|
TUỒNG NÔ CỦA ZEAMI
KAGEKIYO (Cảnh Thanh)
Nguyên tác: Zeami Motokiyo
Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

Muôn dặm t́m cha (tranh minh họa của the noh.com)
Dẫn nhập:
Soạn giả:
Tuy không có chứng cớ xác thực để bảo rằng Kagekiyo là tác phẩm của
Zeami (Thế A Di Nguyên Thanh, 1363? - ? ) nhưng các sách kiểm kê mục
lục tuồng Nô thường chủ trương như vậy.
Chủ đề:
Chủ đề con gái t́m cha khác với chủ đề truyền thống mẹ đi t́m con đă
có cho đến lúc đó. Tuồng nói về cảnh tượng Hitomaru, người con gái
của chiến tướng nhà Taira tên là Kagekiyo (hỗn danh Akushichibyô-e)
từ thủ phủ Kamakura lặn lội đến vùng Hyuuga (nay là tỉnh Miyazaki
trên đảo Kyuushuu) để t́m người cha mà cô chưa hề biết mặt. Aku
(Ác) ở đây không hẵn có nghĩa luân lư (thiện ác) mà c̣n ám chỉ tính
nóng nảy và tài vũ dũng của Kagekiyo. Thực vậy, Kagekiyo là một
tướng mạnh mà nhà Minamoto rất gờm v́ từng đánh bại họ trong trận
Yashima (1185). Sau khi nhà Minamoto thắng lợi, Kagekiyo vẫn nuôi
chí phục thù nên bị họ đày đi biệt xứ. Vào thời điểm của vở tuồng
(khoảng 1190), Kagechiyo chỉ c̣n là một ông già ăn xin mù ḷa.
Chính ra
Taira no Kagechiyo ( ? -1195) là nhân vật có thực. Ông là một vũ sĩ
miền Đông, ḍng dơi họ Fujiwara, sinh ra ở vùng Kazusa (Chiba bây
giờ). Nhờ tài chiến đấu và ḷng trung nghĩa, được gia đ́nh Taira
thâu nhận như một thành viên. Kagekiyo đă trải qua nhiều trận mạc và
lập nhiều đại công nhưng rốt cuộc bị địch (nhà Minamoto) bắt sống
trong trận đánh cuối cùng ở Dan No Ura (1185), lưu đày rồi trở thành
tăng lữ. Sau đó ông đă được Mạc phủ cho phép tuyệt thực đến chết ở
Kamakura (1195). Về các chiến công của Kagekiyo, xin xem thêm Truyện
Heike (Heike Monogatari), chương thứ 11.
Theo tư
liệu lịch sử, không nghe nói ông từng đi đày. Người ta chỉ biết ông
bị giam cầm lâu năm ở Kamakura sau một cuộc mưu sát Shôgun Yoritomo
bất thành. Cuộc ám sát này lại là chủ đề cho một vở Kagekiyo khác
trên sân khấu Kabuki.
Phối
vai:
Tsure
(Vai tùy tùng): Hitomaru, con gái Kagekiyo.
Tomo
(Vai bạn đường của Tsure): Tớ trai
Shite
(Vai chính) : Kagekiyo lúc đă già và mù ḷa
Waki
(Vai phụ) : Người dân làng
Jiutai
(Hợp xướng)
Tuy
tuồng chỉ có 1 màn nhưng v́ tiết điệu diễn xuất chậm nên thời gian
tŕnh bày có thể kéo đến 1h30.
Vài
thuật ngữ liên quan đến tuồng này:
Ichi no
matsu:
Cây tùng thứ nhất nh́n từ tay phải trong ba cây tùng đặt trước mé
trái sân khấu, đối mặt với khán giả. Ni no matsu: Cây tùng
thứ hai. San no matsu: Cây tùng thứ ba.
Kakeai:
Bắt chuyện với nhau (Kakeai no uta: hát đối đáp).
Katari:
Lối kể lể b́nh thường trên sân khấu, không theo âm vận và không có
nhạc khí đệm theo.
Michiyuki:
Một đặc điểm của văn nghệ Nhật Bản gắn liền với sở thích hành hương
và t́nh yêu thiên nhiên của người Nhật. Để chỉ một đoạn văn tả cảnh
đi đường (Michiyukibun) đến một nơi nào đó nhưng cùng lúc, tŕnh bày
tâm t́nh của lữ khách. Thường được viết một cách uyển chuyển, hoa
lệ. Được sử dụng trong Nô (qua vai Waki), trong cả Jôruri lẫn
Kabuki.
Mondô:
đối đáp, thảo luận.
Shiori:
Động tác lấy một bàn tay như che lấy mắt, như muốn nén nước mắt.
Tomo:
Người theo hầu vai Tsure. Trong vở này là một người đầy tớ trai theo
hầu cô chủ.

Diễn viên Udaka Michishige thủ
vai Kagekiyo (Tôkyô, 2018)
Bản
tuồng
Hitomaru,
con gái của Kagekiyo cùng với người tớ trai của nàng đi xuống vùng
Miyazaki (trong xứ Hyuuga) xa xôi để t́m cha. Trên sân khấu đă có
trang trí một đạo cụ giống như túp lều cỏ (waraya) của Kagekiyo.
Tiếng nhạc Shidai (giáo đầu) nổi lên, vai Tsure là Hitomaru và tớ
trai (vai Tomo) bước ra phía chính diện sân khấu và hát.
Hitomaru
/ Tớ trai:
Nghe đồn rằng phụ thân ta vẫn ở đâu đó. Lời gió nhắn (phong thanh)
cho biết rằng người hăy c̣n sống đấy. Thế nhưng lời đồn đại như thế
không thể nào tin. Mạng sống mong manh như giọt sương mai (trước
gió) của phụ thân ta giờ ra sao rồi nhỉ? (1)
Hitomaru:
Ta là
người con gái tên Hitomaru (2) , sống ở vùng thung lũng
(yatsu) gọi là Kamegae tại Kamakura (3) .Thân phụ của ta,
Kagekiyo (Cảnh Thanh), biệt hiệu Akushichibyôe (Ác Binh Vệ) (4)
bị nhà Genji (Minamoto) trù dập bởi v́ ông là một chiến tướng
Taira. Họ đă đày ông đến sống lây lất ở một nơi tên là Miyazaki
trong xứ Hyuuga. Dù chưa hề cất bước đi xa nhưng lần nầy ta phải lên
đường. Giữa cuộc hành tŕnh, tuy gặp lắm đắng cay nhưng điều đó chỉ
làm tăng thêm quyết tâm t́m cha của ta thôi.
Hitomaru
/ Tớ trai:
(hát) Nghĩ về cha ḿnh, tôi không sao cầm được giọt lệ. Thêm nỗi
trong cuộc hành tŕnh, phải lấy ống tay áo làm gối ngủ trên mặt cỏ
khiến cho tay áo vừa ướt nước mắt lại đẫm cả sương đêm.
Hitomaru
/ Tớ trai:
Khi ra đi từ vùng Sagami, ta không biết phải hỏi thăm ai để biết nơi
phụ thân đang sống. Biết hỏi ai để rơ về hành tung của phụ thân ta!
Tới đây là xứ Tôtômi (Viễn Giang), nơi xa xôi khác nào cái tên của
nó. Khi con thuyền lữ khách trôi xa trên hồ ta mới biết ḿnh đă đến
được xứ Mikawa (Tam Hà). Qua khỏi tám cây cầu (yatsuhashi)
như chân nhện (kumode) bắc qua ḍng sông chảy quanh co (5), ta tự hỏi
không biết bao giờ ḿnh mới về lại kinh đô. Từ đây chốn kinh đô cao
xa (vân cư) chỉ c̣n t́m thấy trong giấc mộng. H́nh ảnh kinh đô yêu
dấu của ta vật vờ giữa giấc ngủ dọc đường (6).
Tớ trai
của Hitomaru (Tsure):
Ngày tháng trôi qua, cùng với bước chân gấp rút, chúng ta đă đến
được Miyazaki trong xứ Hyuuga
(Nh́n
Tsure
và nói).
Vậy th́ giờ đây xin cô hăy hỏi thăm tông tích của phụ thân đi
(Hai
người cùng trở về chỗ gọi là Wakiza).
Trong
túp lều đơn sơ của ḿnh, Kagekiyo đang lặng lẽ bày tỏ nỗi ḷng qua
điệu hát Shômon no utai (Tùng môn). Nhân vật than thở cho
kiếp sống khó khăn kể từ khi mù ḷa, suy yếu.
Kagekiyo:
Nơi ta ở thật là giản dị, chỉ có mấy nhánh tùng thay tấm cửa che lối
vào. Chẳng ai đến đây thăm nên ta một ḿnh sống khép kín cho qua
ngày đoạn tháng. Bởi nay đôi mắt đă ḷa, không c̣n nh́n thấy ánh
sáng nên ta nào phân biệt được thời giờ. Chỉ biết nằm vùi trong bóng
tối ở một xó am, với mỗi manh áo trên người dù trời nóng hay lạnh.
Thân thể nay đă suy yếu nhiều, chỉ c̣n là tấm da bọc xương.
Hợp
xướng (hát thay Kagekiyo):
Nếu đă quay lưng với thế gian thời phải mặc tấm áo chùng đen
(kurozome) của nhà tu xuất gia lánh đời mới phải. Cớ sao c̣n theo
thói tục mang trên người cái áo tơ gai đáng ghét bọc lấy tấm thân
tiều tụy (Shite
quay tấm áo chung quanh người).
Chính ḿnh c̣n ngán ngẫm cho ḿnh th́ lấy ai mà thương xót.
Tsure và
Tomo ngước nh́n Shite. Giữa Tsure và Shite có một đoạn hát đối đáp
(kakeai no uta). Sau khi Tomo và Shite hỏi và trả lời (mondo) xong
th́ Tsure lui về chỗ người soạn đạo cụ (kokenza).
Khi đến
nơi đây, Hitomaru tưởng nơi đó là túp lều của một gă ăn mày. Người
tớ trai hỏi thăm tin tức Kagekiyo th́ ông ta bảo rằng ḿnh mù ḷa
nên chưa từng gặp kẻ lưu đày gọi là Kagekiyo ấy bao giờ. Do đó
Hitomaro đành phải đi chỗ khác để hỏi tiếp.
Hitomaru:
Lạ lùng thay! Cái am cỏ cũ kỹ này tưởng chừng không ai sống nỗi lại
có tiếng người vọng ra ḱa. Chắc đây là nơi cư ngụ của một gă hành
khất. Nếu hành khất sống ở đây th́ lùi ra xa tí nữa chắc ḿnh sẽ gặp
nhà dân.
Kagekiyo:
V́ mù ḷa nên mỗi lần trời vào thu, mắt ta không c̣n nh́n thấy cảnh
thu. Duy nhờ đôi tai, ta vẫn biết gió thu đang thổi về. Ta nghe cả
tiếng người nhưng không biết họ đến từ đâu.
Hitomaru:
Thân lang thang không t́m ra dấu vết cha ḿnh, ta có khác ǵ kẻ mê
lầm không thấu hiểu chân lư nhà Phật. Biết bao giờ mới thoát khỏi
phiền năo và được sống an lành.
Kagekiyo:
Tam giới nhất không (8). Thế giới này làm ǵ có chỗ an lành
cho chúng sinh bởi v́ vạn sự giai không. Do đó, nào biết gặp ai để
hỏi thăm và ai sẽ là người đáp trả?
Tớ trai:
Này, người trong túp lều, cho tôi hỏi với!
Kagekiyo:
Chứ ai đang gọi ta đó?
Tớ trai:
Người có biết về một kẻ bị lưu đày đang sống ở đây không?
Kagekiyo:
Nếu chỉ nói là một kẻ lưu đày thôi th́ làm sao tôi biết. Chẳng hay
kẻ đó tên chi ?
Tớ trai:
Vũ sĩ nhà Taira tên là Aku Shichibyôe Kagekiyo.
Kagekiyo:
Ôi chà! Tôi có nghe nói tới cái tên ấy nhưng vốn là kẻ mù ḷa nên
chưa từng nh́n thấy ông ta. Chỉ biết ông rất khốn khổ, t́nh cảnh
thực đáng thương. Cảm phiền quí vị t́m người khác mà hỏi.
Tớ trai
(nói với Hitomaru): Như vậy ông ấy không có ở đây. Cô hăy đi xa thêm
chút nữa và thử hỏi xem.
Kagekiyo
than thở cho cảnh mù ḷa, tuy nghe tiếng con gái của ḿnh nhưng
không nh́n thấy mặt. Ông cho biết sở dĩ ḿnh không xưng danh tánh
với con cũng là v́ t́nh phụ tử.
Kagekiyo:
Lạ thay! Giờ đây khi nghĩ về kẻ mới ghé qua đây, ta đoán ra rằng đó
là đứa con gái của kẻ mù ḷa này. Nhớ xưa hồi ở Atsuta trong xứ
Owari (vùng
Nagoya),
ta từng đi lại với một kỹ nữ và nàng đă có với ta một đứa con. Nghĩ
rằng đứa bé là con gái không được việc ǵ (9), ta mới gửi gắm
nó cho người trưởng trạm (10) vùng thung lũng Kamegae ở
Kamakura nuôi hộ. Chắc con ta đau khổ v́ dù là cha con mà không có
chút t́nh thân nên t́m đến đây để bày tỏ ḷng ḿnh với ta chăng?
Hợp
xướng (thay lời Kagekiyo):
Nghe tiếng nói nhưng không nh́n được mặt, đó là điều đáng buồn cho
kẻ mù ḷa. Để con ra đi mà không xưng danh tánh, ai cũng tưởng ta là
kẻ vô t́nh nhưng thực ra đó mới là tấm ḷng của người cha, tấm ḷng
của một người cha.
Lúc này,
Hitomaru và tớ trai tiến đến gần Cây tùng thứ nhất (Ichi no matsu).
Họ đứng ở đó và gọi với vào bên trong màn. Người dân làng (Satobito,
trong vai Waki) đi ra đến bên Cây tùng thứ ba (San no matsu) tức cây
tùng bên trái và nằm xa sân khấu nhất. Hai bên vấn đáp (mondô) xong,
cả bọn (ichidô) cùng trở lại giữa sân khấu. Hitomaru và tớ trai ngồi
ở Wakiza (tức chỗ ngồi chỉ định cho vai Waki) trong khi Dân làng
(vai Waki) th́ đứng ở ngay đó nhưng mặt nh́n ra khán giả (Waki
shômen).
Người tớ
trai gọi Dân làng để hỏi thăm tung tích Kagekiyo. Dân làng trả lời
rằng chính lăo già khất thực mù ḷa hai người vừa gặp chính là
Kagekiyo. Thế rồi người dân làng tốt bụng đă đưa đường cho hai thày
tṛ trở lại túp lều cỏ (waraya) để t́m.
Tớ trai:
Này ông ơi! Có ai là dân địa phương không đấy?
Dân làng:
Thế ông hỏi dân địa phương để làm ǵ?
Tớ trai:
Để biết có người đi đày nào sống ở đây không?.
Dân làng:
Người đi đày mà ông đang t́m là ai mới được chứ?
Tớ trai:
Chúng tôi đang t́m một vũ sĩ nhà Taira tên là Akushichibyôe
Kagekiyo.
Dân làng:
Thế trên đường đến đây khi đi ngang qua túp lều cỏ nằm dưới bóng
núi, ông không thấy ai à?
Tớ trai:
Trong túp lều đó chỉ có một kẻ hành khất mù ḷa thôi ạ.
Dân làng:
Không phải thế đâu! Người ăn xin mù ḷa ấy chính là ngài Kagekiyo
ông đang t́m đấy! Ủa, sao lạ thế. Khi vừa nhắc đến tên Kagekiyo th́
tôi thấy cô nương đằng kia tỏ ra rầu rĩ. Cớ sao cô ấy có thái độ
như vậy nhỉ?
Tớ trai:
Ông nhận xét rất đúng. Không dám giấu ǵ ông, cô nương tôi vốn là
con gái của ngài Kagekiyo. Cô ấy chỉ mong sao gặp mặt cha ḿnh một
lần nên đă từ nơi xa xôi lặn lội đi t́m. Ông có thể nào đưa cô ấy
đến đó và nói giúp một tiếng không?
Dân làng:
Trời đất quỉ thần ơi! Cô đây là con gái của ngài Kagekiyo đấy ư? Vậy
cô hăy nghe tôi nói nhé! Hiện nay hai mắt Kagekiyo đều hết thấy
đường, ông ta đă gọt tóc, tự xưng ḿnh là “Nhà sư mù đất Hyuuga”
(11). Ông ta hiện sống nhờ sự bố thí của khách thập phương và
chúng tôi cũng thường ghé đến thăm nom. Chắc v́ tủi phận nên ông ta
không chịu xưng danh tánh. Nhưng thôi, tôi sẽ đi cùng với cô và nói
giúp cho. Nếu gọi đúng tên, thế nào ông ấy cũng bước ra ngoài và cô
sẽ có dịp gặp gỡ để kể lể nỗi niềm. Chúng ta đi nào! (Cả
bọn đi ngang sân khấu và người dân làng gọi
tên Kagekiyo).
Ban đầu,
nghe có người gọi cái tên ngày xưa của ḿnh, Kagekiyo tỏ ra bực tức
nhưng rồi ḷng ông cũng lắng lại. Ông tạ tội đă vô lễ, cho biết tuy
phận mù ḷa nhưng ḿnh vẫn hiểu được ḷng người và nhạy cảm trước sự
thay đổi của ngoại vật
Lúc này,
vai Waki (tức Dân làng) vừa đọc ca từ vừa đến gần đạo cụ (lều cỏ),
lấy lá quạt đập vào cột rồi trở về chỗ ngồi của vai nh́n ra chính
diện (Waki shômen). Hai vai Tsure (Hitomaru) và Tomo (Tớ trai) từ
chỗ gọi là Wakiza mà họ ngồi nh́n về hướng đạo cụ (lều cỏ). Vai
Shite (tức Kagekiyo) lấy hai tai che lấy tai, đọc ca từ trong khi
hợp xướng tiếp tục hát jiuta. Khi bài hát sắp chấm dứt th́ Shite
chống gậy nhỏm dậy, ra khỏi đạo cụ (lều cỏ) và đi vào giữa sân khấu
rồi hướng về chỗ ngồi của Waki (Dân làng).
Dân làng:
Nào, ngài Kagekiyo có đây không? Akushichibyôe có đây không?
Kagekiyo:
(Đưa
hai tay lên bụm lấy tai)
Sao lại ồn ào quá vậy? Im đi, ta bực lắm rồi. Có biết chỉ cần được
gọi tên là ta đă đau đớn hay không? Hôm nay có người ở cố hương t́m
đến hỏi thăm, ta v́ hổ thẹn với h́nh dáng thê thảm của ḿnh nên
không dám xưng danh tánh và đă đuổi họ về. Giọt lệ sầu khổ của ta
tuôn rơi ướt đầm tay áo (Thiên hàng bi lệ hủ quyết). Ta đă ngộ rằng
cơi thế này là một giấc mơ (Vạn sự giai mộng trung) c̣n chiếc thân
ta chi là một cái bóng vật vờ (12). Những ai không sống trong
cảnh ngộ này c̣n cố t́nh gọi ta là Akushichibyôe Kagekiyo kia nọ th́
hỏi làm sao ta trả lời cho được. Hơn nữa, tên ta bây giờ là tên của
đất (Hyuuga) này mà thôi!
Hợp
xướng
(hát thay Kagekiyo): “Nhà sư mù đất Hyuuga” (Hyuuga no kôtô). Cũng
như tên đất này. Hyuuga (Nhật Hướng) nghĩa là hướng về ánh mặt trời.
Đừng gọi ta bằng cái tên Akushichibyôe Kagekiyo. Nó không phù hợp
với t́nh cảnh lúc này nữa v́ ta nay đă gác bỏ cung tên. Gọi tên cũ
tuy không khiến cho ác tâm ngày xưa sống lại (cúi
gầm mặt)
nhưng cũng đủ làm ta phải nổi giận (lấy
tay đánh vào đùi).
Kagekiyo:
Ôi, tuy sống ở chốn này...
Hợp
xướng
(hát thay Kagekiyo): Tuy sống ở chốn này nhưng nếu để cho những kẻ
cưu mang (bố thí) đem ḷng ghét bỏ th́ ta sẽ giống như một anh mù
mất gậy (hai
tay quờ quạng như t́m gậy)
không c̣n nơi nương tựa. Chẳng qua v́ quá khổ đau cho số kiếp, ta đă
ăn nói quàng xiên. Chỉ c̣n biết xin người tha thứ (hướng
về phía vai Waki và chắp tay).
Kagekiyo:
Tuy mắt không c̣n thấy ǵ nữa...
Hợp
xướng:
Tuy mắt không c̣n thấy ǵ nữa nhưng chỉ cần nghe một câu nói th́ ta
đă hiểu.Ta vẫn biết thưởng thức được tiếng gió thổi qua rừng tùng
trên núi (ngước
mắt như nh́n lên núi),
tuy mắt không nh́n thấy tuyết thấy hoa nhưng trong mộng vẫn thưởng
thức vẻ đẹp của chúng để rồi nuối tiếc khi tỉnh cơn mơ. Cảnh băi
biển (13) với tiếng sóng xô vào ghềnh đá hoang liêu lúc triều
lên buổi chiều cũng lọt đến tai ta (đưa
tay lên tai làm bộ như đang nghe).
Dù sao ta là chiến sĩ Taira
(chống
gậy đứng dậy)
và là một người kể lại Truyện Heike (14). Hăy cho ta bắt đầu
kể về họ để ai điếu vong linh
(ra khỏi
“lều cỏ” và đi về phía giữa sân khấu, đến trước chỗ ngồi của Waki).
Dân làng
đưa Hitomaru đến cho Kagakiyo gặp. Hitomaru đến gần Kagekiyo và khóc
lóc than văn. Kagekiyo ôm lấy Hitomaru kể lể nỗi ḷng, hồi tưởng lại
quăng đời xưa của ḿnh trước khi trở thành thảm hại như bây giờ.
Trước
tiên, giữa Shite (Kagekiyo) và Waki (Dân làng) có một cuộc đối đáp
(Mondô). Sau đó, vai Tsure (Hitomaru) đứng lên và tiến gần bên
Shite, qú xuống hai tay nắm lấy vai Shite (lúc đó đang ngồi).
Kagekiyo
(hướng
về phía Dân làng):
Xin thưa với ông là v́ chút chuyện vướng mắc trong ḷng, mới đây,
tôi đă tỏ ra suy nghĩ nông cạn, xin ông hăy bỏ qua.
Dân
làng:
Không sao! Tôi đă quen với thái độ của ngài rồi nên có thắc mắc ǵ
đâu. Nhân đây tôi xin hỏi: Năy giờ có người nào đi qua đây và hỏi
thăm ngài không?
Kagekiyo:
Trước khi ông đến, tôi nào đă gặp ai đâu.
Dân làng:
Ôi thôi, ngài lại không thành thực với tôi rồi. Chẳng phải một cô
nương tự xưng là con gái của Kagekiyo vừa ghé qua đây hay sao? Việc
ǵ ngài phải dấu diếm chuyện đó! V́ thấy cô ấy quá tội nghiệp nên
tôi vừa đưa cô ấy đi cùng đến đây.
Dân làng:
Này cô nương. Mau mau ra mắt phụ thân cô đi!
Hitomaru:
Con đă đến (đưa
tay nắm lấy vai Kagekiyo).
Con đă hứng bao gió mưa sương tuyết, lặn lội từ xa để tới đây. Nếu
cha không chịu xưng danh tánh, con phải trở về uổng công và như thế
có phải là điều đáng trách hay không? Chẳng lẽ t́nh cảm của một
người cha cũng có khi thay đổi tùy theo giá trị của đứa con hay sao.
Nếu thế th́ quá tàn nhẫn.
Kagekiyo:
Ta định che đậy tông tích nhưng nay đă bại lộ. Ôi, cái tấm thân tủi
hổ này không biết đặt vào đâu (tựa như giọt sương không biết rơi
xuống chiếc lá nào). Nay con đang xinh tươi như một đóa hoa (hướng
về phía vai Tsure),
nếu ta bày tỏ tấm t́nh phụ tử th́ con sẽ bị mang tiếng là con
của một đứa ăn mày và họ càng nghĩ xấu thêm cho ta. V́ vậy, ta đành
cam để con ra đi mà không giữ lại. Chớ oán hận chi ta, con nhé!
Hợp
xướng
(hát thay Kagekiyo): Thực t́nh lúc đầu ḷng ta mang mối hận là bạn
bè và người thân đă bỏ mặc không đến thăm ta và ta có mắng nhiếc họ.
Nhưng giờ đây là thời điểm mà ta không c̣n tin vào cả việc một đứa
trẻ như con gái ta tại cất bước t́m cha. Thế có đáng buồn không?
Hợp
xướng:
Trong các chiến thuyền của hạm đội Taira trên sóng biển miền Tây chỉ
có Kagekiyo là người nổi trội nhất giữa đám chiến sĩ đang chen chúc
kề vai sát vế dưới ánh trăng thanh. Ḍng họ Taira có lắm người vũ
dũng nhưng ngài là được chọn để tháp tùng Thiên Hoàng trên Thuyền
Ngự (Gozabune). Đối với chủ tướng (15), Ngài cũng nhận được
t́nh thân ái và sự tin cậy. Nhưng giờ đây người chỉ huy phi thường
kia đă tơi tả và chậm lụt giống như con tuấn mă về già (16),
không địch nổi cả đám ngựa tồi (Shite
cúi gầm mặt, Tsure làm động tác Shiori nghĩa là đưa tay ngang tầm
mắt như muốn nén nước mắt).
Trong
đoạn tiếp, theo đúng nguyện vọng của Hitomaru, Kagekiyo đă thuật lại
pha chiến đấu tay đôi đă trở thành truyền thuyết gọi là Shikorobiki
(Kéo giật giải mũ trụ) giữa ông và tướng địch là Mionoya (17)
trong trận Yashima (18).
Ở chỗ
này, trong khi Waki đọc ca từ của ḿnh, Tsure trở về Wakiza ngồi
xuống. Waki gọi Tsure và họ đối đáp (Mondô) với nhau. Xong, Waki đi
về phía trước người chỗ của người thổi tiêu (Fuezamae) rồi ngồi.
Shite kể lể (Katari), c̣n hợp xướng vẫn tiếp tục hát Jiuta.
Dân làng:
Thật đáng buồn cho ngài. Trước hết xin ngài dời gót qua đây.
Dân làng:
Thưa ngài Kagekiyo. Con gái của ngài có một nguyện vọng.
Kagakiyo:
Nguyện vọng ǵ?
Dân làng:
Cô nương bảo ḿnh muốn nghe kể lại một cảnh tượng chiến đấu lừng
danh của Kagekiyo trong trận Yashima. Vậy xin ngài cho chúng tôi
được nghe một đoạn.
Kagekiyo:
Đàn bà mà lại thích nghe kể chuyện đánh nhau ư? Thật không hợp t́nh
hợp cảnh chút nào. Nhưng thôi, tội nghiệp thân con ta đă lặn lội từ
xa để t́m đến đây, ta sẽ kể cho nghe. Tuy nhiên sau đó phải đưa nó
về lại cố hương ngay mới được.
Dân làng:
Xin vâng. Sau khi nghe kể xong th́ tôi sẽ xin cô nương về quê ngay
cho ạ.
(Waki
tiến về trước chỗ người thổi tiêu)
Kagekiyo:
Lúc đó nhằm hạ tuần tháng ba năm Juei thứ ba (Tây lịch 1184). Quân
Heike ở trên thuyền, quân Genji đóng trên cạn. Hai bên lập trận thế
đối diện dọc bờ biển để cùng nhau so tài thắng phụ. Quan trấn thủ
(kami) xứ Noto là Noritsune (19) mới bàn rằng: “Năm ngoái, kể
từ trận Muroyama ở vùng Harima, trận trên đảo Mizushima cho đến trận
ở ngọn đèo Hiyodorigoe trong xứ Bitchuu, quân ta chưa bao giờ thắng
địch lần nào. Rơ ràng ta thua v́ mưu lược của tướng địch là Cửu Lang
Yoshitsune” (20). Nghe thế, Kagakiyo mới nghĩ trong bụng:
“Phán quan Yoshitsune nào phải quỉ thần ǵ, chỉ ḿnh cần không tiếc
mạng là có thể loại được hắn” nên đă cáo từ Noritsune xin lên bộ
đánh cảm tử. Khi Kagekiyo dẫn quân bản bộ lên bờ, đă thấy quân Genji
ùa đến truy cản (nh́n
về phía tay mặt).
Hợp
xướng
(hát
thay Kagekiyo):
Kagekiyo thấy t́nh huống như thế mới có lời khen: “Khá cho các ngươi
biết canh pḥng cẩn mật”. Ông vung lưỡi kiếm loang loáng dưới ánh
nắng chiều (mắt
nh́n chăm chăm vào lá quạt tượng trưng cho thanh kiếm),
chiến đấu đến nỗi địch quân không thể đương cự phải chạy tứ tán (đưa
mắt nh́n chung quanh).
Kagekiyo:
(phấn
khích).
Khó coi quá đấy nhé, các ngài (21).
Hợp
xướng
(hát
thay cho Kagekiyo): Khó coi quá đấy, các ngài ơi! Hai binh đoàn
Heike và Genji đang nh́n vào, các ngài không biết xấu hổ hay sao? (nh́n
về hướng Waki shômen và cúi mặt xuống).
Chận đứng một ḿnh ta có ǵ khó khăn đâu nào! (nh́n
lá quạt đang nắm trong bàn tay mặt).
(Làm
bộ điệu kẹp thanh kiếm dưới nách bằng cách kéo lá quạt trong tay
phải về dưới lườn phải rồi nắm nó với cả hai bàn tay và xưng tên):
”Như mỗ đây vốn là chiến sĩ nhà Taira, tên gọi Akushichibyôe
Kagekiyo”. Nêu danh tánh xong, Kagekiyo bèn rượt theo ḥng bắt sống
kẻ địch. Mới đưa tay ra chụp lấy dải che mũ trụ (kabuto no shikoro)
(22) của một kẻ địch là Mionoya (Juurô Kunitoshi). Làm như
thế độ hai ba lần nhưng cứ bị vuột khiến cho địch thủ thoát được. V́
mục đích là tóm cho bằng được kẻ địch nên mới chồm sang chụp lấy mũ
trụ và giật đi, bất đồ dải che bị đứt nên Kagekiyo chỉ nắm được có
một phần trong tay. Người đội mũ trụ là Mionoya đă chạy ra đằng
trước mất rồi. Thấy khoảng cách giữa hai bên đă quá xa, Mionoya mới
dừng cương lại và nhắn vói: “Dầu sao ta cũng phải nể sức mạnh của
nhà ngươi!”. Kagekiyo bèn khen trả: “Thế mới biết xương cổ ngươi
cứng thật!”, rồi hai bèn cùng cười và mỗi bên lui về bản trận.
Kagekiyo
biết rằng cuộc đời của ḿnh đă hầu tàn nên sau khi yêu cầu Hitomaru
cầu nguyện cho ḿnh để ông thanh thản ra đi, đă khuyên cô hăy trở về
cố hương. Lúc chia tay, ông chỉ nói mỗi một lời vĩnh biệt (saraba)
với con gái. Đó là kỷ vật duy nhất của t́nh phụ tử giữa họ.
Hợp
xướng
(hát thay Kagekiyo): Tuy c̣n nhớ được chuyện xưa mà đem ra kể lại
(Shite và Tsure nh́n nhau)
nhưng thân ta ngày nay đă suy yếu và tâm hồn cũng không c̣n tỉnh
táo. Thật hổ thẹn thay! (Shite
cúi mặt)
Dù sao đời ta chỉ c̣n vỏn vẹn ít lâu, nỗi cay đắng cũng sắp đến ngày
chấm dứt.
Vậy con
hăy mau trở về cố hương và cầu nguyện cho cuộc đời mai sau của ta (Shite
ch́a tay cho Tsure).
Lời nguyện cầu của con (Shite,
Tsure và Tomo cùng đứng dậy, Shite tay chống lấy gậy)
sẽ là ngọn đèn soi sáng cho kẻ mù ḷa này trong kiếp lai sinh
(23) và là cây cầu bắc trên con đường tội lỗi (ác đạo) để ta có
thể vượt qua (cả
ba cùng đi song song).
Kagekiyo
bảo “Ta sẽ ở lại đây!” trong khi Hitomaru đáp: “Con sẽ lên đường!”.
Chỉ có mỗi câu nói ấy c̣n đọng lại trong tai của hai người nhưng đó
là tất cả kỷ vật của t́nh phụ tử cha con họ đă trao gửi cho nhau (Tsure
và Tomo rời sân khấu trong khi Shite c̣n đứng lại, làm động tác
Shiori)
(24).
Phần chú thích
(1)
Arthur. Waley và Ernest Fenollosa trong 2 bản dịch của họ chỉ chú
trọng đến mối tương quan (engo = duyên ngữ) giữa sương mai
(tsuyu) và làn gió (kaze) để tŕnh bày sự bèo bọt của kiếp
người mà lại không diễn tả cái ư “phong thanh” (kaze no tayori, tức
là lời thiên hạ đồn đại cho biết Kagekiyo hăy c̣n sống) vốn là ư
chính của nguyên tác.
(2)
Một cái tên hư cấu.
(3)
Kumagae ga Yatsu = Một trong năm thung lũng (Yatsu) có núi bao
quanh làm nên khu vực chiến lược Kamakura.
(4)
Tương truyền Kagekiyo thời trẻ đă giết chú của ḿnh là Thiền sư
Dainichibô Nônin (Đại Nhật Phường Năng Nhẫn) trong một cuộc truy
lùng những kẻ chống đối nhà Taira nên mới có biệt hiệu dữ dằn
(Kagekiyo Nóng Nảy) như thế.
(5)
Đoạn văn tả cảnh đi đường (miyukibun = đạo hành văn) này với h́nh
ảnh ảnh tám cây cầu (Yatsuhashi) trong xứ Mikawa làm liên tưởng đến
cuộc hành tŕnh của những chàng thanh niên công tử được miêu tả
trong đoạn 9 của Truyện Ise (Ise Monogatari).
(6)
Mượn ư thơ của Fujiwara no Takafusa (Đằng Nguyên Long Pḥng) trong
Senzai Waka-shuu (Thiên Tải Ḥa Ca Tập, 1183, phần thơ đi đường).
Thơ rằng: Kusamakura / karine no yume ni / iku tabi ka / nareshi
miyako ni / yukikaeru ramu / Ư nói mỗi lần gối lên cỏ nằm ngủ trong
lúc đi dường, mộng hồn vẫn nhớ về kinh đô yêu dấu.
(7)
Ư thơ Fujiwara no Toshiyuki (Đằng Nguyên Mẫn Hành) trong Kokin
Waka-shuu (Cổ Kim Ḥa Ca Tập, 905? 914?, phần Thu thượng). Nguyên
văn: Aki kinu to / me ni wa sayaka ni / mienedomo / kaze no oto ni
zo / odorokarenuru Ư nói mắt nh́n không thấy rơ phong cảnh mùa thu
nhưng nghe tiếng gió th́ hay mùa thu đă về.
(8)
Tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Nhất thiết chúng sinh
đều mắc vào ṿng sinh diệt của bánh xe luân hồi. Kinh Lăng Già có
câu: “Tam giới nhược không hoa”.
(9)
Quan niệm cổ hủ nhưng không lạ ǵ v́ là của giới samurai chỉ cho là
con trai mới có giá trị.
(10)
Nghĩa của nó là gửi con cho người vợ (nữ chủ nhân) của một ông
trưởng trạm xá (túc dịch).
(11)
Nguyên văn “Nhật Hướng câu đương”. Nhật Hướng là tên đất Hyuuga (c̣n
có nghĩa là “hướng về ánh mặt trời”) Câu đương (Kôtô) là chức quan
của một tăng lữ mù (cấp dưới Bettô nhưng trên Zatô), lại tương ứng
với cấp bậc thuộc binh chế trước đây khi Kagekiyo c̣n phục vụ trong
binh đoàn Taira (= đại tướng cận vệ).
(12)
Dựa trên thơ chữ Hán của Sugawara no Michizane trong Kanke Kôshuu
(Quản gia hậu tập, 903). Như sau: Ly gia tam tứ nguyệt. Lạc lệ
bách thiên hàng. Vạn sự giai như mộng. Thời thời ngưỡng bĩ
thương.
(13)
Cảnh biển đối lập với núi (tùng phong) trước đó cho cân xứng (hiệu
quả hô ứng)
(14)
Bởi v́ những người kể Truyện Heike đều là những nhà sư mù.
(15)
Ư nói Đại tướng tổng chỉ huy kiêm Nội đại thần Taira no Munemori
(B́nh Tông Thịnh, 1147-1185). Ông là con trai thứ 3 của quyền thần
Kiyomori. Sau bị bắt sống ở Dan no Ura và đem đi xử trăm.
(16)
Nguyên văn là Kirin (Kỳ lân). Ư nói một con tuấn mă để phân biệt với
loại ngựa xoàng, ngựa thồ. Đến khi tuấn mă đă lăo suy th́ ngay một
con ngựa tồi cũng có thể qua mặt được (Chữ trong Chiến Quốc Sách,
phần nói về Mân vương nước Tề).
(17)
Yashima (Bát đảo), địa danh thuộc tỉnh Kagawa trên đảo Shikoku. Xưa
là một ḥn đảo (shima) nhỏ nhưng nay đă tiếp giáp với đất bằng.
(18)
Tức Mionoya Juurô Kunitoshi (Thập Lang Quốc Tuấn) thuộc cánh quân
nhà Minamo to (Genji). Ông là người xuất thân từ vùng Musashi
(Tôkyô-Chiba bây giờ). Giai thoại giật dải che mũ trụ có chép trong
Truyện Heike chương11.
(19)
Tức Taira no Noritsune (B́nh, Giáo Kinh, 1160-85), Noritsune là con
trai của Norimori (Giáo Thịnh) và là người gọi Kiyomori bằng bác.
(20)
Minamoto no Yoshitsune (Nguyên, Nghĩa Kinh) là một tướng có tài thao
lược của quân đoàn Genji, em trai cùng cha khác mẹ với Shôgun
Yoritomo. Con trai thứ 9 trong nhà nên được gọi là Kurô (Cửu Lang).
V́ giữ thêm chức Chỉ huy lực lượng cảnh bị trị an nên c̣n được gọi
là Hôgan (Phán quan). Sau bị chính anh ḿnh hồ nghi và bức bách đến
nỗi phải lưu vong rồi tự sát.
(21)
Nguyên văn: Migurushii zo. Có bản viết là Samafushiya. Nói chung chê
tướng địch là hèn nhát, khó coi.
(22)
Mũ trụ (kabuto) vốn có 3 dải giây (shikoro), chính ra là ba mảnh
vải, 1 trùm sau ót và 2 mảnh kia nằm 2 bên mang tai.
(23)
Nói về uy lực của Pháp Hoa Kinh (Hokkekyô), có câu tán tụng như sau:
Thử kinh năng đại nhiêu ích nhất thiết chúng sinh, sung măn kỳ
nguyện... Như độ đắc thuyền, như bệnh đắc y, như ám đắc đăng,
như bần đắc bảo. (Xem Pháp Hoa Kinh, Dược Vương Bồ Tát Bản Sự Phẩm).
(24)
Nhiều nhà b́nh luận cho rằng t́nh phụ tử giữa hai cha con Kagekiyo
hơi giả tạo và thiếu t́nh người nhưng cũng có quan điểm như
Fenollosa và Hirata (xem thư mục tham khảo) bảo là nó đă bộc lộ được
tính khắc kỷ (stoicism) của văn hóa Vơ Sĩ Đạo cũng như của tư tưởng
Phật giáo nguyên thủy.
Thư mục
tham khảo:
1)
Nguyên tác Nhật ngữ có chú thích của vở Kagekiyo trong Tuyển Tập
Tuồng Nô của Toàn Tập Nhật Bản Văn Học Đại Hệ (Nippon Bungaku
Taikei).
2)
E. Fenollosa và E. Pound, 1917, The Noh Theater of Japan, Dover
Books, tái bản 2007.
3)
A. Waley, 1922, The Noh Plays of Japan, Dover Books, tái bản 1998.
4)
Toida Michizo giám tu, 1993, Kobayashi Yasuharu chủ biên, No gaku
Hando bukku (Cẩm nang tuồng Nô), tái bản lần thứ 3 năm 2008, Tokyo.
5)
H́nh ảnh và tư liệu Internet.
|