|
|
HAIKU:
MỘT CHÚT LỊCH SỬ Hành
tŕnh từ haiku-tên-bắn đến
haiku-tiền-vệ Nguyễn Nam Trân (*)
Phần II: … ĐẾN HAIKU TIỀN VỆ Hai ông Sekitei và Fura cũng được xem là hai kiện tướng của tạp chí Hototogisu. Sekitei không trí thức như Dakotsu, sử dụng trực giác nhiều hơn. Ông là con một gia đ́nh y sĩ tỉnh Shimane nhưng yêu thơ hơn y khoa nên không muốn nối nghiệp nhà. Ông sống ở vùng Yoshino, nơi có hoa anh đào và lá hồng. Trong khi đó, Maeda Fura cư ngụ vùng núi non miền biển Nhật Bản, giữa cảnh núi non hùng tráng với tuyết phủ. Kyoshi thường cho rằng thơ Sekitei với phong cách phóng túng, không bị trói buộc gợi cho ông cảnh tượng xuân, hạ và Fura, với sự gọn gàng và sức sống làm ông liên tưởng cảnh thu, đông. Người đốt lửa đêm canh thú rừng, (Bài Sabishisa ni, thơ Sekitei,) Có lẽ không hay biết, (Bài Hito korosu, thơ Fura) Ngoài ra cần nhắc đến Sugita Hisajo (Sam Điền Cữu Nữ), một cây bút phụ nữ nhiều cá tính, đă gữi gắm tâm sự về những mối t́nh của ḿnh trong haiku, gợi nhớ đến nhà thơ tanka nữ Yosano Akiko. Tuy bị khai trừ ra khỏi Hototogisu v́ lối sống không thỏa hiệp của ḿnh, bà là một trong những phụ nữ hiếm hoi nối tiếp được ḍng thơ haiku thời Edo của Shiba Sonome (Tư Ba, Viên Nữ, 1664-1726), đệ tử của Bashô, và Kaga no Chiyo (Gia Hạ, Thiên Đại, 1703-1775), người có những vần thơ đậm đà thiền vị. Tiếng Hán viết Mă Toái Mộc. Hoa này Tây Phương gọi là Andromeda, thuộc họ Azalea (lệ quyên), một loại hoa “không thời gian”, trâu ḅ rất thích ăn, cành lá nó và dễ bị say. H́nh như Shuuôshi đă thấy nó bên cạnh một cửa chùa khi ông đến viếng, Ta được biết chuyện đó qua câu thơ trong tập “Vùng đất Katsushika” của ông: Khi tay tôi chạm cánh cửa, (Bài Ashibi saku, thơ Mizuhara Shuuôshi) Shuuôshi có một người bạn tâm huyết trong đời thơ, Yamaguchi Seishi, tuy giữa hai người không phải là không có những cuộc tranh luận về thi ca đưa đến sự đoạn tuyệt giữa họ. Yamaguchi
Seishi (Sơn Khẩu, Thệ Tử, 1901-1994) Ông người Kyôto nhưng đă sống ở Tôkyo và đảo Karafuto, vùng cực bắc nước Nhật.Sau khi vào học Đại Học Đông Kinh, ông cùng với Mizuhara Shuuôshi chấn hưng lại hội haiku ở nhà trường.Là một trong 4S nhưng ông không bằng ḷng với “phúng vịnh hoa điểu” mà đi t́m một lối diễn tả mới nên sau một thời gian hoạt động với tạp chí Hototogisu, đă cùng Shuuôshi đi qua Ashibi. Ông muốn dùng haiku để nói về tâm cảnh của con người đô thị. Năm 1948, ông lập tạp chí Tenrô “Cḥm sao Sirius”. Ngoài hai tập thơ Tôkô “Cảng đóng băng” (1932) và Kôki “Cờ Vàng” (1935) c̣n viết tùy bút và b́nh luận. Trên vùng cỏ mùa hạ (Bài Natsunokusa ni, thơ Seishi, 1933) Bờ sông một ngày hè, (Bài Natsu no kawa, thơ Seishi, 1937) Bài thơ này ông viết vào năm xăy ra cuộc xung đột Trung Nhật. Seishi đă đem vào thơ cảnh hải cảng đóng băng trên đảo Karafuto, đầu máy xe lửa vào ga Ôsaka, những nhà đăng-xinh, chỗ chơi trượt băng, những tiếng c̣i trong trận đấu bóng bầu dục, người thơ kư đánh máy, cuộc họp các cổ đông của một xí nghiệp, một buổi biểu t́nh ngày Lao Động Quốc Tế. Ông rất ít khi nói đến Nhật Bản xa xưa như Kyôto dù đó là thành phố nơi ông sinh ra và sống hầu hết cuộc đời. Về sau, Seishi cùng với nhà thơ nữ Hashimoto Takako (1899-1963), đệ tử của ông, bỏ Shuuôshi, chấm dứt một thời gian cộng tác lâu dài để ra lập tạp chí Tenrô “Cḥm sao Thiên Lang”(1948). Bà, người có danh hiệu là “nữ-Seishi” đă giúp ông trong việc xây dựng một diễn đàn giá trị cho haiku hậu chiến. Thơ Seishi trong thời chiến tranh không nhắc ǵ đến cuộc chiến mà chỉ có những vần nói lên sự trống rỗng, chứng tỏ chiến tranh thực sự đă ảnh hưởng nhiều tới ông. Một bài trong tập Gekirô “Sóng Gầm”(1944): Khi trận băo mùa đông (Bài Umi ni dete, thơ Seishi) Tiếp theo đó, các nhà thơ haiku mới như Matsumoto Takashi (Tùng Bản, Takashi), Kawabata Bôsha (Xuyên Đoan, Mao Xá), Nakamura Kusatao (Trung Thôn, Thảo Điền Nam, 1901-1983) lần lượt xuất hiện. Từ lúc có cuộc vận động đổi mới thi ca, họ đón nhận thêm Tomizawa Kakio (Phú Trạch, Xích Hoàng Nam), Saitô Sanki (Tây Đông, Tam Quỉ), Akimoto Fujio (Thu Nguyên, Bất Tử Nam). Kawabata
Bôsha (Xuyên Đoan, Mao Xá, 1897-1941) Ông là em khác mẹ của họa sĩ Kawabata Ryuushi (1891-1929), một người chuyên môn về hội họa Nhật Bản. Ông cũng đă học vẽ và tu thiền. Năm 1929 bắt đầu đăng thơ trên Hototogisu “Chim Cuốc”. V́ gốc gác họa sĩ và thiền sư nên thơ ông sử dụng nhiều ngôn ngữ Phật giáo và h́nh ảnh chịu ảnh hưởng từ hội họa. (Có thuyết cho rằng v́ ông xuất thân con nhà chủ một trà đ́nh geisha nên có mặc cảm tội lỗi và v́ sức khỏe yếu kém mới đi đến với ḷng tin tôn giáo). Có hai tập thơ tiêu biểu: Kawabata Bôsha shuu “Tập thơ Kawabata Bôsha” (1934) và Kegon “Hoa Nghiêm” (1939). Thơ của ông thường u hoài, chan chứa luyến tiếc, thất vọng: Sạp sách về đêm, (Bài Yomise haya, thơ Bôsha) Cuốn Tây Quốc Lập Chí Biên (Saikoku Risshihen) là bản dịch ra tiếng Nhật của Self-Help, tác phẩm do Samuel Smiles viết, khuyên thanh niên phải có tham vọng tiến thủ. Matsumoto
Takashi ( Tùng Bản,
Takashi, 1906-1956) Tên tuổi Bosha gắn liền với Matsumoto Takashi, một người bạn cũng có số phận hẩm hiu như ông. Con một kép tuồng Nô, ông bỏ nghiệp nhà v́ mắc bệnh phổi và từ đó làm thơ, Có tập Sekkon “Hồn của đá” (1953) với những vần như sau: Chiều thu xuống, (Bài Yuujoya no, thơ Takashi) Ngoài ra c̣n phải kể đến một nhà thơ bạc phước khác: Hasegawa Sosei (1907-46). Ông tham gia tạp chí Hototogisu và nổi tiếng nhờ những bài thơ gữi từ chiến trường Trung Quốc, nơi ông tham dự tác chiến trong một đơn vị pháo binh. Ông có tập Hôsha “Xe Chở Pháo” (1939). Sau ông lâm bệnh và sống chuổi ngày tàn phế đến lúc chết.Thơ ông trong những ngày cuối phản ánh sinh hoạt của ông lúc đó, khi hiện thực, khi trữ t́nh, có màu sắc ẫn nhẫn, cam chịu, rất Đông Phương. Từ tạp chí Ashibi (Mă Toái Mộc) “Hoa Tiên Nữ”[6] do Mizuhara Shuuôshi chủ trương, có Katô Shuuson (Gia Đằng, Thu Thôn, 1905-1993), Ishida Hakyô (Thạch Điền, Ba Hương, 1913-1969) bỏ ra ngoài để hoạt động. Hai ông đă cùng với Nakamura Kusatao (1901-1983) thành lập phái “Nghiên Cứu Con Người” (Ningen sankyuuha) nghĩa là trường phái haiku chủ trương xuyên qua lời thơ, t́m hiểu nhân tính ẩn dấu sau đó. Ngoài ra, vào thời nầy c̣n có những cuộc tranh luận chung quanh việc xóa bỏ qui luật về mùa hay không ( kigo và kidai) và cuộc vận động cho haiku vô sản (puroretaria haiku). Thế nhưng, những tiếng nói đó đă bị tắt nghẹn khi Nhật Bản bước vào t́nh trạng chuẩn bị chiến tranh. Ngôi sao haiku v́ lư do đó đă lu mờ và lại bị xem như một nghệ thuật hạng nh́. Nakamura
Kusatao (Trung Thôn, Thảo Điền Nam, 1901-1983) Người Tôkyô, năm 18 tuổi sau khi cha mất, một tay cáng đáng gia đ́nh. Khi học xong sư phạm ra dạy trung học, rồi làm đệ tử của Mizuhara Shuuôshi. Năm 1937 học tiếp đại học rồi sau ra làm giáo sư đại học nữ Aoyama Gakuin. Tập thơ đầu tay có tựa đề Kanrai “Tiếng sấm lạnh”ra đời năm 1939. Đi từ thơ chải chuốt sang thơ có chiều sâu, thao thức về con người. Ông đặc biệt yêu thích thơ cảm thương của Takuboku và Kijô. Những bài thơ đầu tiên có cái thanh nhă của thơ Shuuôshi nhưng sau đó ông tiến gần với Kusatao v́ chủ trương rằng “thơ không thể viết về những con búp bê không hồn”. Từ năm 1931, ông đă có bài: Người đi nhặt hạt g̣n, (Bài Wata no mi wo, thơ Shuuson) Đáng lư ra người con gái đi nhặt bông g̣n phải hát lên như người cấy lúa xứ Oku mà tiếng ḥ, theo Bashô, đă khơi nguồn cho thi ca.Thế nhưng việc nhặt g̣n là lao động có tính cách máy móc không cho phép nàng biểu lộ t́nh cảm. Sau đây là những bài thơ Shuuson làm trước khi cuộc chiến tranh cục bộ trở thành toàn diện: Ngày tám tháng mười hai, (Bài Juunigatsu, thơ Shuuson, ngày chiến tranh Đại Đông Á mở màn) Ḱa lũ cóc chồm hổm, (Bài Hikigaeru, thơ Shuuson, 1939) Một con kiến nhỏ, (Bài Tsui ni senshi, thơ Shuuson, có lẽ ám chỉ chiến trường Trung Hoa) Những bài thơ lúc đó dù muốn cho là nói lên tinh thần phản chiến của ông nhưng nh́n chung cũng chỉ mù mờ và đa nghĩa. Về sau, ông hầu như trở thành đồng lơa qua việc chấp nhận đi Trung Quốc và Nội Mông trong chương tŕnh của Bộ Thông Tin Tuyên Truyền hồi năm 1944. Dĩ nhiên thời đó người ta chỉ được có một thái độ theo hay chống và Shuuson xem việc bảo vệ nước Nhật của ông ta là trên hết. Sau thời chiến, hành vi câu kết với quân phiệt của ông đă bị Nakamura Kusatao phê phán. Ông c̣n ra tuyển tập Hi no Kioku “Kư Ức về Lửa” (1948) nói về cảnh tàn phá do chiến tranh và Sammyaku “Rặng Núi” (1955) biểu lộ t́nh cảm trước khung cảnh thiên nhiên. Kỹ thuật thơ ông lúc đó đă nhuần nhuyễn nhưng chủ đề th́ b́nh thường và mang tính cách trầm tư lặng lẽ như thơ Bashô trong giai đoạn cuối.
TIẾT IV : HAIKU THỜI SHÔWA HẬU CHIẾN (1945-89) Haiku, một nghệ thuật hạng nh́ ?
Kuwabara Takeo : Haiku ? Một nghệ thuật hạng nh́ Năm Shôwa 21 (1946), Nhà b́nh luận Kuwabara Takeo (Tang Nguyên, Vũ Phu), giáo sư Đại Học Kyôto, đă đăng bài luận thuyết “Nghệ thuật hạng nh́: bàn về haiku hiện đại”. Ông cho biết khi đặt những bài haiku của tác giả nổi tiếng ( Kusatao, Dakotsu, Kyoshi...) và tác giả nghiệp dư vô danh bên cạnh nhau, người ta không phân biệt được bài hay của người nầy, bài dở của người kia. Đó là phương pháp kiểm chứng của I.A. Richards trong cuốn Practical Criticism mà ông đă thử ứng dụng. Phẩm định hơn thua họa chăng là ở chổ gốc gác nếp nhà (iemoto). « Haiku là một thuật mọn chứ không thể là một nghệ thuật”. Lối lập luận của Kuwahara nhiều chỗ có tính gây hấn nhưng đă chấn động thi đàn thời đó. Giữa hai bài haiku sau đây : Bôfuu
no Những tấm phên chắn gió, Saezuri
ya Chiêm chiếp tiếng chim kêu, Thật khó ḷng đánh giá được đâu là thơ của bậc đại sư, Thực ra, bài thứ nhất là của Masaoka Shiki, c̣n bài thứ hai của một tác giả vô danh đăng trên tập san của nhân viên đường sắt. Do đó, theo Kuwabara Takeo, trong lănh vực haiku, phải chăng chỉ có nếp nhà, ḍng dơi, số đồ đệ đi theo, mới ấn định giá trị của nhà thơ. Theo Kuwahara, haiku đă không nhận lấy trách nhiệm xă hội, chỉ là một tṛ mua vui trong bọn với nhau. Đó là chưa nói hiện tượng bè phái của giới làm thơ haiku. Tinh thần ấy ảnh hưởng qua cả các nhà viết tiểu thuyết từ đời Meiji và cản trở luôn cả sự phát triển của bộ môn này. Haiku xă hội và tiền vệ Để đáp lại lời trách móc đó, nhiều nhà thơ haiku cho rằng Kuwabara thiếu kiến thức về haiku để có thể đánh giá đúng đắn. Kẻ khác tỏ ra bối rối, mất tinh thần, bắt đầu hoài nghi về giá trị thơ haiku. Katô Shuuson chẳng hạn, cho rằng nếu không giải đáp được vấn nạn nầy thi e khó ḷng tiếp tục viết haiku. Thế nhưng, những người như Yamaguchi Seishi đă có phản ứng tích cực hơn.. Trong tạp chí Tenrô [8](Thiên Lang), ông lên tiếng cần phải có một thứ haiku cội nguồn (kongen haiku = căn nguyên hài cú) Nhờ tạp chí nầy mà có tập thơ Tanjô (Đản Sinh, 1945) của Takaha Shugyô (Ưng Vũ, Thú Hành, sinh năm 1930). Sau đó, tạp chí Kaze (Phong, từ 1946) của Sawaki Kin-ichi (Trạch Mộc, Hân Nhất, sinh năm 1919) đi theo đường lối haiku xă hội đă ra đời. Sau đây là bài thơ của Sawaki tả cánh đồng muối trên đảo Noto : Từng giọt từng giọt, (Bài
Mizushio no, thơ Sawaki Kin.ichi trong ttaajp Enden « Ruộng
Muối ») Những người làm đồng, (bài Hôdan ni, thơ Sawaki kinichi, trong Okinawa ginyuu shuu « Tập thơ trên đường Okinawa ») Thế
rồi, hai nhà thơ Kaneko Tôta một thành viên
của Kaze, và Takayanagi Shigenobu đă tiến
về haiku có tính tiền vệ. Kaneko
Tôta (Kim Tử, Đâu Thái, sinh năm 1919) Ông người Mito, gần Tôkyô, tốt nghiệp ban kinh tế Đại Học Đông Kinh, học tṛ haiku của Katô Shuuson. Haiku của ông có xă hội tính và kỹ thuật tiền vệ, dễ bắt gặp tâm hồn con người hiện đại. Năm 1955, ông xuất bản tập thơ haiku đầu tiên mang tên Shônen « Thiếu Niên » rồi sau đó sáng lập tạp chí Kaitei « Hành tŕnh trên biển » (1962).Ông c̣n viết b́nh luận về thơ. Để nói sự khủng khiếp của chiến tranh, ông đưa ra h́nh tượng xác ve cháy nám sau trận băo lửa. Nghĩa địa qua trận cháy, (Bài
Bochi mo yakeato, thơ Kaneko Tôta) Sau đây là một bài thơ của Tôta mà ông đă giải thích về quá tŕnh sáng tác của nó : Những chàng trai trẻ nom thật khỏe, (Bài
Tsuyoshi seinen, thơ Tôta) H́nh ảnh « củ hành thối » thấy lạ hơn những ṣ, ốc, cua khi nói về bải biển. Những củ hành có thể do một tàu buôn đánh rơi trong khi chuyển hàng. Và so sánh cái khỏe mạnh của những chàng trai và sự thối ruỗng của những củ hành cùng ngâm trong nước là một sự thủ pháp khá đặc biệt. Tôta đă khai triển ư nghĩa xă hội của thơ haiku, một việc làm bắt đầu với Nakamura Kusatao năm 1953 trong tập Ginga Izen « Sông Ngân Vẫn Như Xưa » và được tiếp nối với Sawaki Kin.ichi ((Trạch Mộc, Hân Nhất, sinh năm 1919), người lănh đạo tinh thần của tạp chí Kaze « Gió ». Takayanagi
Shigenobu (Cao Liễu, Trọng Tín, 1923-1983) Shigenobu
là người đă thí nghiệm “chẻ” thơ
haiku làm nhiều mảnh. Cầu
vồng vắt thân ngang, |