TRUYỆN ISE (I)

Tác phẩm cổ điển trong thể loại truyện thơ Nhật Bản

(Ise-monogatari - 伊勢物語, thế kỷ thứ 10)

Nguyên bản: Tác giả vô danh

Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

Người canh cửa bên bức tường lở (Đoạn 5) 

Giới thiệu:

Truyện mang tên Ise 伊勢物語, địa danh cũ của phân nửa tỉnh Mie, miền trung Nhật Bản bây giờ, không biết do ai viết nhưng được ước định đă ra đời vào khoảng đầu đến giữa thế kỷ thứ 10 (905-951), hầu như cùng thời đại với Truyện lăo tiều đốn trúc (Taketori Monogatari竹取物語). Theo học giả Kenneth Yasuda – giáo sư Đại học Indiana – qua nội dung đoạn 106 th́ tác giả của nó phải là một người đàn ông và có thể là nhà quí tộc Fujiwara no Toshiyuki 藤原敏行 (mất năm 907), ít nhất ông này đă viết ra văn bản đầu tiên trước khi những người khác thêm thắt và hoàn thành. Toshiyuki là anh em vợ của nhân vật chính (Ariwara no Narihira) nên có cơ hội sử dụng như tư liệu những bài waka từ ca tập của ông này. Toshiyuki cũng đủ tài năng viết cuốn truyện v́ ông là một nhà thơ nổi tiếng đương thời, có chân trong “Tam thập lục ca tiên” tức những nhà thơ lỗi lạc nhất của giai đoạn Nara và Heian (710-1185). Về niên đại sáng tác th́ dịch giả người Pháp G. Renondeau đă dựa vào thời điểm ra đời của các thi tập waka soạn theo sắc chiếu có chép thơ Narihira như Kokinshuu (Cổ Kim Tập, 905) hay Gosenshuu (Hậu Soạn Tập, 950).

 

Phải chăng Fujiwara no Toshiyuki là tác giả Truyện Ise?

 

Trở lại với nội dung của cuốn truyện, ta biết nó xoay chung quanh cuộc đời t́nh ái của nhân vật được phỏng đoán là Ariwara no Narihira在原業平 (Tại Nguyên, Nghiệp B́nh, 825-880), ḍng dơi Thiên hoàng Kanmu (trị v́ 782-805) và con trai ông là Heijô (hay Heizei, trị v́ 806-809). Trong truyện, Ariwara được nhắc đến một cách kín đáo là « Mukashi, otoko » (Xưa, có một chàng trai ... ). Truyện gồm 125 đoạn ngắn, lấy thơ làm phần chủ yếu cho mỗi đoạn. Nhân vật chính, «Xưa, có một chàng trai ... » của cuốn truyện, vốn con nhà hoàng tộc, v́ gặp buổi quyền thần (đại tộc Fujiwara) khống chế, đâm ra buồn rầu nên ngụp lặn trong ṿng t́nh ái. Dĩ nhiên, nhân vật chính nầy không rập khuôn chàng Ariwara no Narihira ngoài đời mà được mô tả tự do theo hư cấu. Sự thực th́ có một vương tử điển trai và đa t́nh tên gọi Ariwara no Narihira, sự tích được ghi lại trong bộ sử Sandai jitsuroku (Tam đại thực lục, 901). Chàng là con trai thứ 5 của một hoàng tử (Thân vương Apo, 792-842) và làm tướng trong đội ngự lâm quân, nổi tiếng v́ tính trăng hoa và tài làm thơ waka. Có thể những bài waka gán cho Narihira chỉ là tác phẩm của thi hào Ki no Tsurayuki hay một người nào khác có tầm cỡ như vậy và được đem đăng vào Kokin-shuu (Cổ Kim Tập). Nói chung, Ariwara no Narihira là h́nh tượng chàng Don Juan trong văn học Nhật, không khác chi ông hoàng đa t́nh Genji của Murasaki Shikibu thời Heian và chàng trai phóng đăng Yonosuke của Ihara Saikaku thời Edo.

Tuy luyến ái nhớ nhung giữa nam nữ là cốt lơi nhưng Truyện Ise cũng nói đến những t́nh cảm quyến luyến (omoi思い) khác như t́nh gia tộc, t́nh bằng hữu. Ise-monogatari đă để lại ảnh hưởng quan trọng đến các tác phẩm đời sau. Ban đầu, Truyện Ise chỉ mô phỏng theo tập thơ cá nhân của Ariwara, sau đó lại được bổ sung để trở thành  Truyện Ise hiện tại. Truyện nầy c̣n được gọi là Zaigo chuujô monogatari (Tại ngũ trung tướng vật ngữ) hay Zaigo monogatari (Tại ngũ vật ngữ) v́ Zaigo Chuujô là tên hiệu và chức tước của Ariwara.

Văn chương trong Ise cũng thô sơ như văn của Taketori Monogatari (Truyện lão tiều đốn trúc) nhưng nhờ xen kẻ tản văn và waka nhiều hơn nên có một nét duyên dáng đặc biệt. Câu chuyện kể từ lúc nhân vật làm lễ đội nón (sơ quán = uikôburi) nghĩa là thành nhân cho đến lúc lâm chung. Tuy tâm điểm của câu chuyện là mối t́nh của vai chánh (Ariwara no Narihira) với nàng công chúa chưa chồng được chọn đi tu là Ise no Saiguu (Y Thế Trai Cung) (đoạn 69) nhưng truyện cũng đề cập đến các nhân vật nam, nữ khác (trong đó có mối t́nh thầm vụng của « chàng » với người sau này sẽ là Hoàng thái hậu Nijô) và những h́nh thức thể hiện t́nh yêu nơi con người nói chung. Điều này cho ta thấy quan niệm t́nh yêu rất rộng răi của người đương thời, không nề hà giai cấp (hoàng hậu) hay tôn giáo (công chúa đi tu). Nhân vật nam không hề bị trói buộc bởi tư tưởng Nho, Phật hay cả Thần Đạo.

Tuy nhiên, đặc sắc nhất có lẽ là chuyện t́nh của Ariwara no Narihira với một bà lớn tuổi yêu chàng, chứ không phải với những cô trẻ đẹp mà chàng chạy theo. Câu cuối của truyện đó phản ánh triết lư của tác giả :

« Ở đời, người ta chỉ quan tâm đến người họ yêu mà hờ hững với người họ không yêu. Thế nhưng cách sống của chàng Ariwara no Narihira là không phân biệt kẻ chàng yêu với kẻ chàng không yêu ».

Chủ đề của Ise là sự yêu chuộng và đi t́m cái cao nhă (miyabi) tức vẻ đẹp lư tưởng theo lối suy nghĩ của giới quí tộc Heian, phân biệt với cái thô lậu quê mùa (hinabi, inakabi) trong dân gian. Qua những vần waka tặng qua đáp lại, Truyện Ise tạo nên một không khí mơ hồ, khơi gợi trí tưởng tượng của độc giả, dẫn đường họ vào thế giới trữ t́nh của truyện kể một cách tự nhiên. Ise được xem như một truyện thơ (uta.monogatari 歌物語) tối cổ c̣n giữ được. Nó sẽ ảnh hưởng nhiều đến các tác phẩm uta-monogatari đi sau như Yamato, Heichuu và Genji. Đi xa hơn nữa, sự cao nhă (miyabi) c̣n liên quan đến quan niệm mỹ thuật gọi là yuugen (u huyền) thấy trong các yôkyoku (dao khúc) tức ca từ để hát trong tuồng Nô thời trung cổ, cũng như mỹ quan nghệ thuật tạo h́nh thời Edo của phái Kôrin (光琳), các tác phẩm tiểu thuyết loại « đắm sắc » (kôshoku好色) của Ihara Saikaku lẫn văn du ký của Bashô. Ảnh hưởng của Ise vào thời ấy c̣n được thấy qua sự xuất hiện của Nise Monogatari “Truyện Ise giả mạo » và Kuse Monogatari “Truyện thói tật » (hay cá tính) của Ueda Akinari. Dịch giả H. Jay Harris lại nhắc đến các bức tranh khắc gỗ thuần Nhật (Yamato-e) của họa phái Tosa với họa sư Suminokura Sôan (1571-1632) mà chủ đề chính là Truyện Ise. Bộ tranh ấy gồm 2 tập với 49 bức Tất cả cho thấy ảnh hưởng của Truyện Ise nhiều lần đi ra ngoài lănh vực văn học.

Truyện Ise có đặc điểm là chứa đựng 209 bài thơ làm theo thể tanka với 31 âm tiết (5/7/5/7/7). Bản dịch sau đây của chúng tôi dựa trên bản cổ văn Truyện Ise của thi hào và cũng là nhà nghiên cứu Fujiwara no Teika 藤原定家 (gọi là bản Teika = Teikabon定家本) tàng trữ tại Đại học Gakushuuin (Học Tập Viện), Tokyo, đă được học giả Ishida Jôji thông dịch sang kim văn và chú thích tường tận. Chúng tôi cũng tham khảo một bản chuyển thể sang kim văn khác, gọn ghẽ hơn, của nữ văn sĩ hiện đại Tanabe Seiko. Phần b́nh luận là bản tổng hợp ư kiến các nhà văn Nhật và ngoại quốc, trong đó có Ishida Jôji, Kenneth Yasuda, H. Jay Harris và G. Renondeau (xem Thư mục tham khảo ở cuối bài). Các phần là do dịch giả đặt ra để tiện theo dõi, còn các đoạn thì đã có nhưng nguyên lai không có tiểu tựa, chúng tôi đặt thêm dựa trên ư kiến của hai dịch giả Ishida Jôji và Tanabe Seiko tùy theo trường hợp.

Nguyên tắc chính của việc dịch thuật lần này không phải là trực dịch (bám sát câu chữ) nhưng là thông dịch, sao cho ư nghĩa hiển lộ lẫn ư nghĩa tiềm ẩn đều được phơi bày trước mắt độc giả.

 

Nguyên Văn

Phần I: Từ đoạn 1 đến 25

Đoạn 1 : Tuổi thành nhân

Xưa có một chàng trai vừa đến tuổi búi tóc đội mão, một ngày lên đường săn bắn ở làng Kasuga, vùng ngoại ô kinh đô Nara. Đây là nơi gia đ́nh chàng có thực ấp. Khi nḥm trộm qua hàng rào nhà kia, chợt thấy hai chị em cô gái xinh đẹp mỹ miều, với phong thái linh hoạt nơi thôn dă (khác với cung cách nhàm chán ở kinh đô), bèn đâm ra mê mẩn. Chàng làm ra vẻ người lớn, cắt vạt áo bào của ḿnh và đề một bài thơ tặng mỹ nhân. Áo của chàng mặc vốn in mẫu h́nh nhuộm bằng nước cỏ Shinobu (Cỏ nhớ nhung) :

Kasugano no / wakamurasaki no / surigoromo / shinobu no midare / kagiri shirarezu /

Trên đồng Kasuga / Người đẹp hoa xinh nơn /Như vân áo chằng chịt / Ḷng ta cũng rối bời /

Qua đó, chàng mượn ư một bài waka của một người đời xưa là Minamoto no Tôru. Bài thơ đó như sau:

Michinoku no / shinobu mojizuri / tare yue ni / midaresome ni shi / ware nara naku ni /

(Vùng Michinoku / Có loại Cỏ nhớ nhung / Bao người xưa nhuộm áo / Nào phải một ta đâu)

Người ngày xưa thanh nhă như thế đấy.

Lời b́nh (1):

Xưa kia trong giới vương hầu quí tộc ở Nhật, búi tóc đội mũ (sơ quán 初冠= uikôburi) hay genpuku 元服 (nguyên phục) là dấu hiệu trưởng thành, có đủ tư cách nối nghiệp và kết hôn. Ông hoàng Genji làm lễ ấy năm 12 tuổi và ngay đêm hôm đó, đă được sắp xếp để ngủ chung giường với một công nương (phong tục gọi là soine添寝) con gái quan đại thần (xem chương Kiritsubo). Chàng thiếu niên trong đoạn 1 này có lẽ tuổi cũng chỉ từ 12 đến 15.

Thời điểm câu chuyện có lẽ là dưới triều Nara (710-784), lúc trai gái c̣n bị cấm gặp nhau nếu không có quan hệ chính thức. Cách cắt vạt áo đề thơ tỏ t́nh là phong cách đương thời và nó biểu hiện thẩm mỹ của văn hóa ưu nhă, tinh tế cung đ́nh (miyabi). Thế nhưng mẩu h́nh in trên áo bằng lá cây dương xĩ là một thủ công nghệ ngành nhuộm của vùng Shinobu thuộc Michinoku (nay là khu vực Đông Bắc đảo Honshuu). V́ Shinobu ngoài là địa danh c̣n có nghĩa là nhớ nhung nên tác giả đă ghép vào để chơi chữ ở đây. Hơn nữa, nó c̣n liên quan đến giai thoại về mối t́nh ngắn ngủi giữa Tả đại thần Minamoto no Tôru (822-895) và một người con gái miền Đông Bắc khi ông có dịp ghé qua vùng.

Đoạn 2: Cô gái Tây kinh

Xưa, có một chàng trai sống vào thời mà Nara đă trở thành kinh đô cũ. Kinh đô mới nằm ở miền Tây, nhà cửa bấy giờ hăy c̣n chưa đâu vào đấy. Nơi đây, có một nàng con gái vốn không phải là phụ nữ tầm thường như các cô khác. Vẻ đẹp của tâm hồn của nàng c̣n cao sang hơn cả dung mạo. H́nh như nàng cũng đi lại với nhiều người đàn ông.

Chàng trai bèn đến tỏ t́nh yêu chân thành của ḿnh. Đêm ấy tṛ chuyện đă xong, khi trở về, chàng càng đem ḷng tơ tưởng. Trời đă bắt đầu tháng ba, mưa xuân lâm râm làm con tim chàng sướt mướt. Mới vịnh một bài thơ:

Oki mo sezu / Ne mo se de yoru wo / Akashite wa / Haru no mono to te / Nagame kurashitsu

(Ta từ nơi em về / Trằn trọc đến hừng sáng / Mưa xuân dài bất tận / Lại một ngày ngóng trông) 

Lời b́nh (2):

Kinh đô phía Tây (Tây kinh = Heian) lúc đó chưa xây dựng hoàn chỉnh, nhà cửa hăy thưa thớt. Một bầu không khí cô quạnh hoang vu c̣n vây bọc toàn cảnh. Thời tiết là mùa xuân, lúc mưa phùn c̣n dây dưa rắc hạt, đă giúp tác giả sử dụng cách chơi chữ nagame (= naga-ame長雨, mưa dầm) và nagame (naga-me 長目= nhớ mong). Việc đặt bút làm một bài thơ sau lần gặp gỡ để bày tỏ t́nh cảm cho nhau c̣n là một nghi thức xă hội thanh nhă của người đương thời.

Đoạn 3: Rong biển

Xưa có một chàng trai khi đem rong biển hijiki (鹿尾菜xưa đọc là hijikimo) gửi tặng cho người ḿnh yêu dấu, có kèm theo vần thơ như sau:

Omoi araba / mugura no yado ni / ne mo shinamu / hishikimono ni wa / sode wo shitsutsumo /

(Nếu nàng rủ ḷng thương / Th́ cỏ rậm nhà hoang / Áo xống lót làm giường / Ta cũng không quản ngại)

Câu chuyện này xảy ra khi Hoàng hậu Nijô chưa vào hầu hoàng thượng và hăy c̣n là một cô con gái nhà dân.

Lời b́nh (3):

Hijikimo (Hijikia fusiforme, duckweed) là tên một loại rong màu đen, món ăn được người Nhật yêu chuộng. Chữ này gợi độc giả liên tưởng tới hishikimono vốn có là chăn nệm trải giường. Ở đây, người con gái mà Narihira tỏ t́nh là nàng Takako 高子, con gái của quan tham nghị (cố vấn) hàm nhị phẩm Fujiwara no Nagayoshi (802-856). Cô gái sau này sẽ được tuyển vào cung và thành người vợ thứ hai của Thiên hoàng Seiwa (Thanh Ḥa). Khi con trai ông bà là Thiên hoàng Yôzei (Dương Thành) lên ngôi, bà trở thành Hoàng thái hậu nhưng lại bị tước hết chức danh cao quí v́ tội “thiếu phẩm hạnh”. Bà mất vào năm 901 ở tuổi 69.

Bà thiếu phẩm hạnh thế nào th́ sự việc sẽ được đề cập đến trong đoạn sau.

Đoạn 4: Đâu trăng xưa?

Xưa kia, lúc Hoàng thái hậu c̣n ngự trong cung nằm trên phố Gojô ở phía đông kinh đô, phía tây ngôi nhà ấy có một người con gái sinh sống.

Chàng trai biết là một mối t́nh cấm đoán nhưng không cưỡng nỗi sự say mê. Chàng thường xuyên t́m đến nàng con gái nhưng vào ngày 10 tháng giêng năm đó bỗng cô ấy dọn nhà đi đâu mất. Hỏi thăm tông tích mới biết nơi đó là một chốn mà người thường không thể héo lánh, chàng bèn ngậm hờn sống những ngày cay đắng.

Tháng giêng năm sau, khi hoa mơ đang độ nở, chàng trai nhớ lại ngày này năm ngoái, t́m đến chỗ nàng từng cư ngụ. Hết đứng lại ngồi, bồi hồi nhớ về kỷ niệm xưa. Đưa mắt nh́n quanh nhưng nào thấy bóng dáng ngày nào, chỉ biết khóc tức tưởi. Ḷng buồn bă, chàng bèn ngả lưng xuống sàn ván thô lạnh. Đến khi trăng mọc mới ngâm bài thơ như sau:

Tsuki ya aranu / haru ya mukashi no / haru naranu / wa ga mi hitotsu wa / môt no mi ni shite /

(Trăng, xuân của đêm nay / Nào phải trăng, xuân xưa / Riêng ḿnh ta một bóng / Vẫn là ta thuở giờ )

Suốt đêm, chàng hồi tưởng kỷ niệm từng có với nàng. Đến khi trời sáng, lại than khóc rồi mới ra về.

Lời b́nh (4):

Gojô (Ngũ điều) là con đường số 5 trong thành phố Kyôto vốn được chia cắt theo h́nh ô bàn cờ. Hai dăy nhà bên cung hoàng hậu (taiya 台屋) là nơi các người giúp việc cho bà cư ngụ. Nàng con gái ở đây không ai khác hơn là bà Takako (Kôshi, Cao tử, xem Đoạn 3). Còn bà hoàng thái hậu nói đến trong đoạn này là bà Nobuko (Junshi, Thuận tử), con gái đại thần Fujiwara no Fuyutsugu. Bà là hoàng hậu của Thiên hoàng Ninmyô (Nhân Minh). Takako lúc ấychưa trở thành một Hoàng thái hậu như định mệnh cao quí của nàng sẽ đưa đẩy.

Chuyện t́nh giữa đôi nam nữ Narihira và Takako này thật thanh nhă và diễn ra trong buồn đau và câm nín. Biết là trái cấm mà người con trai cũng phải đụng vào, đang yêu thương khắng khít mà người con gái cũng đành lặng lẽ bỏ đi. Nên để ư đến sự giao ḥa của con người và khung cảnh thiên nhiên (hoa xuân, trăng xuân) qua cái cảnh chàng trai về thăm chốn cũ nhớ lại ngày này năm ấy. Bài thơ trong đoạn 4 của tác phẩm là bài thường được người đời sau nhắc đến nhiều nhất.

Đoạn 5: Bờ tường lở

Xưa có một chàng trai, thường tránh mắt người đời, qua lại ở khu Gojô phía đông kinh thành. V́ đây là chốn nếu bị kẻ khác bắt gặp là khốn nên chàng tránh không đi vào cổng chính mà chỉ mượn bờ tường lở do bọn trẻ con dẫm đạp măi thành đường. Tuy nhà này không có nhiều kẻ ra vào nhưng v́ chàng trai đến quá thường xuyên nên chủ nhân của ngôi nhà đâm ra e ngại, mỗi đêm đặt người canh gác. Chàng trai tuy tới nơi nhưng hết cơ hội gặp gỡ nàng, đành phải ra về. V́ t́nh cảnh như thế, chàng mới thốt ra những vần thơ:

Hito shiranu /wa ga kayoiji no / sekimori wa / yoiyoigoto ni / uchi mo nenaramu /

(Lối nhỏ mỗi đêm qua / Nào đă ai hay biết / Người canh nếu thương ta / Ngủ ngon, đừng dò xét!)  

Người con gái v́ thế hết sức đau khổ. Quá tội nghiệp cho nàng, chủ nhân (tức hai ông anh) đành dẹp bỏ người canh.

Chàng trai cố tránh mắt người đời để đến thăm Hoàng hậu Nijô nhưng v́ thế gian nhiều lời đồn đại nên các anh của nàng mới phải cắt đặt người canh cửa.       

Lời b́nh (5)

Chỉ cần nói đến khu vực Gojô và mô tả khung cảnh là đủ biết hai nhân vật là đôi uyên ương Narihira và Takako. Thực vậy, Hoàng thái hậu Nijô (như đă nói, bà Fujiwara no Takako thời trẻ có sống ở khu Gojô). Lối gọi người bằng chỗ cư ngụ (Ichijô, Nijô, Sanjô, Shijô, Gojô, Rokujô...) đă có từ xưa. Trong Truyện Genji chẳng hạn, cũng có nhiều ví dụ như thế. Câu cuối cùng nói trắng tên họ như thế chắc là do người đời sau thêm vào chứ thời đó vốn không phải là điều cần thiết. Về “chủ nhân” th́ không phải là nàng Takako mà là hai anh trai, có thể hiểu là Fujiwara no Kunitsune (828-908), ông anh cả và Mototsune (836-891) v́ hồi đó, đàn ông con trai mới nắm quyền trong nhà.

Nói là “tránh mắt người đời”, “bí mật” nhưng thực ra chỉ là chưa được chính thức hóa trên danh nghĩa chứ các cuộc hẹn ḥ ngày xưa giữa nam nữ quí tộc đều xảy ra trước mặt nhiều người như kẻ ăn người ở và lính tráng hộ vệ.

Đoạn 6: Bị quỷ sứ nuốt trọn

Xưa, có một chàng trai bao năm tiếp tục đeo đuổi một người con gái có địa vị cao sang (xem như đóa hoa trên đỉnh núi cao) mà đáng lư ra chàng không có quyền với tới. Rốt cuộc, một đêm nọ, lợi dụng bóng tối, chàng đến lén bắt cóc nàng đi trốn, đến được bờ con sông Akutagawa. Bèn đặt nàng lên thảm cỏ c̣n ướt sương lấp lánh. Nàng thấy thế bèn hỏi: “Cái này là chi vậy anh?”

Chỗ chàng muốn đưa nàng đến hăy c̣n xa mà trời đă khuya khoắt, sấm chớp đùng đùng, mưa giông sắp đến, chàng mới đẩy nàng vào sâu bên trong một nhà kho bỏ hoang để tạm trú, c̣n ḿnh th́ mang cung tên trấn giữ ngoài cửa. Ḷng chàng những mong sao cho trời chóng sáng. Thế nhưng không ngờ nàng đă bị quỷ sứ nuốt trọn. Nàng chỉ kịp kêu một tiếng “Ối, chao ôi!”(Ana ya) nhưng sấm đă che lấp, nó không đến tai chàng. Ngày hôm sau trời dần dần sáng, mối lo cũng vợi nhưng khi quay lại nh́n th́ chàng thấy người con gái đă biến đi đâu mất. Chàng dậm chân than khóc mà chẳng làm được ǵ hơn.

Shiratama ka / nanzo to hito no / kiishi toki / tsuyu to kotaete / kienamashi mono wo

(Nàng hỏi ngọc đây chăng? Trả lời chỉ là sương / Ôi, phải chi thân ta / Cũng tan theo sương khói!)

Đây là câu chuyện xảy ra thời Hoàng thái hậu Nijô (Takako) c̣n là cung nữ hầu cận bên cạnh bà chị họ của ḿnh là Hoàng phi Akiko. Takako nhan sắc tuyệt trần nên đă bị một chàng trai bắt cóc, cơng trên vai đưa nhau đi trốn. Hai người anh của bà là đại thần (Otodo) Horikawa và quan tham nghị cấp cao (Dainagon) Kunitsune - lúc ấy c̣n giữ chức thấp - trên đường vào cung chợt thấy người con gái đứng khóc bù lu bù loa nên đă bắt lại đưa về. Điều đó được nói bóng gió thành chuyện “bị quỷ ăn thịt” nói trên.

C̣n bản thân Hoàng hậu Nijô th́ lúc ấy bà cũng hăy c̣n rất trẻ và chưa có danh phận ǵ.

Đến bên bờ sông Akuta (đoạn 6)

Lời b́nh (6):

H́nh như câu chuyện cô gái bị bắt cóc và bị quỷ nuốt này được dàn dựng lên theo mô-típ truyện kể dân gian để nói khéo về việc “thiếu phẩm hạnh” của bà Takako và tạo dịp đưa bài thơ của Narihira vào truyện.

Bà Fujiwara Akiko (Minh tử, 829-900) là một người chị họ của Takako (842-910), hoàng phi của Thiên hoàng Montoku (Văn Đức, trị v́ 850-858) và là mẹ Thiên hoàng Seiwa (Thanh Ḥa, trị v́ 859-876). Akiko sẽ thành mẹ chồng của Takako khi nàng nhập cung Seiwa. Về hai ông anh th́ đây là chức danh của họ, những người đă được nhắc đến trong các đoạn trước.

Đoạn 7: Như sóng vỗ bờ

Xưa có một chàng trai thấy ḿnh khó sống ở kinh đô bèn đi về miền Đông (Azuma). Khi đang đi dọc theo băi biển ở nơi tiếp giáp các vùng Ise, Owari, nh́n thấy những ngọn sóng trắng xóa thi nhau tấp vào bờ, mới có mấy vần thơ:

Itodoshiku / sugiyuku hô no / koishiki ni / urayamashiku mo / kaeru nami kana /

(Đi xa càng thấy nhớ / Nơi ḿnh vừa bỏ đi / Thèm như sóng xô bờ / Lui ra rồi tấp lại)

Lời b́nh (7):

Một ghi nhận về đoạn này là cách chơi chữ yama (núi) trong urayamasahi (thèm được như). Đoạn đường lữ thứ có nhiều khi phải trèo non vượt suối chăng? Thấy như h́nh ảnh trong tranh khắc gỗ đặc biệt là tranh Hokusai!

Khoảng năm 1968, có bài hát “Ai no sasanami” (Những con sóng nhỏ của tình yêu) do nữ ca sĩ Shimakura Chiyoko trình bày rất ăn khách. Trong đó có câu “Kurikaeshi, kurikaeshi, sasanami no yô ni” (Như những con sóng nhỏ. Mãi mãi tấp vào bờ). Trên một nghìn năm sau, tình tự của người Nhật vẫn không khác. 

Đoạn 8: Núi Asama

Xưa có một chàng trai thấy ḿnh khó sống ở kinh đô bèn đi về miền Đông (Azuma) kiếm nơi cư ngụ. Lần đó, chỉ có chàng cùng với một hai người bạn đồng hành. Qua vùng Shinano, thấy có khói bốc trên núi Asama ở nơi tiếp giáp hai vùng Shinano và Kôzuke (đây đó có những khách đi đường nh́n lên và ngạc nhiên):

Shinano naru / Asama no dake ni / tatsu keburi / wo chi kochi hito no / miya wa togamenu / 

(Trong vùng Shinano / Asama dậy khói / Bao lữ khách ngước nh́n / Chắc ḷng thầm e ngại).

Lời b́nh (8):

Narihira đang đi về miền Đông (Azuma) tức vùng Tokyo bây giờ, qua các địa danh nổi tiếng trên tuyến đường như Ise, Owari, Shinano. Ngọn Asama ở vùng bây giờ là giữa Nagano và Gunma là một núi lửa hăy c̣n hoạt động nên trên đỉnh có khói. Lúc này, sau cuộc t́nh tai tiếng và nhiều cay đắng với Takako, chàng tránh xa kinh đô, tự lưu đày về miền Đông. Ngọn hỏa sơn Asama là một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà chàng gặp trên đường.

Đoạn 9: Về miền Đông

Xưa, có một chàng trai cảm thấy ḿnh sống cuộc đời vô dụng ở kinh đô nên bỏ nơi đó mà lên đường đi về miền Đông (Azuma) t́m nơi cư ngụ mới. Chàng đem theo một hai người bạn bè thâm giao làm kẻ đồng hành. Không biết đường đất, lắm khi lạc lối. Đến vùng Mikawa (Tam Hà, ba con sông), họ phải qua một nơi gọi là Yatsuhashi (hay Yabashi, Bát Kiều, tám cây cầu). Sở dĩ nơi đó được mệnh danh như vậy là v́ ḍng sông đến đó th́ phân nhánh tựa chân nhện (kumode) nên hành khách phải vượt tất cả là tám cây cầu. Họ xuống ngựa bên bờ đầm có bóng cây ngồi nghỉ, lấy lương khô ra ăn. Cái đầm nước ấy có hoa đỗ nhược (kakitsubata, iris) đang nở rất đẹp. Trong bọn có người bảo hăy thử lấy năm chữ cái (ka, ki, tsu, ha, ta) để vịnh một thơ làm kỷ niệm chuyến đi nên chàng mới ngâm rằng:

Karakoromo / Kitsutsu nare ni shi / tsumashi areba / harubaru kinu ru / tabi wo shizo omou /

(Như manh áo quen thuộc / Người yêu ở kinh đô / Đến chốn xa xôi này / Ḷng càng thêm nhung nhớ)

Nghe chàng vịnh như thế, mọi người đều động ḷng thương cảm, lệ nhỏ trên nắm cơm.

Họ cứ đi măi và đến được vùng Sugura. Khi đặt chân tới núi Utsu (Utsunoyama) th́ con đường vẹt ra để đi vào rất âm u và hiểm trở, đầy những lùm giây leo và rặng phong, nên không khỏi lo lắng. Đang sợ có chuyện chẳng lành th́ t́nh cờ gặp một sơn tăng vân du (yamabushi). Nghe câu hỏi “Các thày cớ chi mà đến nơi này?”, nh́n lại thì thấy ông ta là người từng quen biết ở kinh đô. Chàng mới viết một phong thơ nhờ ông ta đem về cho người ḿnh tưởng nhớ đang sống nơi ấy. Thơ rằng:

Suruga naru / Utsu no yamabe no / utsutsu ni mo / yume ni mo hito ni / awanu narikeri /

(Bên sườn núi Utsu / Trong xứ Suruga / Đang thức mà không gặp / Người đến măi trong mơ!)

Nh́n lên ngọn núi Fuji th́ thấy trên trời bầu tháng năm (satsuki) mây đang che khuất vầng trăng và tuyết rơi trắng lớp.

Toki shiranu / yama wa Fuji no ne / itsu tote ka / ka no ko madara ni / yuki no furu ramu /

(Đỉnh Fuji kia ơi / Sao chẳng hay thời tiết / Bây giờ là mùa nào / Mà tuyết rơi trắng lớp?)

Nếu đem so sánh với phong cảnh kinh đô th́ ngọn Fuji này thật hùng vĩ, nó phải cao đến hai mươi lần núi Hieizan (gần Kyôto) và chẳng khác nào một đống muối lớn (shiojiri) ai đem chất bên bờ biển.

Tiếp tục đi, đi măi, họ đến khu vực nằm giữa vùng Musashino và Shimôsa (nay là Tokyo, Chiba). Nơi đây có một ḍng sông lớn tên Sumida. Dừng chân bên bờ nước, họ cảm thán v́ thấy đă cùng nhau làm một chuyến hành tŕnh dài dằng dặc, ngậm ngùi nhớ về quê cũ. Vừa lúc ấy, có một người chèo đ̣ gọi: “Các bác mau lên đ̣ đi, trời đă tối rồi đấy !”. Họ bèn lên đ̣ và sắp sửa qua sông. Tất cả đều buồn bă v́ trong bọn không có ai mà không để lại một người đàn bà yêu dấu ở kinh đô. Lúc ấy có một con chim trắng, mỏ và đôi chân đều màu đỏ, lớn cỡ chim dẽ (shigi), đang lượn trên mắt nước để bắt cá. V́ đây là một loài chim chưa từng thấy ở kinh đô nên không ai trong bọn biết là chim ǵ. Họ bèn hỏi bác lái đ̣ thi mới hay đó là “giống chim kinh đô” (miyakodori). Một người mới làm bài thơ:

Na ni shi o wa / ba iza koto towamu / miyakodori / wa ga omou hito wa / ari ya nashi ya to /

(Tên dễ thương như thế / Xin hỏi “chim kinh đô” / Người ta yêu bây giờ / Sống chết ra sao nhỉ?)

Trên thuyền, tất cả không cầm được ḍng lệ.

Lời b́nh (9):

Đoạn này tŕnh bày nhiều thủ thuật tu từ của thơ waka. Trước hết là kiểu thơ mà mỗi câu đều bắt đầu bằng một chữ cái trong một danh từ (flags). Trong bài này lại có nhiều lối chơi chữ đồng âm dị nghĩa khác. Như câu thứ hai Kitsutsu narenishi chẳng hạn th́ Kitsutsu vừa có nghĩa là “trong khi mặc (áo)” vừa có nghĩa là “trong khi đi đường”. Thật vậy câu đầu có nhắc đến tấm áo (karagoromo) như ẩn dụ về người yêu thân thương đi đâu cũng có nhau, quấn quít bên ḿnh. Narenishi cũng vậy, vừa là “yêu dấu, thân thuộc” vừa là “vấy bẩn, hư hao” (không c̣n như xưa).Tsuma (vợ, người yêu) trong câu thứ ba cũng có nghĩa là “vạt áo”, tương ứng với ư nghĩa của “áo” trong câu thứ hai. Haru là “giăng” (áo) ra nhưng cũng là “xa lắc xa lơ” (harubaru). Kinuru có nghĩa “đă đi đến nơi” và cũng là “đă rách” (như áo kia). Những ví dụ đó là sự áp dụng các chữ bắc cầu (kakekotoba, pivots) hay là những chữ liên hệ (engo, related words) khiến cho một chữ có thể làm liên tưởng tới một chữ khác..

Cũng vậy, trong bài thơ nói đến núi Utsu th́ Utsu không những là tên núi Utsu宇津mà c̣n có nghĩa là utsutsu () hay “hiện thực, lúc đang thức” nữa. Tả cảnh tuyết rơi trắng giữa tháng 5 th́ lại dùng h́nh ảnh “đốm trên lưng nai con” (ka no ko madara鹿の子斑) nên rất giàu h́nh ảnh v́ tháng 5 là mùa nai sinh nở. Miyakodori 都鳥là chim hải âu (seagull), một cách gọi thông thường nơi người b́nh dân (người như ông lái đ̣) nhưng đă được dùng để nối kết với ḷng luyến nhớ kinh đô (miyako) trong tâm tư của mấy chàng lữ khách. Ở đây, tác dụng hài hước cũng được biểu lộ qua sự thiếu kiến thức về địa lư, xă hội của mấy chàng công tử, những người trước đó chưa hề bước ra khỏi kinh đô.

Đoạn 10: Đàn nhạn ngoài đồng

Xưa có một chàng trai đă đi lang thang về vùng Musashi và sau đó cầu hôn một nàng con gái sống ở đấy. Tuy cha nàng đă hứa gả nàng cho một người khác nhưng bà mẹ th́ lại muốn chọn một ai phải là con nhà ḍng dơi. Người cha thuộc giai cấp tầm thường trong khi người mẹ là một tiểu thư xuất thân từ cửa quí tộc Fujiwara cho nên bà muốn gả con ḿnh cho chàng trai nào phải là thân danh cao quí. Bà bèn gửi cho người rễ ḿnh ưng ư một bài thơ. Nên biết gia đ́nh của bà lúc ấy sống ở làng Miyoshino thuộc quận Iruma :

Miyoshino no / ta no mu no kari mo / hitaburu ni / kimi ga kata ni zo / yoru to naku naru /

(Khắp Miyoshino / Ngay đàn nhạn ngoài đồng / Đều hướng cả về anh / Cất tiếng kêu hănh diện)

Chàng rễ tương lai đáp trả:

Wa ga kata ni / yoru to naku naru / Miyoshino no / ta no mu no kari wo / itsu ka wasuremu /

(Làm sao tôi quên được / Đàn nhạn trên đồng làng / Đều hướng cả về đây  / Bày tỏ ḷng tin cậy)

Dù đă rời xa kinh đô về đến những địa phương như nơi đây, cuộc đời t́nh ái của chàng không v́ vậy mà thiếu đi sự phong phú.  

Lời b́nh (10):

Điều đáng ghi chú từ đoạn này là sự quan trọng của địa vị xă hội, giai cấp trong t́nh yêu thời cổ. Bà mẹ cô gái bất măn v́ ông chồng gốc gác thường dân nên ngấm nghé cho con gái ḿnh một chàng rễ quí phái, nhất là khi bà từng là người thuộc đại tộc Fujiwara, lúc đó đang được thể lên chân. Tuy nhiên qua hai bài thơ th́ chúng ta thấy bà mẹ vợ và cậu con rễ tương lai không chia sẻ chung quan niệm sống. Trong khi bà mẹ tỏ ra tích cực và muốn vơ vào cho con gái bao nhiêu th́ thái độ của chàng rễ trái lại rất là mơ hồ và khá lơi là. 

Kỹ thuật tu từ thơ waka cũng được thấy qua cách dùng chữ tanomu, vừa có nghĩa 田の面 “mặt ruộng”, vừa có nghĩa 頼む“trông đợi”, mong chờ ai thực hiện điều ǵ cho ḿnh. C̣n “nhạn” cũng có thể chỉ cả người con gái trong cuộc.

Đoạn 11: Trăng qua bầu trời

Xưa có một chàng trai đi về miền Đông, dọc đường có làm bài thơ sau đây gửi đến bạn ḿnh:

Wasureru na yo / hodo wa kumoi ni / narinu to mo / sora yuku tsuki no / meguriau made /

(Xin đừng quên ta nhé / Dù xa ngoài chân mây / Trăng tàn c̣n mọc lại / Mình gặp nhau có ngày)

Lời b́nh (11):

Bài thơ nói trên có chép trong Shuuishuu (Thập Di Tập, ước định 1005-07) và được biết là thơ Tachibana no Tadamoto, một người chết vào năm 957 lúc đang làm quan trấn thủ vùng Suruga. Yếu tố này có thể giúp ta suy định được mốc thời gian mà tập Ise Monogatari ra đời (nghĩa là có thể trước 957).

Chương 12: Cánh đồng Musashi

Xưa có một chàng trai đi bắt cóc người con gái và đưa nàng về vùng Musashi. V́ phạm tội cướp đoạt như thế nên bị quan trấn thủ cho lính truy lùng và bắt được. Anh ta dấu cô ta trong lùm cỏ cao trước khi bỏ trốn. Lúc đó, những kẻ truy lùng bảo với nhau: “Tên cướp đó đang ẩn nấp trong đám cỏ ngoài đồng” và cho nổi lửa. Nàng con gái quá đỗi tuyệt vọng, mới cất tiếng van lơn:

Musashino wa / kefu wa na yakiso / wakakusa no / tsuma mo komoreri / ware mo komoreri /

(Hôm nay xin đừng đốt / Cỏ đồng Musashi / Người ta yêu đang nấp / Ta cũng bên cạnh chàng )

Khi nghe lời thơ này, họ bèn cho bắt nàng và giải về theo.

Lời b́nh (12):

Đây là một bài thơ dựa trên một bài thơ gốc (honka) thấy trong Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập). Wakakusa (cỏ non) là một chữ gối đầu ( pillow-word, makura-kotoba), dùng trong một thủ pháp của waka để tạo nên hiệu ứng thi ca v́ nó hướng người đọc về điển cố đă có trước. Ở đây, wakakusa phải được hiểu là là “người yêu”. Trong Truyện Genji, wakakusa hàm ư “người vợ trẻ đẹp như cỏ xanh non”.

Đoạn 13: Bàn đạp đi ngựa

Xưa kia có một chàng trai vùng Musashi nhắn về người con gái ở kinh đô “Nếu không nói ra thành hổ thẹn, mà nói ra lại thêm buồn”. Đầu thư, thay v́ ghi tên người gửi, anh chỉ đề là Musashi-abumi (bàn đạp đi ngựa ở Musashi). Từ đó bặt tăm. Thành thử, từ kinh đô, người đàn bà mới viết mấy câu sau:

Musashi abumi / sasuga ni kakete / tanomu ni wa / towanu mo tsurashi / tou mo urusashi /

(Bàn đạp kẹp hông ngựa / Tin tưởng người lên đường / Không hỏi th́ em khổ / Hỏi lại bận ḷng anh)

Đọc lá thư trên, anh buồn không chịu nổi nên đă trả lời nàng:

Toeba iu / towaneba uramu /Musashi abumi / kakaru ori ni ya / hito wa shinu ramu /

(Hỏi thăm em, em trách / Không hỏi thăm, em hận / Đằng nào cũng giống nhau / Sao anh chưa chết quách?).

Lời b́nh (13):

Đây là một đoạn văn khó dịch v́ tác giả chơi chữ nhiều lần. Musashi abumi là cái bàn đạp thắng vào con ngựa và tạo hiệu ứng như chữ móc nối (engo, duyên ngữ) với các từ sasuga (thắt gút, chẳng dè) và kakeru (thắng vào, treo lên). Thế mới thấy người Nhật chuộng những kiểu nói bóng bẩy, đa nghĩa.

Musashi abumi, bàn đạp thắng ngựa bằng sơn (lacquer stirrups) buộc bằng giây da vào bụng ngựa mà người di trú Triều Tiên vùng Musashi (Tokyo) đã chế ra. Người con trai nói đến nó v́ anh ta đang sống ở một vùng xa xôi đối với kinh đô (Kyoto), nơi người yêu anh ở. Anh khó nói cho nàng rơ v́ anh đang dan díu với một người đàn bà khác ở miền Đông. Lương tâm anh bị dằn vặt v́ sự phản bội. Trong bài thơ phúc đáp của người đàn bà, ta thấy nó thể hiện t́nh cảm gắn bó (kakeru) nhưng cũng pha chút e dè (sasuga ni) khi cô ta nhắc lại từ khóa Musashi abumi. C̣n trong bài thơ thứ 3 do người đàn ông viết th́ Musashi abumi tượng trưng cho t́nh cảnh nan giải, một thân  vướng cả hai cô mà anh đang gặp phải.

Đoạn 14: Cây tùng Aneba

Xưa có một chàng trai lưu lạc lên vùng Mutsu. Có cô gái sống ở đó v́ xem con trai kinh đô là vật hiếm quí nên quyết chí t́m đến với chàng. Cô mới làm bài thơ như sau: 

Nakanaka ni / Koi ni shinazu wa / kuwako ni zo / Narubekari keru / Tama no o bakari /

(Thay v́ yêu tha thiết / Chết với t́nh bỏng cháy / Muốn sống yên đời tằm / Dù phận em ngắn ngủi )

Tuy gọi là thơ nhưng lời lẽ quê mùa nhưng có lẽ anh chàng thấy dễ thương nên đến ngủ với nàng một đêm. Sáng hôm sau anh ra về dù trời hăy c̣n tối. Người đàn bà bèn viết:

Yo mo akeba / kitsu ni hamena de / kutakake no / madaki ni takite / sena wo yaritsuru / 

(Trời mà sáng hẳn ra / Sẽ bắt mày nhận nước / Cái con gà khốn kiếp / Làm chàng bỏ về nhà!)

Bài thơ khiến người con trai không c̣n biết nói sao, mới từ tạ mà trở về kinh sau khi vịnh một bài thơ:

Kurihara no / aneha no matsu no / hito naraba / miyako no tsu to ni / iza to iwamashi wo /

(Cây tùng Aneha / Ở Kurihara / Nếu là người ta sẽ / Mang về kinh làm quà).

Nàng ấy có vẻ vui mừng v́ đă tuyên bố: “Xem chừng anh ấy có ḷng tưởng nhớ đến ta đấy chứ?”

Lời b́nh (14):

Bước chân của chàng trai đặt lên miền Đông Bắc. Cái hào hoa phong nhă (miyabi) của con trai kinh đô của chàng đă làm xiêu ḷng một phụ nữ địa phương, đồng thời chàng cũng bị lôi cuốn bởi tâm hồn mộc mạc dân dă (hinabi, inakabi) của nàng.

Trong bài thơ đầu của người con gái, nàng đă dùng h́nh ảnh tama no o (khoảng cách giữa hai viên ngọc trên xâu chuỗi) để nói lên sự ngắn ngủi. Tuy chính xác nhưng hình ảnh ấy không ăn khớp với phần c̣n lại, khó có thể là yếu tố của một bài thơ hay. Bài thơ thứ hai dĩ nhiên là thô lỗ ( Kutakake là tiếng chữi con gà...chết bầm). Dùng cách biểu hiện như “nhận trong thùng nước” (hay “bỏ cho chồn bắt” (kitsu ni hamenade trong ngôn ngữ địa phương v́ kitsu là âm ngắn của kitsune = chồn) th́ quả là kém văn chương. Có chăng là bày tỏ được sự thành thực. Ngoài ra, trong bài thơ cuối, lư do làm nàng con gái vui mừng v́ cứ tưởng người t́nh sẽ rước ḿnh về kinh.

H́nh ảnh con tằm trong bài đầu tượng trưng cho cuộc sống nông tang, cũng làm toát ra bầu không khí nơi thôn dă. Trong tập du ký Oku no hosomichi, nhà thơ Bashô cũng có lần sử dụng đến cây tùng Aneha như một “gối thơ” (uta-makura).

Đoạn 15: Ngọn núi vắng

Xưa có một chàng trai đi lại với người đàn bà vùng Michinoku, vợ của một anh đàn ông tầm thường. Tuy sống một cuộc đời tẻ nhạt như vậy, nơi nàng vẫn có cái khác người làm cho chàng trai say mê nên mới gửi bài thơ sau đây đến nàng:

Shinobu yama / shinobite tôu / michi mogana / hito no kokoro no / oku mo miru beku /

(Nếu có con đường vắng / Nằm ở đâu trong núi / Ta sẽ nương theo nó / T́m đến cơi ḷng nàng )

Người đàn bà vui mừng vô hạn khi nhận được bài thơ ấy. Thế nhưng nàng tự hỏi lúc anh chàng tỉnh thành khám phá nơi nàng được cái vụng về quê mùa của miền Đông Bắc th́ nàng sẽ phải làm ǵ đây?

Lời b́nh (15):

Thực ra “shinobu” có hai nghĩa, một là “thầm mơ ước” (desire) hay là “làm điều gì một cách bí mật” (to do secretly). Oku là “sâu thẳm”(deep recesses) nhưng cũng là từ để chỉ miền Dông Bắc (Michinoku) Nhật Bản.

Tính cách của người đàn bà trong đoạn này tương phản với người đàn bà trong đoạn trước. Có lẽ nàng là con nhà ḍng dơi nhưng kết cuộc đă phải kết hôn với một người đàn ông tầm thường. Chắc trong nơi sâu thẳm của cõi ḷng nàng, với thời gian, cái thanh nhă (miyabi) ngày xưa đă nhường chỗ cho sự quê mùa (hinabi) rồi cũng nên?

Đoạn 16: Truyện Ki no Aritsune

Xưa có người tên Kino Aritsune, từng thờ ba đời thiên hoàng nhưng sau vì thời thế đổi thay, trở thành sa sút, phải sống cơ cực. Tuy nhiên ông là người có nhân cách, tính tŕnh trung hậu và thanh nhă. Đó là cái làm ông khác người. Dù sống trong nghèo khó nhưng tâm cảnh vẫn không khác khi giàu sang chứ không xử sự như thế gian thường t́nh. Khổ thay, người vợ bấy lâu khắng khít với ông th́ ngày càng xa cách rồi bỏ đi tu. Bà đến ngụ ở chùa nơi bà chị của nàng là một ni cô. Ki no Aritsune đối với bà tuy có xung khắc trước đó nhưng đến cảnh này, tuy ông có buồn và cảm thấy mất mát nhưng đành chia tay vợ ḿnh. Đang nghèo túng, không có ǵ làm quà tiễn chân. Nghĩ măi không ra cách, nên mới viết thư tŕnh bày với một người bạn thân: “Duyên cớ là như thế này thế này, rốt cuộc cô vợ bỏ đi tu. Tôi không làm được ǵ hay tặng nàng vật ǵ cả”

Cuối thư có bài thơ:

Te wo orite / aimishi koto wo / kazofureba / tô toi hitsutsu / yotsu wa he ni keri /

(Chỉ bấm ngón tay thôi / Năm tháng sống chung đôi / Nếu tính mười năm một / Cũng đã bốn lần rồi)

Người bạn thân ấy đọc thơ xong không khỏi động ḷng thương bèn lấy cả một tủ áo xống gửi tặng cho và vịnh một bài:

Toshi dani mo / to wo tote yotsu wa / he ni keru wo / iku tabi kimi wo / tanomi kinu ramu /

(Nếu tính theo thời gian / Cũng được bốn lần mười / Bấy nhiêu năm làm vợ / Chẳng nương tựa chồng à?)

Đọc được thư bạn, Ki trả lời.

Kore ya kono / ama no hagoromo / mubeshi koso / kimi ga mikeshi to / tatematsuri kere /

(Chao ôi, lời anh nói / Quí như áo nhà tiên / Áo anh đem tặng đấy / Vừa vặn vóc ni cô )

V́ không ngăn nỗi niềm vui (v́ thấy bạn hiểu tâm sự ḿnh), ông lại viết thêm:

Aki ya kuru / tsuyu ya magau to / omou made / aru wa namida no / furu ni zo arikeri

(Mùa thu đă đến nơi / Tưởng tay áo dầm sương / Thật ra đâu phải thế / Chỉ là lệ biết ơn )

Lời b́nh (16):

Ki no Aritsune (815-877) thờ ba đời thiên hoàng là Nimmyô, Montoku và Seiwa. Bà Shizuko, em gái ông, là phi tần của Montoku và mẹ của Hoàng tử Koretaka. Montoku muốn lập Koretaka làm thái tử nhưng gặp phải sự chống đối của đại tộc Fujiwara v́ họ muốn lập Hoàng tử Korehito, con trai bà Fujiwara Akiko, một người bà con phía họ (bà là con gái quyền thần Fujiwara no Yoshifusa). Korehito sau sẽ trở thành Thiên hoàng Seiwa. Điều này xảy ra vào năm 850 và giải thích được việc cánh nhà Aritsune thất thế từ đó.

Đáng chú ư hơn nữa, có thể v́ Ki no Aritsune là bố vợ Narihira, nhân vật chính của cuốn truyện, nên nhiều lần được nhắc đến trong tập.

Trong chữ “áo lông vũ nhà trời” (ama no hagoromo) có chữ “ama” (trời) nhưng “ama” cũng có nghĩa là “bà văi” (ni cô). Đây là một tṛ chơi chữ khá dí dỏm và hợp t́nh hợp cảnh. C̣n cách ví “sương” (tsuyu) với “nước mắt” (namida) th́ chỉ là một khuôn sáo ṃn trong thơ waka nên không có chi lạ.

Đoạn 17: Đời hoa

Có người đă lâu không t́m tới, nay gặp lúc anh đào măn khai, mới tìm đến thưởng hoa. Chủ nhân bèn có bài thơ như sau:

Adanari to / na ni koso tatere / sakurabana / toshi ni mare naru / hito mo machikeri /

(Nghe nói hoa chóng tàn / Nhưng anh đào năm nay / Dẫu chân người thưa vắng / Vẫn thầm đợi ai sang)

Bài thơ đáp lại là:

Kefu kozu wa / aru wa yuki to zo / fu rinamashi / kiezu wa aritomo / hana to mimashi ya /

(Nay mà ta không đến / Hoa thành tuyết mất thôi / Dù tuyết ấy không tan / Nhưng c̣n chi để ngắm)

Lời b́nh (17):

Trong văn học Nhật về sau, “hana” (hoa) thường có cùng nghĩa với “sakura” (anh đào) chứ không cần phải nói trắng là sakurabana như trong bài thơ xướng cho dài ḍng, trừ phi người làm thơ muốn nhấn mạnh như thế để phân biệt nó với một loài hoa khác.

Tuyết ở đây không phải tuyết thật, chỉ v́ cảnh hoa rụng trông giống như tuyết rơi mà thôi.

Chủ nhân ngôi nhà có lẽ là một người đàn bà. Nàng muốn nói lên ḷng chung thủy của ḿnh dù người yêu đến thăm nàng thưa thớt. Tuy vậy lời thơ không khỏi hàm ư trách móc. Trong bài đáp, anh chàng tỏ ra muốn bào chữa là ḿnh đến bây giờ là đúng thời điểm và mong rằng nàng không v́ ḿnh vắng tin mà đâm ra lạnh lùng.

Đoạn 18: Màu hoa cúc

Xưa kia có một người con gái hăy c̣n chưa rành chuyện đời. Có anh con trai nọ cư ngụ bên cạnh nhà nàng. Là người biết làm thơ, nàng mới dọ t́nh ư chàng bằng cách gửi đến anh ta một cành hoa cúc đă đổi màu cùng với một bài waka:

Kurenai ni / niô wa idzura / shirayuki no / edamoto wo wo ni / furu ka to mo miyu /

(Sắc hồng vừa tô đó / Giờ đã biến đi đâu? / Tuyết trắng dường gieo nặng / Làm trĩu nhánh hoa kia)

Giả bộ như không hiểu nàng muốn nói ǵ, người con trai trả lời:

Kurenai ni / niô ga ue no / shiragiku (shirayuki) wa / orikeri hito no / sode ka to miyu /

(Bên đài hoa, cúc trắng (tuyết trắng) / Thoáng một màu hồng xinh / Phải chăng ống tay áo / Người hái là cô ḿnh

Lời b́nh (18):

Trong Nhật ngữ “màu” (iro) c̣n dùng để ám chỉ chuyện t́nh ái (iro = sắc t́nh). Ư bài thơ của người con gái, nàng hỏi rằng em nghe đồn chàng là người đa t́nh nhưng có thực thế hay không chứ sao em mà chẳng thấy tín hiệu ǵ cả. Trong bài thơ hồi đáp, chàng né tránh trả lời và chuyển sang nói về vẻ đẹp của nàng. Ống tay của người đàn bà có khi để lộ ra lần áo lót ở bên trong cho nên dưới ống tay áo trắng có thể nh́n thấy lớp áo lót màu đỏ.

Về bài thơ trả lời, theo G. Renondeau, có bản thay v́ viết shiragiku (cúc trắng) lại viết là shirayuki (tuyết trắng). Chính ra nói là tuyết như thế có lẽ lại hợp với văn mạch hơn dù nhiều dịch giả giảng giải rằng khi bị giá lạnh và héo úa, vè cánh hoa cúc trắng có thể đổi màu thành đỏ sậm.

Đoạn 19: Như mây trời

Xưa có một chàng trai có mối t́nh với một nữ quan (nyobô) phục vụ cho phi tần của hoàng đế nhưng chẳng bao lâu, t́nh ấy phai nhạt và hai người đă phải chia tay. Cùng qua lại trong cung đ́nh, nàng vẫn thường để mắt tới chàng nhưng chàng th́ coi như không có nàng hiện diện. Người con gái ấy mới viết:

Amagumo no / yoso ni mo hito no / nariyuku ka / sasuga ni me ni wa / miyuru mono kara /

(Là mây trời hay sao / Mà chàng hờ hững thế! / Riêng em, trong mắt vẫn / Ngày đêm in bóng chàng)

Sau khi gửi thơ đi, nàng nhận lời phúc đáp:

Amagumo no / yoso ni nomi shite / furu koto wa / wa ga iru yama no / kaze wa yaminari /

(Mây có bay ngang trời / Cũng v́ cơn gió thổi / Mây nào muốn bỏ đi / Nhưng mạnh thay gió núi )

Nhân v́ nữ quan cũng đi lại với người khác nên chàng ta mới trả lời như thế chăng?

Lời b́nh (19):

Lối tỉ dụ về núi (đàn bà) và mây (đàn ông) vẫn thường thấy cũng như cách hoa (đàn bà) và bướm (đàn ông) bởi v́ mây, cũng như bướm, tính vốn phiêu lưu, không hề ngừng một chỗ. Khi nói trên đỉnh núi nhiều gió mạnh, người con trai dường như muốn cho biết vào thời điểm họ là đôi t́nh nhân, cũng có những đám mây khác đang kéo đến nên chàng không thể đứng yên một chỗ.

Đoạn 20: Lá phong đỏ

Xưa có một chàng trai gặp gỡ một người con gái vùng Yamato, cầu hôn rồi đi lại với nhau. Sau một thời gian, chàng phải về kinh đô nhậm chức. Trên đường từ Yamato lai kinh, chàng mới hái một nhánh lá phong (kaede) và gửi cho nàng kèm theo một bài thơ:

Kimi ga tame / taoreru eda wa / haru nagara / kaku koso aki no / momiji shi ni keri /

(Ta bẻ để tặng em / Một nhánh lá phong nhỏ / Dù bây giờ đang xuân / Đă nhuộm sắc thu đỏ)

Sau khi gửi đi, về đến kinh đô th́ chàng nhận được bài thơ hồi đáp:

Itsu no ma ni / utsurô iro no / tsukinu ramu / kimi ga sato ni wa / haru nakaru rashi /

(Mới đó đă đổi ḷng / Như nhánh phong kia vậy / Chắc nơi chàng đang ở / Không hề có mùa xuân) 

Lời b́nh (20):

Nhánh lá phong mà chàng trai vừa bẻ đă vương màu hồng nhạt dù mới là mùa xuân. Do đó, theo ý anh ta, đến mùa thu th́ nó sẽ phải nhuộm màu đỏ thắm, đẹp đến chừng nào. Có thể chàng muốn nói t́nh yêu của chàng sẽ nồng nàn hơn nữa vào mùa thu tới (cùng với thời gian).

Iro (màu, sắc) trong tiếng Nhật có nhiều ư nghĩa hơn là color trong tiếng Anh và nó biểu lộ trạng thái yêu đương từ tinh thần đến thể chất và khá phức tạp.

Tuy nhiên, nàng con gái lại hiểu rằng chàng đă chán chê nàng v́ “aki” vừa là “mùa thu” vừa có nghĩa “chán chê” 飽き. Do đó nàng mới mỉa mai là nơi anh ở chỉ có “mùa thu” thôi chứ nào có “mùa xuân”và lần lên đường này biết đâu sẽ đánh dấu sự chia tay vĩnh viễn. Nàng đă hiểu lầm, hoặc vì quá lo âu cho tương lai hay chỉ là linh cảm về định mệnh của hai người?

Đoạn 21: Cỏ quên

Xưa kia có một chàng trai với cô gái nọ t́nh yêu khá khắng khít, tưởng chừng khó thể rời nhau. Sau không hiểu v́ cớ ǵ, bắt đầu với một chuyện nhỏ nhặt, người con gái cảm thấy mỏi mệt và muốn bỏ đi, mới làm một bài thơ để lại:

Idete (dete) ina ba / kokoro karushi to / iiyasemu / yo no arisama wo / hito wa shiraneba /

(Ḿnh bỏ nhà ra đi / Thiên hạ bảo nhẹ dạ / Nhưng nào có biết cho / Ai gây ra đau khổ !)

Nh́n lá thư ấy, chàng trai không hiểu nguyên nhân tại sao v́ ḿnh không làm ǵ lầm lỗi. Anh chỉ biết thở vắn than dài. Bèn đi kiếm nàng, ra cửa nh́n quanh quất nhưng không biết người yêu bỏ đi đâu. Lui vào trong pḥng, thờ thẩn nh́n ra bên ngoài và viết mấy ḍng:

Omou kai / naki yo nari keri / toshitsuki wo / ada ni chigirite / ware ya sumaishi /

(Yêu nhau biết bao là / Sao thành ra đổ vỡ / Lời thề thốt ngày xưa / Chẳng lẽ gian dối cả)

Hito wa isa / omoi yasuramu / tamakadzura / omokage ni nomi / itodo mietsutsu /

(Không biết em thế nào / Có từng nghĩ đến tôi? / Bóng em, dù cố đuổi / Vẫn hiện trước anh thôi)

Măi về sau, có thể v́ không chịu đựng nổi khổ tâm của cảnh biệt ly, người con gái ấy mới gửi cho chàng trai một bài thơ:

Ima wa tote / wasururu kusa no / tane wo dani / hito no kokoro ni / makasezu mogana /

(Giờ chắc anh đă quên? / Nhưng dù ḿnh xa cách / Chẳng bao giờ em lại / Đem gieo hạt cỏ quên)

Người con trai bèn đáp lại:

Wasuregusa / uu to dani kiku / mono naraba / omoikeri to wa / shiri mo shitamashi /

(Em bảo, ta gieo cỏ / Để t́m cách quên em? / Hăy nh́n lại mình xem / Chứ t́nh anh vẫn thế).

Từ dạo đó, hai bên tiếp tục trao đổi thường xuyên hơn trước. Chàng con trai vịnh:

Wasuru ramu / to omou kokoro no / utagai ni / arishi yori ke ni / mono zo kanashisa /

( Có lẽ v́ thấy em / Nghi ngờ anh đă quên / Cho nên ḷng của anh / Giờ c̣n buồn hơn trước)

Trong bài thơ trả lời, nàng viết:

Nakazora ni / tachiiru kumo no / ato mo naku / mi no hakanaku mo / nari ni keru kana /   

(Như mây trên trời xanh / Bay qua không để dấu / Ḷng em giờ mong manh / Chẳng biết về đâu nữa!)

Trao đổi t́nh cảm như vậy nhưng hai bên sau đó dần dần xa cách, mỗi người sống một đời riêng với người t́nh khác.

Lời b́nh (21):

Thời Heian là một xă hội trọng nam khinh nữ mà người con gái dám bỏ nhà đi như thế là khá bạo dạn. V́ chế độ kayoikon (đàn ông đêm đến thăm vợ ở nhà vợ) nên có lẽ nàng con gái ở đây đă rời nhà ḿnh để về nhà cha mẹ đẻ hay sống ở một nơi nào khác.

Tamakazura (mái tóc đẹp, chuỗi ngọc trang sức trên đầu) là một makurakotoba (chữ gối đầu, pillow, conventional epithet) để chỉ một bóng dáng phụ nữ xinh đẹp. Tên một nhân vật nữ trong Truyện Genji (con gái nuôi của Hikaru Genji) cũng là Tamakazura (nàng Ngọc Mạn). C̣n wasuregusa là “cỏ quên”, một loại cỏ tương truyền khi sử dụng nó th́ người ta không c̣n nhớ ǵ chuyện xưa. Chủ đề của đoạn này là t́nh yêu và sự ngờ vực. Cỏ quên có thể mọc lên từ mảnh đất của sự ngờ vực.

Đoạn 22: Nghìn đêm trong một đêm

Xưa kia có hai người yêu nhau khắng khít nhưng v́ một chuyện cỏn con mà phải cắt đứt. Có lẽ v́ không quên được chàng trai, người con gái mới vịnh rằng:

Ukinagara / hito wo ba eshi mo / wasureneba / katsu uramitsutsu / nao zo koishiki /

(Em chỉ tiếc một nỗi / Là không thể quên anh / Đem ḷng hận ai đó / Là cách tỏ tình yêu)

Thấy lời cô ta nói đúng với điều ḿnh tiên đoán, chàng trai trả lời:

Aimite wa / kokoro hitotsu wo / kawwashima no / mizu no nagarete / taeji to zo omou /

(Hai đứa ḿnh yêu nhau / Như sông không chia cắt / Nước tách v́ g̣ nổi / Sau lại hợp ḍng thôi)

Khi thơ đi xong, đến đêm anh mới t́m đến chỗ nàng. Họ nhắc lại t́nh xưa và bàn chuyện tương lai. Lúc đó chàng trai vịnh một bài:

Aki no yo no / chiyo wo hitoyo ni / nazuraete /yachiyo shi neba ya / aku toki no aramu /

(Đêm thu dài gộp lại / Ngh́n đêm trong một đêm / Dẫu tám ngh́n đêm nữa / Bên nhau nào đủ đâu)

Người con gái đáp:

Aki no yo no / Chiyo wo hitoyo ni / naseri to mo /kotoba nokorite / tori ya nakinamu /

(Đêm thu dài gộp lại / Ngh́n đêm trong một đêm / Ân ái lời chửa vợi / Gà gáy bắt chia tay)

T́nh của họ từ đó thêm nồng và đi lại với nhau thường hơn trước nữa.

Lời b́nh (22)

Nếu đoạn 21 nói chuyện tan vỡ th́ đoạn 22 này nói chuyện sum họp. Việc ghép đôi hai đoạn bên nhau như thế khá thú vị. Không biết tác giả có dụng ư ǵ không?

Chữ kawashima hay g̣ nổi (ḥn đảo) trên sông liên kết với chữ kawashi là “trao đổi” hàm ư “trao đổi xác thịt” nữa.

Trong bài thơ này, ta c̣n được biết thêm về qui tắc dùng con số trong tiếng Nhật (hitoyo = một đêm, chiyo = một ngh́n đêm, yachiyo = tám ngh́n đêm).

Đoạn 23: Bên thành giếng.

Ngày xưa có hai cô cậu con của hai gia đ́nh sống cạnh nhau ở vùng quê thuở nhỏ thường ra bờ giếng chơi. Thế nhưng khi đến tuổi thành nhân họ đâm ra biết thẹn nên không còn tìm gặp nhau. Chàng trai những mong cô gái mai sau sẽ thành vợ ḿnh mà cô gái cũng mong anh trở thành chồng, cho dù mẹ cha mẹ bắt kết hôn với người khác th́ họ sẽ không ưng thuận. V́ vậy anh con trai nhà hàng xóm ấy mới gửi cho nàng một bài thơ:

Tsutsu itsu no / idzutsu ni kakeshi / marogatake / sugi ni kerashi na / imo mizaru ma ni /

(Xưa bên giếng ta đo / Chiều cao với thành giếng / Bấy lâu không gặp em / Anh đã cao hơn giếng)

Người con gái làm thơ đáp lại:

Kurabekoshi / furiwake kami mo / katasuginu / kimi narazu shite / tare ka kagu beki /

(Thuở ḿnh đọ chiều cao / Tóc em chưa quá vai / Mái tóc này, ngoài anh / Không muốn cho ai bới )

Họ tiếp tục trao đổi với nhau như vậy, rồi sau đó ư nguyện được thành tựu và họ thành vợ chồng.

Vài năm trôi qua, cha mẹ cô gái mất. Cô lâm vào cảnh nghèo, cuộc sống của hai người sinh ra nhiều vấn đề, anh con trai mới đi lại với một người đàn bà khác ở Takayasu trong vùng Kawachi. Tuy cơ sự là thế nhưng người vợ không hề tỏ ra thù hận chồng ḿnh mà cứ để anh đi khiến cho anh ngờ rằng vợ ḿnh chắc đă có một người đàn ông khác. Trong ḷng nghi hoặc, anh vờ nói là ḿnh đi Kawachi rồi vào núp trong lùm cây để ŕnh. Chỉ thấy vợ ḿnh trang điểm đẹp đẽ, ngồi bên song buồn bă nh́n về phía xa và ngâm thơ rằng:

Kaze fukeba / okitsu shiranami / Tatsuta yama / yowa ni ya kimi ga / hitori koyu ramu / 

(Khi gió nổi, sóng tràn / Lên núi Tatsuta / Một ḿnh chàng đêm nay / Chắc c̣n đang vượt núi )

Thấy thế, chàng trai động ḷng thương cảm, dẹp lại chuyện đi Kawachi.

Thế nhưng sau đó, lâu lắm chàng mới có dịp trở lại Takayasu, mới thấy người đàn bà chàng đi lại ở đây trước đon đả bao nhiêu th́ nay  thờ ơ bấy nhiêu. Thấy nàng ta phải tự tay lấy th́a xúc cơm, chàng chán ngán và không lui tới nữa.

Lúc ấy, nàng con gái ở Takayasu mới nh́n về hướng Yamato và ngâm rằng:

Kimi ga atari / mitsutsu wo ramu / Ikomayama / kumo na kakushi so / ame wa furu to mo /

(Mắt dơi nơi anh ở / Bên kia Ikoma / Mây đừng che núi nhé! / Dù trời có tuôn mưa)

Nàng cứ ngâm nga như thế mà nh́n ra bên ngoài. Sau đó có nghe chàng trai ở Yamato bắn tin là chàng sẽ đến. Nàng hết sức vui mừng nhưng qua bao đêm chờ đợi vẫn không thấy bóng ai. Nàng mới gửi mấy vần:

Kimi komu to / iishi yogoto ni / suginureba / tanomanu mono no / koitsutsu zo furu /

(Nói đến chắng thấy đâu / Bao đêm dài quạnh quẽ / Thôi, chẳng chờ anh nữa / Dù t́nh vẫn trong em )

Tuy nhiên, người con trai ở Yamato sau đó không c̣n đến thăm nàng.  

Lời b́nh (23):

Đây là một đoạn văn nổi tiếng của Truyện Ise v́ nó đă gây cảm hứng cho một chương trong Truyện Genji vốn ra đời khoảng nửa thế kỷ về sau (1004?-1012?). Đoạn này c̣n là nhan đề của nhiều vở tuồng Nô cũng như văn của nhà văn nữ Higuchi Ichiyô (truyện Takekurabe = Đọ chiều cao, 1895-96) nữa.

Liên hệ giữa phong tục “bới tóc” và “mối t́nh đầu” đă từng được thấy trong thơ Man.yôshuu. Con trai khoảng 15 tuổi th́ tóc trước để ḷa x̣a sẽ được bới thành búi, dấu hiệu của sự trưởng thành. Cũng vậy, con gái cỡ 13 là mái tóc đang để rẽ sẽ được cột lên và xỏa xuống đằng sau ót như đuôi ngựa. Từ đó, nàng được coi là đă sẵn sàng cho việc lấy chồng. Riêng chi tiết một cô gái muốn cậu nào đó bới tóc cho ḿnh là ngụ ư cô đă chọn người con trai ấy như ý trung nhân.

Chúng ta thấy ở đoạn này vài kiểu chơi chữ như giữa Tatsu (dựng lên) và Tatsutayama (tên ḥn núi) nằm trên con đường từ Yamato đi Kawachi hay giữa tsutsui (giếng h́nh tṛn) và idzutsu (thành giếng). Tsutsu nghĩa là “cái ống” nhưng cũng có nghĩa là “lần hồi, dần dần”.

Câu chuyện cô cậu “đọ vai bờ giếng” có vẻ lăng mạn. Trên thực tế, ta thấy nhiều điều khó có thể đồng t́nh. Cô con gái biết chồng ḿnh vượt núi đi ngoại t́nh mà vị tha tới mức lo lắng cho chàng đi b́nh an. C̣n chàng trai này dường như chỉ chạy theo các người yêu có tư sản. Đối với người vợ đầu, khi cô gặp cảnh sa sút, anh ta bỏ đi. Cô thứ hai, nếu về sau anh có bặt tin có lẽ cũng cùng một lư do như vậy chăng?.

Nói đến địa danh th́ xứ Yamato nay thuộc về Nara và Kawachi là Ôsaka, vốn không cách nhau bao nhiêu nhưng ngày xưa th́ xem như xa xôi dịu vợi, phải vượt núi băng đồng mới đến nơi.

Đoạn 24: Cung gỗ bạch dương.

Ngày xưa có một chàng trai sống ở vùng quê cạnh kinh đô (kata-inaka). Chàng mượn cớ vào hầu việc trong cung rồi bỏ rơi nàng còn gái chàng đi lại nhưng không dứt khoát chia tay. Ba năm sau chẳng thấy tăm hơi, nàng con gái mỏi mòn bèn gửi thân cho một người đàn ông vốn thiết tha đeo đuổi mình. Đến khi nàng ước hẹn với người ấy “Đêm nay mình sẽ chung chăn gối” thì bất chợt người tình xưa bỗng quay về. Anh ta gõ cửa: “Mở cho anh vào!” thế nhưng nàng không chịu mở và ngâm một vần thơ:

Aratama no / toshi no mitose wo / machiwabite / tada koyoi koso / niimakura sure /

(Suốt ba nằm ròng rã / Đợi mãi chàng không về / Nhưng đêm nay là đêm / Em vui vầy duyên mới)

Anh con trai đáp lại:

Azusayumi / mayumi tsuki yumi / toshi wo hete / waga seshi ga goto / uruwashi miseyo /

(Suốt bao tháng năm dài / Anh yêu em tha thiết / Nay về bên chồng mới / Yêu giống thế nghe em )

Thế rồi anh ta bỏ đi. Sau đó, nàng mới viết:

Azusayumi / hikedo hikanedo / mukashi yori / kokoro wa kimi ni / yori nishi mono wo /

(Này anh, tình anh sâu / Làm sao em biết được / Riêng em vẫn tựa giờ / Một lòng thương anh đó)

Nhưng người con trai đã bỏ đi. Nàng quá sầu bi, chạy đuổi theo anh nhưng đà mất dấu, bèn ngã xuống ven suối. Mới lấy máu ngón tay viết một bài thơ lên trên phiến đá cạnh mình:

Ai omowade / karenuru hito wo / todomekane / wa ga mi wa ima zo / kie hatenu miru /

(Chẳng hiểu cho lòng em / Mà bỏ đi sao nỡ / Không giữ được anh lại / Thân này c̣n tiếc chi )

Rồi nàng gục chết ở đó.

Lời b́nh (24):

Trong bài thơ của hai người có trò chơi chữ về cái cung qua những từ  azusa-yumi, ma-yumi, tsuki-yumi vốn là tên những loại cung. Cung vốn làm bằng nhiều loại gỗ khác nhau, trong đó có cả gỗ bạch dương. Cây cung làm liên tưởng đến vật mà người đàn ông mang theo người, ám chỉ “người vợ chung thủy”. Cung gỗ tsuki (một loại bạch dương) gợi hình ảnh tsuki (vầng trăng, tháng ngày). Vì vậy, cung cũng làm liên tưởng đến “tên bắn” và là hình ảnh của thời gian và hạnh phúc chóng qua. G. Renondeau và H. Jay Harris đều dẫn các học giả Nhật (Ôtsu, Ikeda) cho rằng cách ví von này cũng được thấy trong các bài thần nhạc (kagura-uta =ca khúc dân gian hát lên khi tế thần) của Shuu.ishuu (Thập Di Tập, 1005-07).

Cái chết của người con gái còn có thể xem như một cuộc tự tử vì tình. Chữ itazura là một trạng từ để nói về sự tự sát (itazuraji ni), còn khi dùng như danh từ sẽ có nghĩa là “tư thông giữa nam nữ” hay “ tình yêu bất chính”.

Đoạn 25: Người không gặp được.

Ngày xưa có một chàng trai gửi một bài thơ cho cô con gái kia bởi nàng ta vốn ởm ờ, không nói thẳng ra là không muốn gặp chàng và làm cho chàng hiểu là cứ tiến tới vì ... biết đâu đấy...Thơ của chàng như sau:

Aki no no ni / sasa wakeshi asa / sode yori mo / awade neru yo zo / hijima sari keri /

(Đồng thu vạch lùm trúc / Khi về áo đẫm sương / Áo ướt không bằng lệ / Cái đêm không gặp em)

Cô gái thích kén chọn đã đáp lại:

Mirume naki / wa ga mi wo ura to / shiranu ba ya / karenade ama no / ashi tayuku kuru /

Không biết bờ bãi này / Rong miru chẳng mọc / Hỡi anh người muốn cắt / Qua lại chỉ hoài công /   

Lời bình (25):

Trong bài thơ thứ nhất, sasa là tên một loại trúc con nhưng có nghĩa là tiếng kêu xào xạc. Nó tạo nên một âm hưởng buồn thương như tâm cảnh của kẻ thất tình, suốt đêm chờ đợi mà không gặp được người mình yêu.

Bài thơ thứ hai là lời từ chối lời tỏ tình của chàng trai. Người con gái so sánh tấm lòng nàng với một bãi biển hoang vắng, rong mirume 海松布 (Codium tomentosum) cũng không mọc nổi. “Me” ở đây là rong biển (hải tảo). Thế nhưng mirume naki 見る目なきcòn có nghĩa là “không để mắt tới” và nàng muốn nhắn anh chàng rằng dầu có đi theo đến mỏi gối chồn chân cũng sẽ không đạt được kết quả nào.

Một nơi khác, tác giả dùng chữ karenade khi nói về chuyện đi qua đi lại không ngừng của chàng trai trước cửa nhà nàng. Đồng thời, karenade cũng ám chỉ việc “không cắt được rong” (= không toại nguyện) nữa.

Trong nguyên tác, cô gái được xem là kôshoku 好色(háo sắc, đa tình) nhưng vì nàng không phải là kẻ chủ động trong cuộc chơi như đàn ông nên có lẽ chúng ta phải dịch là “thích kén chọn” thì mới hợp hơn.

(Còn tiếp)

 

Thư mục tham khảo:

1)    Ishida Jôji dịch chú. Ise Monogatari, Kadokawa Bunko 466,

Kadokawa Shoten xuất bản, Tokyo, 1979. Bản in lần thứ 19 (1992).

2)    Tanabe Seiko, Taketori Monogatari, Ise Monogatari (Gendaigo yaku). Iwanami Gendai Bunko 980, 2014.

3)     Haris, H.J., The Tales of Ise, Tuttle Publishing Co, Tokyo, 1972.

4)    Renondeau, G., Contes d’Ise, Gallimard / Unesco, Paris, 1969.

 

Xem tiếp : [TRUYỆN ISE (II) ]

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com