LỊCH SỬ THIỀN TÔNG TRUNG QUỐC

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Dẫn Nhập Của Người Biên Dịch: 

                         Cổ nhân h́nh tự thú,
                        Tâm hữu đạo, thánh đức.
                         Kim nhân diện tự nhân,
                           Thú tâm an khả trắc!

                                                  (Lời người xưa)

 

Trong tiếng Phạn (Sanskrit), từ “Thiền” có ngữ nguyên là dhyâna. Người Trung Hoa đă dịch theo âm thành “Thiền na”. Ư nghĩa “trầm tư mặc tưởng” của nó từ xưa trong sách vở Phật giáo lại được biểu âm bằng hai chữ yoga (du già). Nguyên lai, đạo Bà La Môn vốn dùng chữ này để chỉ trạng thái “thống nhất tinh thần”, rồi sau này Phật giáo cũng tiếp thu ư đó và biểu âm bằng samâdhi (tam muội) để bày tỏ cái “tâm không dao động”. Những chữ nói trên thường được dùng không phân biệt, hầu như đều xem là đồng nghĩa. Nếu dịch ư, ta có thể dùng những từ Hán Việt như “định” hoặc “thiền định”.

Nếu vậy, “thiền” hoặc “thiền định” đều có nguồn gốc phát xuất từ Ấn Độ, như một chữ dùng để chỉ thể nghiệm trầm tư mặc tưởng[1] và thể nghiệm ấy đă đóng một vai tṛ cực kỳ quan trọng ngay từ khi Phật giáo vừa mới h́nh thành. Ví dụ rơ ràng nhất là việc đức Phật Cồ Đàm đă nhờ phương pháp thiền định mà khai ngộ. Sau ngày Phật nhập diệt, các tôn phái Phật giáo Tiểu thừa[2] xem nó là một trong ba môn học (tam học: giới sila, định samâdhi, huệ prajnâ)[3]. C̣n bên Đại thừa, họ lại coi nó như một trong sáu lư tưởng tôn giáo (lục ba-la-mật hay pâramitâ: bố thí dana, tŕ giới sila, nhẫn nhục ksânti, tinh tiến virya, thiền định dhyana, trí huệ prajnâ), mà người tu hành phải đặt ra như mục tiêu. 

Thế nhưng “Thiền” mà chúng ta sẽ cùng nhau t́m hiểu trong những trang tới không hẳn là chữ Thiền chỉ dùng ở Ấn Độ. Dĩ nhiên không phải nó không dính dáng ǵ với nước Ấn nhưng tuy phát xuất từ bên đó, khi phát triển đến Trung Quốc th́ nó đă chịu ảnh hưởng của dân tộc tính rất đặc thù của nước nầy. Người Trung Quốc đă mạnh dạn du nhập Thiền từ Ấn Độ rồi tổ chức lại, sau đó bành trướng hệ thống tư tưởng ấy qua các nước lân cận trong toàn cơi Đông Á. Rốt cuộc, ta nên xem Thiền như một cuộc vận động, một trào lưu tư tưởng mới phải.

Trong ư nghĩa đó, Thiền là Thiền tông, và đây đúng là chữ dùng để gọi các hoạt động cụ thể của các học tṛ đàn con đàn cháu của Bồ Đề Đạt Ma từ thời Nam Bắc Triều, khi ông đến Trung Quốc. Tự buổi đầu, họ đă dùng từ Thiền để đối lập với Phật giáo truyền thống, xem sự ngộ đạo cũng như qui phạm sinh hoạt hàm chứa trong từ đó như biểu tượng cho toàn thể hệ thống tu học của ḿnh.

Khi ư nghĩa của từ Thiền đă thay đổi từ Ấn Độ sang Trung Quốc như thế th́ trong bối cảnh đó, sẽ có sự biến hóa, phát triển về mặt tư tưởng. Đó là điều chúng ta có thể lường trước được. Trên thực tế, trong Thiền Tông đă bắt đầu xuất hiện những yếu tố mà trước đây ta không thấy ở Ấn Độ, thí dụ những phương pháp tu hành đặc thù, thiền vấn đáp, tư tưởng đốn ngộ…chẳng hạn. Chính những yếu tố đó mới chính là nguồn gốc sức hấp dẫn của Thiền, và chúng vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Ở Trung Hoa, đến đời Đường, Thiền đă có một khuôn mặt rơ ràng. Người ta thường xem việc hoàn thành hệ thống tư tưởng Thiền Tông như sự khai sinh ra một h́nh thức tôn giáo đặc thù nhất của Trung Quốc. Đồng thời, Thiền cũng bắt đầu biết thích ứng với Phật giáo, tuy không có nghĩa là lịch sử Thiền Trung Quốc bị sáp nhập vào lịch sử Phật giáo và ngừng lại ở đó. Về sau, Thiền c̣n kinh qua nhiều thay đổi tùy theo những biến chuyển xă hội, ngay cả có ảnh hưởng đến xă hội nữa. Đến khi Thiền truyền bá đến Việt Nam, Tây Tạng, Triều Tiên, Nhật Bản…th́ ở mỗi nước, Thiền lại có những bản sắc khác nhau.

Mặt khác, Thiền không phải là vật sở hữu của các thiền tăng. Thiền có khả năng giao tiếp với xă hội rất năng động cho nên phạm vi của nó vượt hẳn ra ngoài giáo đoàn. Cứ xem ở nơi các triết lư như Chu Tử Học, Dương Minh Học ở Trung Quốc, các h́nh thức văn học như Hán Thi, Renga, Haiku, mỹ thuật như viên nghệ, tranh thủy mặc, các hiện tượng văn hóa như trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, cung đạo, vơ sĩ đạo, tuồng Nô ở Nhật,…đâu mà chẳng thấy cánh tay của Thiền vươn tới. Đến thời cận đại, nhờ những hoạt động bền bĩ và có tầm vóc của triết gia Suzuki Daisetsu, Thiền đă được giới thiệu rộng răi khắp thế giới và đi vào những lănh vực như triết học, thần học, tôn giáo học, tâm lư học, tâm lư y học, tâm phân học[4], sinh lư học…Cho dù cường độ có khác nhau, không ít thời nhiều, Thiền đă có mặt trong nhiều khoa học. 

Trong quá tŕnh t́m hiểu ảnh hưởng của Thiền đối với văn hóa Nhật Bản, chúng tôi bắt buộc ṃ mẫm lội ngược ḍng lịch sử để truy nguyên nguồn mạch của nó ở Trung Quốc. May mắn nắm được trong tay cuốn Zen no Rekishi (禅の歴史Lịch sử Thiền, 2001) của giáo sư người Nhật Ibuki Atsushi (伊吹敦). Ông sinh năm 1959, tốt nghiệp khoa văn (1982) và hoàn tất ban tiến sĩ (1993) ở Đại học Waseda rồi trở thành giáo sư phụ tá ngành văn chương ở Đại học Tôyô. Tuy tuổi c̣n tương đối trẻ nhưng giáo sư đă viết rất nhiều tác phẩm. Ngoài Zen no Rekishi, ông c̣n có những công tŕnh nghiên cứu về kinh văn như Tâm Vương Kinh, Niết Bàn Luận, về các danh tăng như Huệ Khả, Saichô (Tối Trừng). Đặc điểm của Ibuki Atsushi là đă viết lại lịch sử Thiền Tông không theo lối thu thập, chắp nối truyện kư và ngữ lục các danh tăng nhưng theo quan điểm học thuật Tây phương, xem Thiền Tông như một “sinh vật” xă hội có sống, có chết, do đó chịu mọi sự chi phối của các yếu tố như chính trị, kinh tế, văn hóa và không ngừng biến dạng trong ḍng liên tục của lịch sử. Cái nh́n của giáo sư Ibuki là cái nh́n nhất nguyên, vượt lên trên mọi dị biệt tông phái (Nam Tông, Bắc Tông) và tôn giáo (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo), khi ông chứng minh rằng giữa các tông phái và tôn giáo ấy lúc nào cũng có sự giao lưu và ảnh hưởng hỗ tương. Cái nh́n của ông cũng là cái nh́n phê phán tính cách công lợi của các tông phái khi ngụy soạn những kinh sách hay hư cấu nên những hệ phổ. Ngoài ra, khác với nhiều tác giả khác, ông đặc biệt lưu ư đến những nhà tư tưởng thứ yếu nhưng đă là động cơ thực sự thúc đẩy bước tiến của Thiền Tông. Do đó, đừng chỉ chờ đợi những tên tuổi lớn như Đạt Ma, Huệ Khả, Thần Tú, Huệ Năng, Hoằng Nhẫn, Mă Tổ, Thạch Đầu, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhăn…Chính Hà Trạch Thần Hội, Hầu Mạc Trần Diễm, Khuê Phong Tông Mật, Đạt Quan Đàm Dĩnh, Vĩnh Minh Diên Thọ, Phật Nhật Khế Tung, Giác Phạm Huệ Hồng, Trung Phong Minh Bản, Đầu Tử Nghĩa Thanh, Phí Ẩn Thông Dung…những người đến nay ít có tiếng tăm, mới được giáo sư Ibuki đặt vào vị trí trung tâm.

Bài viết này hầu như hoàn toàn dựa vào phần đầu trong 3 phần chính của tác phẩm nhắc đến bên trên. Tuy nhiên, người biên dịch đă mạn phép thêm bớt và chua phụ chú ở một đôi chỗ. Vậy xin gửi đến quí độc giả bản dịch thô vụng này như một chia sẻ học vấn cùng với lời cảm tạ chân thành đến giáo sư Ibuki Atsushi cũng như các tác giả khác có tên trong thư mục tham khảo.


 

[1] Dịch thoát ư chữ Nhật Meisô (Minh tưởng, meditation). Minh=nhắm mắt, tưởng: suy nghĩ. Minh tưởng là trạng thái nhắm mắt, quên đi những cảnh tượng diễn ra chung quanh ḿnh để lặng lẽ suy nghĩ với trí tưởng tượng.

[2] Nguyên văn Buha-bukkyô “bộ phái Phật giáo” gồm phái bảo thủ truyền giáo ở phía Nam và thượng tọa bộ. Đứng trên quan điểm đại chúng tiến bộ (Đại Thừa) th́ họ bị phê phán là Tiểu Thừa.

[3] Phiên âm th́ prajnâ là bát nhă, tác dụng tinh thần để hiểu rơ chân lư. Trí tuệ đọc theo âm Phật giáo (Ngô âm) là huệ.

[4] Psycho-analysis, thường được dịch là Phân tâm học nhưng e không đúng ngữ pháp.

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com