặc trưng của Hán thi Nhật Bản.

Những đặc trưng này sẽ được khai triển lần lượt trong nhiều bài viết kế tiếp khi chúng ta phân tích Hán thi do người Nhật làm suốt trong ḍng văn học sử nước họ. Tuy vậy, đă có thể gợi ra từ đây một số điểm quan trọng như sau để tiện bề theo dơi:

1-Khác với Hán thi Trung Quốc, Hán thi Nhật Bản khởi đầu bằng thi ca cung đ́nh rồi sau đó nó mới phổ cập trong dân gian chứ không đi từ dân gian vào cung đ́nh như bên Trung Quốc. Lý do là sản phẩm được du nhập nên nó cần phải thông qua tầng lớp trí thức, vừa có học vấn, vừa dễ tiếp cận sách vở vừa nhàn rỗi.

2-Hán thi Nhật Bản bắt đầu với mô phỏng sau mới tiến đến sáng tạo. Qua một thời gian tập sự, họ đă t́m ra đề tài và sắc thái riêng để thoát Hán. Điều này là một khuynh hướng dễ hiểu và đã xảy ra không khác gì ở nước ta.

3-Hán thi Nhật Bản có những thủ pháp đặc trưng của người Nhật như cú đề thi, lăng vịnh vv... một điều chứng được tỏ óc tưởng thượng phong phú và tinh thần chọn lọc của họ. Ví dụ dòng thơ lãng vịnh (rôei) là những câu thơ chữ Hán được dịch một cách nhuần nhuyễn qua Hòa văn để có thể ngâm nga. Nó cũng giống các thi nhân nước Việt như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Phan Huy Vịnh vv…đã làm tan loãng thơ Đường vào trong thơ Nôm hết sức tài tình.

4-Hán thi Nhật Bản là kho tàng cung cấp từ hoa cho các loại h́nh văn nghệ khác của người Nhật như thơ waka, haiku, tuồng Nô...

5-Hán thi Nhật Bản không thể đọc lên trực tiếp và theo thứ tự âm Trung Quốc (âm độc, onyomi) như ở nước ta nhưng phải hoán đổi vị trí câu chữ và c̣n phải sử dụng âm huấn độc (kunyomi) đặc thù của tiếng Nhật. Cùng lúc, người Nhật đánh mất tính âm nhạc của thi vận và đó là một điều đáng tiếc. Ngược lại, nhân vì vẫn sử dụng chữ Hán (Kanji) trong cuộc sống hằng ngày, ít nhất về mặt hình thức, họ dễ tiếp xúc với Hán thi hơn người Việt chúng ta ngày nay.

6-Cũng như ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Hán thi ở Nhật Bản là một loại hình văn nghệ đã suy tàn. Tuy nhiên, các nhà giáo dục trong khoa văn các đại học hay trên các môi thể truyền thông (NHK, Đại học truyền thanh và truyền hình Hôsô Daigaku) cũng như các hội đoàn văn hóa, câu lạc bộ Hán thi …vẫn cố gắng duy trì để giữ gìn nó như một di sản tinh thần.  

Sau bài viết này, xin quí vị tuần tự đọc tiếp hai bài viết khác của chúng tôi: phần I của bài “Thi ca và vương giả Nhật Bản” nói về buổi đầu của Hán thi Nhật Bản nghĩa là giai đoạn từ đời Thiên hoàng Tenmu (trị vì 673-686)) cho đến đời Thiên hoàng Saga (trị vì 809-823), tiếp đó là bài “Hán thi của Sugawara no Michizane” (845-903), giới thiệu một nhà thơ chữ Hán lỗi lạc thời trung đại. Gần đây, cả hai đều đã được đưa lên mạng.

         

Cập nhật tại Tokyo ngày 28 tháng 3 năm 2018

N.N.T. 

 

Thư mục tư liệu tham khảo:

1)     Hayashida Shinnosuke, 2006, Kanshi no kokoro (Hán thi tâm), Kôdansha Gendai Shinsho, Tokyo, xuất bản.

2)     Ikkai Tomoyoshi, 1998, Kanshi Nyuumon (Nhập môn Hán thi), Iwanami Senior Shinsho, Tokyo, xuất bản.

3)     Murakami Tetsumi, 1994, Kanshi to Nihonjin (Thơ chữ Hán và người Nhật), Kôdansha Sensho Mechie , Tokyo, xuất bản.
 


[1] Tên một con sông ở Mông Cổ. Nội dung gợi h́nh ảnh của vùng thảo nguyên biên tái nơi các dân tộc du mục sinh sống.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com