|
IKENIE
(Đầm tế sống / Cái chết bắt
thăm)
Nguyên tác: Vô Danh
Dịch: Nguyễn Nam Trân

Cảnh
tế thần trong xã hội cổ đại (Trung Nam Mỹ)
Lược Truyện
Một người đàn ông nọ làm ăn thất bại phải dắt vợ con về miền Đông,
những mong nương tựa vào một người bạn sống ở đó. Gia đình gồm ông
ta, bà vợ với đứa con gái nhỏ, đã phải trải qua nhiều ngày đi bộ cực
nhọc, rốt cuộc đến được một nơi tiếp giáp với núi Fuji. Tuy mệt lả
vì chuyến đi dài, họ may mắn tìm ra được một ngôi nhà trọ để qua
đêm. Thế nhưng, chủ quán căn dặn họ phải rời quán ngay lúc tờ mờ
sáng vì ngày hôm sau sẽ có một buổi lễ cúng vật tế sinh cho thần
mãng xà (orochi) của một cái đầm nước (ike) trong vùng. Tất cả bắt
buộc phải tham dự dù là dân sở tại hay khách qua đường. Người đàn
ông ấy không muốn sự nguy hiểm đến với mình và vợ con nên nhất nhất
nghe theo lời khuyên của chủ quán. Lúc cả nhà đang định ra ngõ thoát
thân thì chẳng ngờ bị bọn thần quan (quan chức đền Thần đạo) của
ngôi đền trong vùng bắt gặp quả tang. Những kẻ đó giải họ đến đền
thần và bắt họ dự vào cuộc bắt thăm. Trước tiên người cha lý sự sau
chuyển qua van lơn nhưng dù lý sự hay van lơn, thảy đều vô ích. Ông
có nói thế nào họ vẫn đẩy gia đình ông vào trong đám đông đang chen
chúc bên bờ đầm. Đối với ba người, cuộc bắt thăm không thể tránh
khỏi và rủi ro thay, đứa con gái nhỏ của ông bà đã bắt trúng cây
thăm (quẻ bói, mikuji) định mệnh. Thấy cha mẹ mình đau khổ đến sững
sờ, cô gái mới an ủi rằng nếu chẳng may cây thăm rơi trúng vào một
trong hai người thì cô sẽ còn đau khổ gấp bội. Bọn thần quan bèn đưa
cô lên một chiếc bè và đẩy ra ngoài đầm trước những cặp mắt vừa kinh
hãi vừa thương xót của đám đông đang có mặt. Thế rồi lúc cái thân
thể nhỏ bé của cô sắp chìm xuống nước thì tiếng cầu kinh thương cảm
đã vang lên khắp nơi. Đột nhiên, một vị thần linh hiện ra và giải
cứu cô bởi vì tấm lòng hiếu thảo, lo lắng cho cha mẹ đến quên cả bản
thân đã khiến cho quỷ thần cũng phải cảm động.
Cây chuyện cáo đầm tế sống này đến từ một truyền thuyết dân gian của
vùng Suruga (tỉnh Shizuoka) và đã trở thành xuất xứ của vở tuồng Nô
độc đáo này. Tuy Ikenie thiếu chất thơ và văn từ không được bay bướm
như ta mong đợi nhưng nó đã tạo được bầu không khí căng thẳng, rùng
rợn - đặc tính của sân khấu Sarugaku vùng Yamato, loại tuồng đặt
trọng tâm vào những tình tiết giật gân để lôi cuốn khán giả - và có
lẽ điều này đã khiến cho nó về sau bị rút ra khỏi danh sách các vở
tuồng được đem ra diễn. Một lý do khác là nó đã trình bày một hình
ảnh không mấy tốt đẹp về các nhà lãnh đạo tôn giáo. Sự cuồng tín của
Thần chủ tức người cầm đầu bọn thần quan cũng như diễn biến phi nhân
của buổi lễ rút thăm đã đem đến cho người xem nỗi sợ hãi và sự bất
an khi họ thấy mình phải trực diện với một thế giới quá đỗi dã man
và khắc nghiệt. Không chỉ ở Nhật Bản, chủ đề cúng vật tế sinh vô tội
để xoa dịu cơn thịnh nộ của thần thánh hay ma quỷ... đã bắt đầu từ
một thời xa xưa. May thay là trong phần cuối của vở, bầu không khí
căng thẳng đó đã được giải tỏa bằng một kết luận có hậu.
Ikenie bị coi như một phế khúc (haikyoku) nghĩa là không còn thấy
đưa lên sân khấu. May là nhờ có sự tinh anh của Arthur Waley (The
Noh Play of Japan), người đã truy lùng được và dịch một phần rồi đến
lượt Armen Godel (La lande des Mortifications) dịch toàn văn mà
chúng ta mới có cơ hội đọc nó. Về phía tiếng Nhật thì nguyên tác
thực là khó kiếm. Theo thông tin của Godel thì cái tên Ikenie chỉ
được nhắc đến trong một bảng mục lục mà Kanze Nagatoshi (1488-1541)
- người chắt của Zeami – soạn ra vào năm 1524. Cũng may là văn bản
của vở hãy còn được Ôwara Takeki (1857-1910) – một nhà giáo nghiên
cứu văn học cổ điển, sống vào thời Meiji – sao chép được trong cuốn
sách nhan đề Yôkyoku Hyôshaku (Dao khúc bình thích, 1908).
Thông tin kỹ thuật:
Cảnh: 2.
Cảnh 1: Quán trọ (yadoya) trong ngôi làng Shitakata thuộc vùng
Suruga (trung bộ Shizuoka).
Cảnh 2: Đầm nước nơi tế thần mãng xà.
Mùa: không ấn định.
Phối vai:
Maejite:
Người cha, khách đi đường.
Shitezure:
Người mẹ, vợ ông ta.
Kokata
(vai con): Con gái của họ.
Waki:
Thần chủ (Đại thần quan) của ngôi đền Thần đạo (Miya).
Tomo:
Người hầu cận thần chủ.
Kyôgen:
Chủ quán
Nochijite:
Thần hậu duệ nữ thần Thái Dương (Hi no miko no kami)
Mặt nạ:
Shitezure và Nochijite phải mang mặt nạ.
Xin theo Armen Godel chia tuồng làm 2 phần: A (Cảnh chung quanh nhà
trọ) và B (Cảnh bờ đầm).
Văn bản tuồng với lời giải thích (in nghiêng)
A) Phần đầu: Cảnh chung quanh nhà trọ ở ngôi làng Shitakata:
Gia đình 3 người đi đường gồm chồng, vợ và đứa con gái, bước vào sân
khấu.
Người cha:
Từ nơi xa xôi, khoác manh áo đi đường. Từ nơi xa xôi khoác manh áo
đi đường, chúng ta đã nhanh chân đến được một vùng tiếp giáp với
miền Đông.
(Nanori = xưng danh) Như tôi đây là cư dân chốn kinh thành (miyako =
Kyôto). Ôi, không biết vận hạn thế nào mà công chuyện làm ăn ngày
càng thua lỗ khiến cho cuộc sống của tôi quá đỗi khó khăn. Tôi không
còn cách nào lưu lại kinh đô được nữa. May là tôi có quen biết một
người ở miền Đông, anh ấy có thể giúp đỡ. Vì thế mà cả nhà, tôi với
vợ và đứa con gái nhỏ, cả ba người đang hối hả đi về hướng đó.
(Michiyukibun = đoạn tả cảnh đi đường) Từ kinh đô, chúng tôi lên
đường lúc gà vừa gáy sáng, chúng tôi lên đường lúc gà vừa gáy sáng.
Vâng, con đường về miền Đông này tôi vẫn thường đi. Tới ải Ôsaka,
trời nổi gió mạnh như bão (qua mấy rặng tùng) ở Matsumoto, sau đó
chúng tôi đã qua bến Yabase (chiếc cầu hình mũi tên) để đi mãi về
miền Ômi (sông gần). Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình đến được
Mino mà không biết bao giờ mới đặt chân lên đất Owari (nơi chấm
dứt), đến được Mino mà không biết bao giờ mới đặt chân lên đất Owari
(nơi chấm dứt). “Chiếc áo đẹp ta mặc quen trên người” (1) là
câu thơ đã được (nhà thơ đời xưa) làm ra ở Mikawa (ba con sông) nơi
có yatsuhashi (tám cây cầu) giăng như chân nhện (kumode)” (2)
này đây . Ôi! Sao mà đầu óc ta nghĩ ngợi loanh quanh như thế
nhỉ, chuyện tương lai hãy còn xa, tận xứ Tôtômi (sông xa) (3)
cơ mà. Bây giờ chớ nên ngừng lại, mình phải đi cho đến Yoshiwara
(cánh đồng hạnh phúc) trong xứ Suruga, nơi chúng ta sẽ tìm ra chỗ
trọ, cho đến Yoshiwara, nơi chúng ta sẽ tìm ra chỗ trọ.
(Quay sang nói với chủ quán): Chúng tôi là khách lỡ độ đường. Ông có
thể cho ngủ trọ một đêm không?
Chủ quán:
Ông muốn trọ ư? Thế thì vào đây! (Ông ta bước vài bước rồi quay
lại nhìn họ.) Nghe nói ông là khách đi đường, thế chẳng hay nhà
ta định đi về đâu vậy?
Người cha:
Chúng tôi từ kinh đô và đang đi tìm một người quen sống ở miền
Đông.
Chủ quán:
Xa xôi vất vả quá nhỉ! Thế nhưng tôi phải nói riêng với ông một
chuyện. Ngày mai, tất cả những ai trọ qua đêm ở đây đều phải tham
gia vào cuộc giũ quẻ ở ngôi đền chọn người tế sống cho vị Thần của
một cái đầm thiêng trên núi Fuji. Gia đình của ông cũng không có
quyền thoái thác. Xui cho ông thật! Vì cơ sự như thế, tôi khuyên ông
sáng mai hãy rời cái quán này từ lúc tờ mờ đất. Ông phải giữ kín
điều tôi vừa tiết lộ cho ông đấy nhé! Nhớ trốn cho nhanh, càng sớm
càng tốt!
Người cha:
Ôi, mừng thay! Chúng tôi sẽ trốn khỏi đây càng nhanh càng tốt! (Chủ
quán ra khỏi nơi đó trong khi những người đi đường tránh qua một
bên. Sau đó, Thần chủ bước vào sân khấu).
Thần chủ:
Này, nhà ngươi!
Hầu cận:
Thưa thầy, có con đây!
Thần chủ:
Đêm qua, 3 khách bộ hành đã trọ qua đêm trong cái quán này. Ta nghe
nói chúng hối hả ra đi từ hừng sáng. Mau theo bắt chúng lại cho ta!
Hầu cận:
Xin tuân lệnh! (Hầu cận đuổi kịp đoàn người). Này, mấy người
kia. Dừng lại đó và đợi ta nào!
Người cha:
Ông gọi bọn tôi?
Hầu cận:
Chứ ai vào đây nữa!
Người cha:
Tại sao ông bắt chúng tôi dừng lại nhỉ? Xin cho biết lý do.
Hầu cận:
Phải rồi, phải rồi, nếu các ngươi không biết thì ta cũng thông cảm.
Số là ở xứ này, mỗi năm đều có tổ chức lễ tế thần ở cái đầm thiêng
trên núi Fuji. Nói cách khác thì hôm nay là ngày tế thần đấy và các
ngươi phải đến dự lễ.
Người cha:
Theo chỗ tôi hiểu thì việc thờ phụng hay cúng kiến các vị thần phải
được tổ chức trong nội bộ của địa phương. Và như thế, chỉ có cư dân
ở đây mới có bổn phận đối với thần thánh của họ. Nay nếu các ông
muốn ép khách qua đường là những người còn chưa biết đi về đâu phải
đến tham dự thì đúng là làm cái chuyện khó có ai chấp nhận.
Hầu cận:
Sai rồi, sai rồi. Ông đã lầm to khi lý luận như thế.
(Thần chủ can thiệp vào cuộc đối thoại).
Thần chủ:
Này, ông kia nghe tôi bảo! Ông vẫn chưa hiểu đầu đuôi chi cả. Hãy
lắng tai đây. Từ xưa, những người khách đi đường ngủ lại quán
Yoshiwara đêm trước khi hành lễ đều phải có mặt để cúng tế vị thần
của cái đầm, bất kể họ là người từ đâu đến. Vậy ông hãy quay
lại cho nhanh! Một khi buổi lễ chấm dứt, các ông các bà vẫn có thể
yên tâm lên đường.
Người cha:
Nếu tôi hiểu những gì thầy nói và giống như điều tôi vừa phát biểu
thì cuộc tế lễ chỉ liên quan đến vùng này và những con người sinh đẻ
ở đây. Nếu quí vị ép uổng khách bộ hành cũng phải tham gia thì thú
thật, tôi thấy nó không ổn.
Thần chủ:
Nhưng mà từ xưa luật lệ ở đây đã được ấn định như vậy đó!
Người cha:
Nhìn vào thực tế, cứ cho là thầy có lý đi. Nhưng tôi cúi đầu van lạy
thầy, không phải thầy là người chấp hành luật lệ mà là người đang ở
trong vị trí lãnh đạo. Xin thầy hãy khoan dung với chúng tôi!
Thần chủ:
Thế thì ông muốn trở thành người đầu tiên cả gan làm chuyện trái
luật à?
Người cha:
Xin lỗi thầy. Tôi không hề có ý đó. Trong tình trạng hiện tại của
tôi, phải van lơn như thế còn làm tôi xấu hổ. Tuy nhiên, cho phép
tôi trình bày một cách thực thà. Tôi là người sinh sống ở kinh đô.
Ôi, không biết định mệnh xui khiến thế nào mà gia đình tôi xuất thân
làm ăn ngày càng lụn bại khiến tôi lâm vào bước đường cùng. Cuộc đời
và sự nghiệp của tôi tưởng không còn phương cứu vãn nhưng may còn có
một người quen sống ở miền Đông muốn giúp tôi. Vì lẽ đó tôi mới đem
cả gia đình tìm đến đất này. Tôi hoàn toàn hiểu những lời thầy dạy
nhưng tôi xin van thầy hãy cho phép gia đình tôi rời khỏi nơi đây!
Thần chủ:
“ Thật tình mà nói, thật tình mà nói, ông có lý do chính đáng để
than van cho số phận đấy. Tuy nhiên từ thiên niên vạn đại đã có bao
nhiêu cảnh cha mẹ phải dứt tình với con cái, con cái bị cắt đứt
khỏi vòng tay cha mẹ, vợ chồng chịu cảnh chia lìa, những trường hợp
đó đếm sao cho xiết. Thôi, ông hãy quên đi mấy chuyện đó rồi tập
trung nhớ lại việc mình đã làm trong tiền kiếp và vui lòng đến dự
buổi lễ cho tôi nhờ”.
Phát biểu xong ông và mọi người bèn đẩy mấy cha con về phía cái đầm.
Người mẹ và cô con gái:
“Chúng ta sẽ ra sao đây!”. Bà mẹ và cô con gái gào khóc và nấp vào
bên trong đôi tay của người cha.
Người cha:
Người cha cũng há hốc, vì quá sửng sốt nên nghẹn lời.
Thần chủ:
Thần chủ bảo: “Thôi mà, các người muốn đứng chết dí ở đó hay sao?”
rồi bắt cả ba phải rời nhau ra.
Hầu cận:
Ông thầy đã đẩy họ ra đằng trước. Coi cách họ đi đứng kìa!
Thần chủ:
Nếu phải đem so sánh với vật gì khác...
Hợp xướng: ..thì
thấy họ giống như những tội nhân ở chốn suối vàng (hoàng tuyền) bị
hành hạ và trừng phạt trong thời kỳ Trung Hữu (4) khi hãy còn
chưa được đầu thai, lòng lo lắng như giọt sương sắp tan biến. Than
ôi! Bằng những bước chân của con cừu bị dắt tới lò mỗ thịt, họ đi
sát bên nhau và mắt nhòa những lệ. Giờ họ đã đến được cái đầm thiêng
trên núi Fuji, họ đã đến được cái đầm thiêng trên núi Fuji.
Thần chủ:
Một khi đã đến được bờ đầm, thần chủ đi hàng đầu và các thần quan
trong đền nối bước theo sau. Những cô đồng (miko) và vũ công múa
nhạc thần (Kagura) (5) ngồi thành vòng tròn quanh đầm nước
thiêng. (Thần chủ ngồi lên một cái ghế hình viên trụ).
Hợp xướng:
“Chỉ có một que có đánh dấu chỉ định người được chọn làm vật tế
sống. Nếu định mệnh chọn tôi thì mình phải tính sao đây?”. Hàng trăm
người đều nghĩ chung một kiểu!
Thần chủ:
Họ tựa vào nhau và nắm tay nhau.
Hợp xướng:
Mặt không còn sắc máu.
Thần chủ:
Gan như tiêu tán.
Hợp xướng:
Chuyện biết được ai là nạn nhân hãy còn chưa rõ như đang chôn dấu
dưới lớp tuyết trắng dày (6). Chắp lấy hai tay, mọi người dốc
lòng cầu khẩn thần linh của dòng họ mình rằng: “Xin cứu lấy tôi!”
Thần chủ:
Nhưng chẳng bao lâu thần chủ đã đứng lên, chẳng bao lâu thần chủ đã
đứng lên. Ông ta mở nắp một cái rương đầy những quẻ bói rồi cho mỗi
người rút lấy một que và xem trên que đó có đánh số hay không.
Hợp xướng:
Rồi đám đông đang tụ tập kia đều lui về chỗ cũ của mình và trong
rương còn mỗi một que chưa ai bắt. Khi người tham dự không thấy con
số 1 ghi trên que của mình, họ như vỡ òa vì sung sướng. Thế nhưng
trong bọn có một người mà sự bất hạnh của luật nhân quả đã giáng
lên. Đó là cô gái nhỏ, con của hai người lữ khách. Cô bé ngã lăn ra,
mặt úp xuống đất. Ôi chao ôi, nước mắt cô tuôn ra ràn rụa.
(Thần chủ nói với người hầu cận)
Thần chủ:
Có phải lữ khách là một nhóm 3 người không? Thế sao họ chỉ trả lại
ta có hai que. Hãy đi tới gặp họ và đòi lại cái quẻ bói còn thiếu!
Hầu cận:
Xin tuân lệnh thầy. (Ông ta đi đến bên lữ khách). Này lữ
khách, hãy nghe ta nói. Bọn ông tất cả 3 người cớ sao chỉ trả về hai
quẻ bói. Hãy trình cho ta cái que còn thiếu vì ngài Thần chủ đang
đòi!
Người cha:
Hả? Chúng tôi đã trả lại hết rồi mà!
Hầu cận:
Có thấy đâu nào! Cái que của con bé còn chưa hoàn lại. (Ông bèn
lục soát đứa bé gái và tìm được quẻ bói bị thiếu) À, nó đây rồi!
Và quẻ bói này có đánh số 1.
Người mẹ:
Than ôi! Đúng là quẻ bói còn sót lại có đánh số 1. Buồn quá đi thôi!
Chúng ta đã từ giã kinh đô để sống đời phiêu bạt. Nếu chúng ta có đi
đến miền Đông xa xăm và đầy bất trắc này cũng chỉ vì muốn cho con
mình mai mốt có được một tương lai chắc chắn. Ba mẹ đã tin tưởng như
vậy nên mới cùng con làm cuộc hành trình gian khổ này. Giờ đây nếu
họ đoạt sinh mạng của con thì mẹ đây đâu còn biết sống để làm gì.
Ôi, sao mà tôi bất hạnh thế này!
Cô con gái:
Thôi ba mẹ ơi, đừng than thở nữa. Bởi vì nếu ba hay mẹ rút phải quẻ
này thì không biết thân con sẽ ra sao! Nhưng bây giờ con phải quyết
tâm rời bỏ mẹ cha. Ôi, thật là đáng tiếc.
Người cha:
Thật tình, thật tình, cha thấy tất cả đạo đức làm người đã nằm cả
bên trong câu nói của con. Lòng hiếu kính đọng lại chỉ trong một câu
thôi: “Nếu một trong hai người là cha mẹ của tôi bắt trúng quẻ này
thì tấm thân đứa con gái như tôi sẽ ra sao?” (Ông quay lại nói
với người mẹ đang khóc) Hãy tiến lên, hãy ra đằng trước mặt
những kẻ đó, dù họ sang hay hèn, và hãy nén lấy nước mắt! Anh và em
là cha mẹ của con, nỗi khổ của chúng ta có khác gì nhau. Dù ngay lúc
đầu, khi phải rút quẻ bói, anh đã linh cảm rằng tai họa sẽ giáng
xuống một trong ba đứa chúng mình. Thế nhưng giờ đây anh không làm
sao khóc được.
Người mẹ:
Em cũng từng suy nghĩ giống anh, nhưng hoàn cảnh đã xảy ra ngoài sức
chịu đựng của em. Đó là một hiện thực nên em không thể phản ứng cách
khác.
Người cha:
Và tới phiên người cha. Cho đến nay ông chưa hề phơi bày sự yếu đuối
và đã đoan chắc là lòng mình không lay chuyển.Thế nhưng nay ông đã
cảm thấy sự ràng buộc của tình phụ tử nên để cho nước mắt tuôn trào.
Người mẹ:
“Đây là sự thực hay chỉ là một giấc mơ thôi?” Người mẹ buồn bã ghì
lấy con.
Người cha:
Và người cha siết chặt cả hai.
Người cha và người mẹ:
“Trên thực tế, cái duyên của cha mẹ với con cái chỉ kéo dài nội
trong một kiếp (7). Này con gái ơi! Hãy nhìn mặt cha mẹ cho
thật kỹ vì chúng ta gặp con lần này là lần cuối”. Nhưng đôi mắt của
họ đã tối sầm lại và mỗi lúc mỗi nhòa thêm vì lệ.
Hợp xướng:
Trên núi Fuji khói tỏa. “Ôi, nỗi khổ của ta còn cao hơn cả núi. Bây
giờ tôi mới hiểu về mình vì biệt ly đúng là buồn thảm. “Trên cành
cây ủ rủ, hỏi có hoa nào nở được!” Phải rồi, hỏi có hoa nào nở được!
“Hãy cho tôi thấy dáng vẻ bên ngoài của nó, tôi sẽ biết bên trong
lòng nó thế nào!” (8). Tấm lòng của người viết nên những lời
thơ đó đã thấm vào da thịt của ta”.....
Đám đông bất luận kẻ sang người hèn khi nhìn thấy nỗi khổ của người
cha và người mẹ đều cảm thấy đồng tình. Do đó họ đã gào khóc trong
bóng chiều và đưa ống tay lên để lau nước mắt rồi cùng cất cao
giọng: “Ôi buồn làm sao cảnh tượng những cành cây ủ rủ và đẫm lệ, ôi
buồn làm sao quang cảnh những cành cây ủ rủ và đẫm lệ”.
(Đến đây là Nakairi, chỗ nghỉ giữa hai màn)
Có sự thay đổi về Shite. Maejite (người cha) nhường chỗ cho
Nochijite (Hi no miko no kami, vị thần hậu duệ Nữ Thần Thái Dương).
Phần sau: Cảnh tượng bên bờ đầm:
Thần chủ:
Giờ chấp hành đã điểm. Thần chủ và các thần quan trong đền, không
chừa một ai, nối đuôi nhau đi vòng quanh bờ đầm.
Hợp xướng:
Thế rồi người ta đã đặt nàng trinh nữ hứa dâng cho thần bên trên năm
tấm chiếu dày bằng rơm vào trong một chiếc bè trang trí bằng những
chùm giấy thiêng thắt lại với nhau (9)
Thần chủ:
Và Thần chủ tay cầm cái gậy trang trí một chùm giấy cuộn tròn, xướng
lên lời chúc từ (norito) khai lễ: “Kính cẩn cúi lạy thần linh và xin
khấn nguyện ngài. Hôm nay tại làng Shitataka thuộc địa hạt Fuji
trong tỉnh Sun (Sunshuu =Tuấn châu) (10) nước Đại Nhật Bản,
chúng con xin dâng lên Thần mãng xà của Đầm thiêng một nàng trinh nữ
trẻ trung làm vật tế sinh”.
Con xin được phép ngước nhìn ngài, ôi vị thần linh thiêng. Xin nài
cho biết chúng con phải làm gì? Xin cho đôi mắt như hai đóa hoa sen
xanh của ngài chiếu ánh sáng nhân từ, xin cho tám lỗ tai tôn quí như
tai nai đực (saoshika) của ngài nghe rõ lời khấn nguyện của chúng
con. Xin ngài vui lòng nhận cho của lễ này!”
Hợp xướng:
Khi mà vị Kakuô (Giác vương) Nyôrai (Như Lai) tức bậc giác ngộ ở
bản địa (honji) ra khỏi đô thành Jakuchô (Tịch Quang) (11)
nơi đầy ánh sáng thanh tĩnh....
Thần chủ:
... là để mang lấy hình hài cụ thể (zuishaki) trong một phút giây
nào đó (12)...Chúng sinh đang đắm chìm trong cõi mê lầm và
không ngừng gây thêm tội lỗi, nếu muốn được cứu vớt chỉ còn cách là
dâng vật tế sinh.
Hợp xướng:
Thần linh ơi, chúng con xin đội ơn ngài. Tuy nhiên, chỉ có ngài mới
có thể ngưng việc tế sinh ở cái đầm này cũng như nhấc đi được nỗi lo
lắng của dân chúng trong vùng. Ô kìa, hãy nhìn xuống mặt đầm, hãy
nhìn xuống mặt đầm. Đã có những ngọn sóng nhỏ lăn tăn dậy lên rồi
nước bắt đầu sôi sục và gió thổi đến dữ dội. Trong khi đó chiếc bè
màu đỏ vì trét chu sa đang lìa khỏi bờ và càng lúc càng bơi ra xa.
Người cha và người mẹ nhìn theo bóng chiếc bè vừa gào lên “Con ơi,
con!” trong khi đó đứa con gái tiếc nuối nhìn về phía họ và đưa tay
ra vẫy chẳng khác nào cánh tay của Công nương Saho de Matsura
(13) (vẫy gọi người yêu) khiến tất cả người có mặt phải rưng
rưng nước mắt và sụp xuống lạy. (Lúc này vị thần Hi no miko no
kami chợt hiện ra).
Thần Hi no Kami:
Như ta đây tên gọi Hi no miko no kami, sứ giả của thần núi Fuji.Ta
là một trong nhiều hậu duệ của Nữ Thần Thái Dương. Lần này, đứa con
gái của hai người lữ khách đã rút phải cái quẻ chỉ định kẻ làm vật
tế sinh và cha mẹ nó đang khổ đau cùng cực. Đến nỗi đám đông đang
đứng ven bờ đầm cũng mong sao kể từ ngay hôm nay, việc cúng người
làm vật tế sinh ở nơi đây phải được chấm dứt để vùng đất này tìm lại
sự bình an. Đó chính là...
Hợp xướng:
...“Đó là lời thần thác và ta truyền lại cho các ngươi hôm nay, đó
là lời thần thác và ta truyền lại cho các ngươi hôm nay”. Vừa lúc
đó, mây đang che phủ bầu trời bỗng tan đi, tiếng gió cũng im hơi.
Những ngọn sóng bạc không còn tụ lại nữa và mặt đầm giờ đã lặng yên.
Thần Hi no Kami:
Xưa kia trong vùng Izumo, đã từng xảy ra câu chuyện tương tự. Trên
thượng nguồn sông Hi (Hi no kawa), có cái đầm nơi một con mãng xà
đang náu mình. Người ta thường đem người sống làm vật tế sinh. Một
hôm đến phiên Công chúa Kushinada vốn là người con gái từ vùng đồng
ruộng. Nhưng vị thần Susano-wo-no-Mikoto (14) đã can thiệp và
ngài không để cho quái vật thoát thân. Ngài tuốt kiếm và chỉ bằng
một nhát, chặt phăng đầu của con mãng xà tám thân (Yamata no Orochi)
hung ác. Kể từ đó, không còn có gì xảy ra ở cái đầm ấy nữa.
Giống như câu truyện kể trên, con quái vật từng ám ảnh cuộc sống
vùng đất này bấy lâu đã bị Thần núi Fuji (Fuji Gongen) trừng trị, và
như thế,, từ hôm nay, cái đầm tế sinh này sẽ hết hoạt động. Đó là
lời thần thác cho ta để báo cho các ngươi hay. Hãy đẩy mái chèo đưa
cái bè kia về nơi xuất phát và trả đứa con gái lại cho cha mẹ thân
yêu của nó”.
Sau khi nói xong những lời đó, thần Hi no Miko vừa chiếu ánh sáng
lấp lánh khi vượt qua những chòm mây trắng để bay vút lên trời cao
về phía đỉnh Fuji. Thần đi xuyên qua những lớp tuyết và xé màn sương
mù, thần đi xuyên qua những lớp tuyết và xé màn sương mù, rồi bay
lên mãi cho đến khi về tới cung điện của mình.

Thần Susano-wo-no-Mikoto giết mãng xà 8 thân

Vương phi Tachibana-hime làm vật hy sinh cho thần biển
Phần
chú thích:
(1) Ý
thơ của vương tử Ariwara no Narihira, có chép trong Ise Monogatari (Truyện
Ise). Ông vịnh đóa hoa xương bồ gặp trên đường nhân khi cùng với mấy
người bạn đi về miền Đông và đến được vùng Mikawa (nay gần Nagoya,
tỉnh Aichi). Vì giống xương bồ (ayame, iris) đó có tên là
Kakitsuhata nên 5 câu thơ lần lượt bắt đầu bằng 5 âm tiết Ka-Ki-Tsu-Ha-Ta.
Về nội dung thì nó bày tỏ tấm lòng của chàng thương nhớ người yêu ở
kinh đô (xem hình ảnh người yêu đang ở miền xa như tấm áo đẹp mình
đã mặc quen trên người suốt cuộc lữ hành).
(2)
Những địa danh như Mikaiwa, Yatsuhashi, Kumode...đã xuất hiện trong
Ise Monogatari (Truyện Ise) cũng như trong một bài thơ tình do tác
giả vô danh sáng tác và được chép ở Zoku-Kokin shuu (Tục Cổ Kim Tập)
và đã trở thành hình ảnh ước lệ của loại văn đi đường..
(3)
Đoạn này, tác giả dùng nhiều lần thủ pháp chơi chữ: các địa danh như
Matsumoto, Ôwari, Ômi, Tôtômi vv...đều được dùng với nghĩa đen và
nghĩa bóng.
(4)
Trung Hữu (Chuu-u) hay Trung Ấm (Chuu-in) trong tín ngưỡng Phật giáo
là khoảng thời gian 49 ngày sau khi chết, lúc kẻ quá cố còn chưa
được đi đầu thai.
(5) Đề
tài của các vũ khúc Kagura (Thần nhạc) này được trực tiếp lấy ra từ
bộ cổ sử Kojiki (Cổ Sự Ký).
(6)
Thành ngữ đời xưa chủ trương rằng liên hệ cha mẹ với con cái chỉ
giới hạn trong một kiếp, trong khi giữa vợ chồng là 2 kiếp và giữa
thầy trò, chủ tớ là 3 kiếp (kiếp trước, kiếp hiện tại và kiếp sau).
Không hiểu vì lý do gì!
(7) Ý
một câu thơ của Thái thượng hoàng Go-Shirakawa chép trong Truyện
Heike.” Hãy cho ta xem thịt (mi) một trái cây, ta sẽ biết trong ruột
nó thế nào”.
(8) Có
lẽ là lớp tuyết trùm lên đỉnh núi Fuji nơi thần núi ngự trị?
(9) Gọi
một cách tôn kính là Gohei (ngự tệ) vốn làm bằng những chùm giấy
trắng hay giấy màu (kim ngân, ngũ sắc) và được buộc vào một cành tre,
dùng với tính cách bùa chú trong Thần đạo. Cách trang trí này thay
đổi tùy theo vai trò vị thần đối tượng của sự cầu xin..
(10)
“Tuấn” là “ngựa hay. Tuấn châu” là tên văn vẻ của vùng Suruga (Tuấn
Hà)..
(11)
Đoạn này thể hiện khuynh hướng kết hợp Thần Phật của Thần đạo (Thần
Phật đồng thể thuyết) khi xem những vị thần bản địa (honji =Nhật Bản)
là hóa thân của chư Phật và chư Bồ Tát vì muốn cứu đời nên phải hóa
thân cho thích hợp (suijaku) với hoàn cảnh của Nhật Bản (Thuyết bản
địa thùy tích = Honji Suijaku)..
(12) Có lẽ
Thần chủ muốn xem núi Fuji nơi có thần mãng xà này là hóa thân của
Phật Như Lai, đã hiện ra với hình dáng cụ thể để mọi người có thể
thấy được?.Trong Thần đạo, một hòn núi linh thiêng tự nó có thể là
một vị thần.
(13)
Thời cổ đại, có nàng Saho sống ở Matsura vùng Hizen trên đảo
Kyuushuu đã có một đêm ân ái tuyệt vời với người yêu là chàng Otomo
no Sadehiko, một chiến binh trên đường sang đánh Triều Tiên. Sáng
hôm sau nàng lên đỉnh núi Kagamiyama (Kính sơn) vẫy tay áo để tiễn
chàng đi. Chuyện về nàng có ghi lại trong 2 bài thơ của Man Yôshuu (Vạn
Diệp Tập, bài 874 và 875).
(14) Tương
truyền ông là người em trai ngỗ nghịch nhưng dũng mãnh của Nữ Thần
Thái Dương Amaterasu. Câu chuyện này đã được ghi lại trong chương 9,
quyển thượng của Kojiki (Cổ Sự Ký).
Lạm bàn của người dịch:
Ikenie được viết bằng chữ Hán với hai tự dạng khác nhau nhờ ở khả
năng hoán chuyển thấy trong văn tự Nhật Bản. Khi viết là sinh chí
生贄
thì nó có nghĩa là lễ vật (chí贄)
bằng con vật tế sinh (sinh生
/
牲)
còn khi viết bằng trì chí
池贄
có nghĩa là lễ vật cúng cho Hà Bá hay thần sống dưới nước bởi vì trì
池
là cái ao hay đầm nước.
Việc tế sinh đã có từ lâu đời trong lịch sử nhân loại. Sách Lê Vi Ký
của Kinh Thánh Cựu Ước có thuật chuyện dân Do Thái đã dùng dê (yagi)
tế thần, lấy máu nó để chuộc tội. Chúa Jesus Christ cũng ví việc
chết thay cho tội lỗi loài người của mình như chiên (cừu) con bị đem
ra dùng vào việc tế sinh.
Các nền văn minh cổ đại như ở Mexico hay Hy Lạp đều có việc tế sinh
này. Ở Trung Quốc có truyện quan Thái
thú Tây Môn Báo thời Chiến Quốc đã bài trừ hủ tục Hà Bà lấy vợ ở đất
Nghiệp bằng cách liệng bọn đồng cốt và hương đảng tham ô và hại dân
xuống đáy sông. Quốc gia Nam Mỹ như Peru có ghi lai một cuộc tế sinh
140 trẻ con vào khoảng năm 1400. Quốc gia Á châu như Nepal thì tục
lệ tế sinh rất phổ biến trong Ấn giao đến nỗi nhà nước phải đợi đến
năm 2015 mới ra được luật cấm tuy đến năm 2019, tục lệ đó (bằng súc
vật như trâu bò) hãy còn tồn tại.
Ở Nhật Bản, sách Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) có chép việc tế sống
bằng bò ngựa vào năm 642. Các cuộc khai quật khảo cổ trên đất Nhật
cũng cho thấy vào thế kỷ thứ 6 và 7 đã có nhiều cuộc tế lễ (chẳng
hạn để cầu mưa và tránh dịch lệ) bằng cách hy sinh bò, ngựa. Nó được
chứng minh bằng con số xương bò và ngựa đào được. Hai giống thú này
là những súc vật quí trong nông nghiệp nên việc dùng chúng để giảm
bớt cơn thịnh nô của chư thần là việc chẳng đặng đừng.
Sách Kojiki (Cổ Sự Ký), quyển thượng, có kể lại việc thần Susano-wo
no Mikoto đã giết con mãng xà tám thân (Yamata no Orochi) để cứu
nàng con gái đẹp Kushinada-hime bị bắt làm vật tế sinh và sau đó,
thần đã cưới nàng làm vợ. Nó có nhiều điểm tương tự truyền thuyết
Thạch Sanh chém chằng cứu công chúa. Ngoài ra ở quyển trung của
Kojiki cũng có truyện người vợ của Hoàng tử Yamato Takeru (Nhật Bản
Vũ Tôn) là nàng Tachibana-hime đã nhảy xuống biển Uraga làm vật hy
sinh để hải thần ngưng gây sóng gió nhằm nhận chìm chiếc thuyền mà
vợ chồng họ đang đi.
Kể từ đó, việc cúng thần bằng tế thịt sống hay thịt chín đã lan
truyền trên khắp nước Nhật và được ghi chép trong ký sự của nhiều
địa phương. Ngoài ra vào thời xa xưa, tục lệ cột người gọi là
hitobashira (nhân trụ) thường là tử tù vào chân cầu để làm vật tế
cầu cũng thấy ở Nhật. Tuy không cùng bản chất với ikenie nhưng có
chung hình thức.
May thay, câu chuyện giết mãng xà cứu người đẹp của Susano-wo-
no-Mikoto trong thần thoại và sự can thiệp của thần Hi no miko ở
đoạn kết của vở tuồng này đã đánh dấu cố gắng của xã hội Nhật Bản cổ
đại nhằm bài trừ một hủ tục do mê tín đã tồn tại suốt thời tiền sử.
Tôkyô ngày 6 tháng 5 năm 2020
Thư Mục Tham khảo:
1)
Ikenie (Vật tế sinh / Cái chết bắt thăm), Ôwada Tateki, Yôkyoku
Hyôshaku, (Bình luận và chú thích Dao Khúc), 1908,
Hakubundô , Tôkyô xuất bản. (Từ trang mạng Thư Viện Quốc Hội Nhật
Bản).. Nguyên tác cổ văn.
2)
Ikenie (Vật tế sinh / Cái chết bắt thăm) trong La landes des
mortifications. Vingt-cinq pièces de Nô (Cõi thống khổ. Hai mươi lăm
vở tuồng Nô). Do Armen Godel và Koichi Kano dịch sang Pháp văn.
Gallimard, Paris 1994. Bản ngoại văn tham chiếu.
|