DÁNG LƯNG AI

(Ushiro-sugata, 1976)

 

Nguyên tác: Endo Shusaku

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Résultat d’images pour endo shusaku books

Một b́a sách dịch Endo (ảnh minh họa)  

 

Khi xưa, vào những đêm trằn trọc, tôi thường cố ư đặt một cuốn sách cực kỳ khó nhai ở đầu nằm rồi lần mở từng trang một, măi đến khi con ma buồn ngủ kéo tới. Tuy nhiên, bây giờ, v́ mỗi khi muốn đọc cứ phải đeo kính lăo lôi thôi, tập quán ấy đă không c̣n nữa.

Thay vào đó, trong bóng tối, tôi nằm nhớ lại những chuyện xa xưa.Lạ lùng thay, bao nhiêu nhân vật hầu như quên lăng lại hiện ra từng người trước mắt tôi và từ từ trồi lên như đám bọt khỏi mặt nước. Phân nửa đă về bên kia thế giới, phân nửa c̣n lại tuy đang sống, nhưng đối với một số đông trong đám, tôi không biết họ đang ở đâu và hiện làm ǵ.

Khi chờ đợi giấc ngủ kéo đến, tôi vừa gậm nhấm h́nh ảnh từng người, vừa nghĩ về cái tuổi đời của ḿnh nay cũng đă khá trọng. Không biết ngày nào tôi sẽ chết đây, nhưng sau đó, thử hỏi có người nào trong một đêm thao thức như thế này, lại nhớ về h́nh bóng cũ của tôi không?

 

***

 

Có lần, gương mặt xanh xao của một phụ nữ trung niên hiện ra trong đầu tôi. Với cái áo khoác ngắn kiểu hanten đen sẫm che lấy bờ vai mảnh khảnh, bà đang chậm răi bước đi trong hành lang bệnh viện. Bà dè dặt chào tôi lúc đó đang lúi húi đút mồi cho con nhồng tôi nuôi trong cái lồng treo ở góc hành lang:

-Ngày giải phẫu của ông đă định xong chưa ạ?

Tôi lắc đầu trả lời:

-Dạ thưa chưa. Các bác sĩ hăy c̣n đắn đo nên chưa định được.

Cuộc nói chuyện trên đây đă xảy ra mười lăm năm về trước. Lúc ấy, tôi đang nằm dài cổ trong cái bệnh viện ấy chờ lần phẫu thuật thứ ba. Người phụ nữ cũng nhập viện và ở ngay trong căn pḥng bên cạnh pḥng tôi một thời gian khá lâu. Tuy vậy, suốt một ngày dài dằng dặc, tôi không bao giờ nghe một tiếng động nhỏ từ phía pḥng bà, dù hai chúng tôi ở sát vách

Cánh cửa buồng của bà có treo lủng lẳng cái biển con đề tên của bà là Horiguchi. Tôi nghĩ có lẽ bà là một nội trợ sống ở cái xóm b́nh dân nào đó trong thành phố. Khách đến thăm bà hầu như chẳng có ai, trừ phi một hai tuần một lần, một ông mặt mũi giống như người sống trong một xóm b́nh dân, tuy mặc đồ tây nhưng vẫn thấy quê quê, lặng lẽ tới thăm bà. Tôi đoán chừng ông là chồng bà và cũng có thể là một chủ hiệu đồ điện hay hàng may mặc nào dưới xóm.

Dù được xếp đặt để sống cạnh nhau trên nửa năm trời, tôi với bà chẳng bao giờ tṛ chuyện. Hai chúng tôi chỉ mở miệng một lần, chính là vào cái hôm trời mới vào đông và tôi ra ngoài hành lang cho con nhồng ăn. Sau ba năm nằm viện và trải qua hai lần đại phẫu thất bại, tôi đă vô cùng chán nản. Hết hy vọng có ngày được chữa lành, tôi không c̣n tin vào những lời an ủi đầu môi của các bác sĩ. C̣n với khách khứa lâu lâu đến thăm, tuy có biết ơn nhưng tôi cảm cũng thấy mệt mề khi phải tṛ chuyện với họ. Việc tôi cố t́nh kiếm một con nhồng về nuôi cũng v́ cái t́nh cảm đó.

Giữa đêm hôm, lúc bệnh viện im ắng v́ mọi người đă ngủ cả, trong pḥng riêng chỉ có tôi là nằm tâm sự với con nhồng. Khi hỏi “Nếu giải phẫu lần nữa, tao có chết không hở nhồng?” th́ tôi thấy con vật gục gặc cái đầu và nói: “Có, có!”. Hỏi “Thế Chúa có tồn tại không hở nhồng?” th́ nó cũng trả lời; “Có, có!”. Tôi đă nh́n đăm đăm vào đôi mắt đen láy của con nhồng và nghĩ rằng chỉ có con vật như nó th́ mới không bao giờ nói dối.

Thế rồi một hôm, khi tôi đang ở ngoài hành lang, bỗng có tiếng người đến bắt chuyện:

-Nhồng đó hở ông?

Quay đầu nh́n, tôi nhận ra đó là bà “hàng xóm” Horiguchi. Ánh nắng mùa đông chỉ chiếu lên người bà một cách yếu ớt nên trông mặt bà nhợt nhạt như không có máu. Hết nh́n tôi bà lại nh́n cái lồng chim, bà nói mà như lẩm bẩm một ḿnh:

-Chỉ cần vo mồi thành viên (surie) rồi cho ăn khi nó đói là đủ.

Ngừng lại giây lát, chợt bà lại lên tiếng:

-Cách đây một năm, tôi cũng muốn có một con chim biết nói tiếng người. “Ai nấy rồi cũng đến thế thôi!”. Có phải không ông?

“Ai nấy rồi cũng đến thế thôi, Có phải không ông?” Chỉ một câu nói đó đă giúp tôi hiểu ngay là, trong một khoảng thời gian dài, bà Horiguchi đă bị bệnh tật hành hạ đến mức nào rồi. Và không hiểu tại sao, tôi lại liên tưởng đến chuyện một người đàn bà mắc bệnh huyết ṛ rỉ kinh niên, từng chép trong Kinh Thánh.

Sau đó, tôi mới bắt đầu gặp bà trong hành lang, đôi khi trao đổi dăm ba câu. Thế nhưng, dù thời gian nói chuyện có dài hơn trước, tôi vẫn chưa biết bà Horiguchi là vợ của ông E, một kép nổi tiếng của sân khấu Kabuki.Tôi c̣n nông cạn đến độ hiểu lầm là người đàn ông nửa tỉnh nửa quê đôi khi đến thăm bà Horiguchi trong pḥng bệnh, chỉ là một ông chủ tiệm bán đồ điện hay cửa hàng may mặc. C̣n như bản thân bà Horiguchi th́ lại không có ǵ nổi bật để có thể được xem là phu nhân của một diễn viên Kabuki từng làm xao xuyến trái tim bao cô gái trẻ.

Tôi mới hỏi:

-Bà bắt đầu bị bệnh từ bao lâu?

-Mười năm rồi đấy ông.

-Bà nằm viện suốt từ ngày đó?

Bà lắc đầu bảo:

-Không ạ. Có lúc xuất viện nhưng rồi phải quay lại. Tôi đă làm phiền ông nhà tôi quá đỗi.

-Tôi nghe người ta bảo ông nhà là diễn viên E chuyên đóng Kabuki?

-Dạ phải. V́ tôi đau ốm, ông ấy đă phải dời buổi lễ “Tập Danh” [13] (Shuumei) của ḿnh.

Tuy không rành chuyện đó nhưng tôi biết trong thế giới Kabuki, đă có qui ước là vợ của nhân vật được “Tập Danh” là kẻ phải đứng ra đảm nhận rất nhiều nhiệm vụ trong việc tổ chức buỗi lễ của chồng. Theo bà Horiguchi cho biết th́ hai năm về trước, lúc câu chuyện “Tập Danh” kia vừa mới được đem ra bàn, th́ oái oăm thay, bệnh bà trở nặng đến nỗi phải nhập viện. Chính v́ thế, Hội Chi Viện (Kouenkai) của chồng bà đành dời ngày tổ chức buổi lễ ấy.

Nhân đấy, tôi lại dùng câu nói thường thấy trên đầu môi của bà:

- “Ai nấy rồi cũng đến thế thôi”, bà nhỉ? C̣n như ông nhà, chắc ông đâu có xem lễ “Tập Danh” của ḿnh quan trọng bằng cái ngày bà hoàn toàn b́nh phục?

Bà Horiguchi vẫn cúi gầm và không nói câu ǵ. Bờ vai mảnh mai giờ đây c̣n thấy nhỏ bé hơn hồi năy. Tôi thừa biết là những điều ḿnh vừa nói đều như vô nghĩa đối với bà. Phải chăng v́ không c̣n tin vào những lời an ủi đầu môi chót lưỡi của người đời mà bà đă muốn mua một con nhồng về nuôi?

Năm đó, mùa đông dài đặc biệt. Có hôm, trong lúc vẫn nằm nguyên trên giường và lơ đăng nh́n trần nhà, đột nhiên tôi thấy đèn trong pḥng tắt phụt. Th́ ra có một bệnh nhân trên lầu ba, có lẽ v́ không chịu nổi cảnh bệnh tật hành hạ, đă từ sân thượng gieo ḿnh xuống,chẳng ngờ thân thể anh vướng phải sợi dây điện đang giăng. Khi nghe rằng anh bị găy cả xương cổ và nhân viên điều dưỡng đang hối hả chạy bên ngoài hành làng để khiêng anh đi cấp cứu, thực t́nh tôi cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm. Bởi v́ “Ai nấy rồi cũng thế thôi” cơ mà!

Bước qua năm mới rồi mà câu trả lời của bác sĩ vẫn nửa úp nửa mở như trước:

-Ừ nhỉ? Để ba tháng nữa, chúng tôi coi lại xem có cần giải phẫu hay không. Lúc đó ḿnh sẽ quyết định nhé!.

Nếu là ba tháng nữa th́ đúng lúc trời vào xuân. Hoa anh đào sẽ nở bên trong cái sân nằm giữa bệnh viện.Nhưng cảnh hoa nở ấy th́ qua khung cửa sổ của căn pḥng này, tôi đă được nh́n đến hai lần rồi!

-Trong nhà thương này đó nghe ông…

Người bác sĩ vừa rút điếu thuốc ra khỏi hộp đựng thuốc lá, đă nhận ra tia nh́n của tôi nên vừa cười khổ sở vừa đút tất cả vào túi và nói tiếp:

-Phải xem một năm như là một tháng mới được. So với bà Horiguchi pḥng bên cạnh th́ thời gian chờ đợi của ông hăy c̣n ngắn lắm!

-Thế bà ấy có hy vọng lành không, bác sĩ?

-Chữa th́ vẫn chữa thôi! Nhưng lần này, nếu bà ấy xuất viện th́ về sau, hơi gay đấy!

Thực ra th́ cách đây mấy hôm, bà Horiguchi có đến hỏi ư kiến tôi. Chỉ v́ bà hăy c̣n lưỡng lự, không biết nên xin phép nhà thương cho xuất viện hay không.

-Tết (dương lịch) này, câu chuyện lễ “Tập Danh” lại được đem ra bàn nữa đấy ông, Nếu cứ dời măi kỳ hạn, tôi e ḿnh sẽ gây khó khăn cho ông nhà tôi lẫn Hội Chi Viện.

-Thế nhưng mà này…

Tôi cứ lập đi mấy chữ “Thế nhưng mà này...thế nhưng mà này” không biết bao nhiêu lần trong cái đầu trống rỗng của ḿnh, rồi nói:

-Thế nhưng các sensei ? Họ nói sao với bà?

-Sensei (tiên sinh) ǵ? Ông định đề cập đến các ông bác sĩ? Dĩ nhiên là họ có cho ư kiến chứ! Họ bảo là với các loại tân dược, tôi hăy c̣n có hy vọng hồi phục. Cho nên lần này mà quyết định gấp gáp là không tốt.

Bà Horiguchi gập hai ống tay chiếc áo hanten đè lên ngực như muốn ngăn một tiếng thở dài từ đáy ḷng ḿnh. Bao nhiêu loại thuốc đều đă uống hết rồi, mấy lúc gần đây bà chỉ c̣n có cách nương cậy vào những loại kháng sinh đời mới. Nếu lần này nằng nặc đ̣i xuất viện th́ lúc căn bệnh nặng thêm, chắc là hết cách chữa. Phần tôi, tôi cũng chẳng biết trả lời sao với bà. Con nhồng đang nằm trong cái lồng chim dưới chân tôi th́ chỉ biết gục gặc cái đầu, nhưng phải chăng đó mới đúng là cách trả lời của một con người?

 

***

 

Từ hôm đó về sau, bẵng đi một thời gian, tôi không có dịp gặp bà Horiguchi nữa. Từ căn pḥng của bà bên kia vách, tôi cũng chăng c̣n nghe một tiếng động nào vọng tới nhưng tôi có cảm tưởng là chính sự im lặng này mới truyền đưc đến tôi tất cả nỗi khổ tâm và tiếng thở dài năo nuột của bà. Buổi trưa, trong cái tĩnh lặng của giờ an dưỡng, tôi vừa để tai ḿnh lắng nghe một tiếng động, dù nhỏ đến đâu, ở phía bên kia vách và thầm chờ xem bà sẽ lấy quyết định như thế nào. Lúc ấy, bất ngờ tôi nhớ lại khung cảnh đă được nh́n qua cánh cửa sổ của một căn pḥng bệnh nhân nằm phía đối diện vào mùa hè cách đây hai năm, khi tôi vừa chân ướt chân ráo vào bệnh viện này.

Thời gian đó, trong căn pḥng đối diện ấy có một người đàn ông khoảng 50 tuổi mắc chứng ung thư máu (hakketsubyô) đang nằm. Lại có một bà vợ trẻ lúc nào trên người cũng mặc một tấm tạp dề màu trắng tận tụy chăm sóc cho ông. Khi mùa hạ sắp hết, tôi đă t́nh cờ chứng kiến cảnh người đàn ông đó đang cầm một tấm giấy đưa lên chùi mồm và sau đó cứ đăm đăm nh́n vào nó. Có thể đó là lần đầu tiên ông ta khám phá ḿnh bị chảy máu dưới chân răng. Trường hợp ung thư máu th́ khi lợi bị xuất huyết là bệnh đă đến lúc vô phương cứu chữa.

Thời gian đó cũng như bây giờ, mỗi ngày tôi đều nh́n qua cánh cửa sổ và băn khoăn tự hỏi không biết cặp vợ chồng ấy sẽ phải đối phó cách nào. Bởi v́ tôi muốn chính đôi mắt ḿnh sẽ có dịp in được một cách sinh động nỗi thống khổ của những con người đang sống. Thế rồi, vào một buổi chiều kia, khi ánh nắng gay gắt từ phía Tây chiếu vào gian pḥng ấy, tôi đă mục kích cảnh hai vợ chồng ngồi dựa vai vào nhau như một đôi chim nhỏ. Họ ngồi bên giường, mặt cùng cúi xuống. Người đàn ông chẳng bao lâu nữa sẽ từ giă cơi đời và người vợ trẻ sẽ c̣n lưu lại trên dương thế đă nắm lấy tay nhau. Thái độ lặng lẽ của hai vợ chồng đă sống lại trong tim tôi và nó chẳng khác nào sự im ắng không dậy lên một tiếng vang từ căn pḥng của người đàn bà sát vách mà tôi đang lắng tai nghe.

Đến tháng hai, có một trận mưa tuyết lớn. Dù sau khi đă tan đi, nó hăy c̣n để lại những vạt tuyết đọng mỏng và bẩn trong cái sân nằm giữa bệnh viện. Tôi bị cảm và lên cơn sốt nhẹ. Mỗi ngày, v́ từng có kinh nghiệm bị sốt khoảng 37 độ rưỡi trong một thời gian dài, tôi chẳng phải cần tới nhiệt kế để đo thân nhiệt mà chỉ dựa vào cái nóng cảm thấy trên má và cái nhức mỏi của châu thân mà phỏng đoán một cách khá chính xác về nhiệt độ trong người hôm đó. Từ trên giường, tôi đă ngắm cảnh con nhồng gục gặc cái đầu và trải qua nhiều ngày như vậy.

Trong khoảng thời gian đó, một hôm tôi bỗng nghe có ai đang gơ cửa.Buổi trưa từ 1 đến 3 giờ là giờ an dưỡng (cho bệnh nhân ngủ nghỉ), nên chắc đây không phải là khách bên ngoài đến viếng, Ngẩng cặp mắt c̣n đang mơ mơ màng màng, tôi vừa lên tiếng trả lời “Vâng!” th́ đă thấy cánh cửa lớn mở hé ra một tí rồi khuôn mặt xuống sắc v́ bần huyết của bà Horiguchi nhô ra.

-Xin lỗi đă làm phiền ông bấy lâu nay!

Bà Horiguchi đứng đó với trang phục trang trọng, có cả áo khoác haori bên trên kimono.

-Tôi đă cân nhắc kỹ...nên cuối cùng đă xin phép xuất viện.

-Bà về ngay bây giờ sao?

-Vâng!

Một nụ cười nhẹ nở trên khuôn mặt trắng bệch mà bắp thịt hai bên má đă chảy xệ. Câu nói “Lần này nếu bà ấy xuất viện, về sau sẽ gay lắm đấy!” của viên bác sĩ lại mơ hồ hiện về trong trí tôi, nhưng tôi đă không lên tiếng.

Sau khi nói “Cảm ơn ông thật nhiều”, trong một khoảnh khắc, bà như nghẹn ngào rồi lại dặn ḍ tôi: “Ông cũng nhớ giữ ǵn sức khỏe, ông nhé!”Cánh cửa đă khép lại nhẹ nhàng. Từ trên giường, tôi hấp tấp bước xuống làm chân vấp vào cả chiếc dép và chỉ đủ thời gian ch́a đầu ra bên ngoài cánh cửa. Trong dăy hành lang của giờ nghỉ trưa, cái bóng của bà Horiguchi với khuôn mặt hơi cúi thấp đă xa dần rồi khuất hẳn. Làm như đôi vai và dáng lưng bà hăy c̣n nhỏ bé và mỏng manh hơn cả ngày thường. Cuối cùng, tôi không c̣n thấy cái dáng đằng lưng ấy nữa. Nhưng dù không c̣n nh́n thấy nó, cái lưng ấy vẫn c̣n sót lại như một tàn ảnh trong tôi. Về cái chết của bà xảy ra vào ba năm sau, tôi chỉ được biết qua trang Cáo Phó của một tờ báo.

 

***

 

Hôm đến dọn nhà cho anh ḿnh, t́nh cờ tôi đă t́m thấy một tập dán ảnh (album) cũ.Cái b́a dày cộm của nó giờ cũng đă tả tơi và mấy trang trong bằng giấy bồi đen dùng để dán ảnh th́ với thời gian đă phai màu hẳn. Đa số những tấm ảnh ŕa ố vàng nằm bên trong th́ tôi đều nhớ rơ xuất xứ nhưng lại có một tấm chụp nghiêng một thiếu nữ không quen biết với cái đầu phồng xưa được gọi là “Cao điểm 203” (Nihyakusan kôchi) nhưng nay đă lỗi thời và một bức khác chụp một thanh niên để ria mép trong bộ đồ com-lê đủ cả ba phần (mitsuzoroi). Bức ảnh nào tôi không nhớ ra th́ ông anh tôi cũng không biết nốt.

Trong những bức ảnh của tôi chụp hồi nhỏ, không lấy một bức có cảnh tôi đang cười. Bức nào bức nấy đều thấy mắt tôi quắc lên như thể có ǵ không bằng ḷng.

Anh tôi bèn trêu:

-H́nh của chú mầy cái nào cũng mang một cái mặt như mếu. Bộ mầy không thể đứng nghiêm một chốc sao em!

-Em lấc cấc lắm hở anh?

-Ừ, theo tao th́ cũng đâu đó!

Tôi lần dở hết những tấm ảnh đă phai màu và xem từng cái một. Nhiều tấm có dấu bong tróc khiến tôi có cảm tưởng chúng đă bị lấy đi một cách thô bạo. C̣n mặt giấy dán ảnh th́ khỏi nói, v́ bị bóc mạnh nên trông nó rách nát không thể tưởng.

-Sao ai lại đem bóc ảnh ra thế nhỉ?

-V́ đó là ảnh “ông chú yêu quí” của tụi ḿnh.

- “Ông chú yêu quí”! Nhưng là ông chú nào?

-Dĩ nhiên là chú Kôzô chứ c̣n ai vào đây.

Anh tôi nói mà làm như muốn nhấn mạnh vào hai chữ “dĩ nhiên”. Tôi cảm thấy đang bị anh chọc quê nên đă im lặng. Sở dĩ tôi cảm thấy ḿnh quê là v́ lúc đó, bao nhiêu cảm giác tôi có về người chú ấy trong ngần ấy năm làm như sống lại trong tôi.

Chú Kôzo là em út của bố. Nói về chú th́ cho đến nay và nhất là trong thời kỳ chiến tranh, cả gia đ́nh tôi đều tỏ ra ngần ngại khi có ai muốn ḍ hỏi về tin tức của chú. Lư do là chú đă trốn khỏi nước Nhật từ năm Chiêu Ḥa thứ 5 (1930) và nhập lậu vào Liên Bang Xô Viết.

Trong bóng tối, khi nhắm mắt lại, khuôn mặt của ông chú trông như người yếu bóng vía này lại mơ hồ hiện ra trong trí óc tôi. Tuy hồi đó tôi không biết ǵ về chú nhưng kư ức mà tôi có là khuôn mặt của một người nhút nhát. Bây giờ nghĩ lại, tôi tự hỏi v́ cớ ǵ mà một người tinh thần yếu ớt như chú tôi lại có thể làm những hành động cực kỳ nguy hiểm vào thời buổi đó là đủ can đảm để đánh lừa cặp mắt giám sát của cảnh sát để tham gia phong trào sinh viện ở Đại học Kyôto, đến mức cuối cùng, là ra hải cảng Niigata, lẻn vào trong một chiếc tàu Xô Viết để tẩu thoát ra nước ngoài.

Mùa hè năm Chiêu Ḥa thứ 4 (1929), tôi đang học năm thứ nhất tiểu học ở thành phố Đại Liên (thuộc Măn Châu). Thành tích học tập đầu tiên mà tôi vừa nhận được vào kỳ nghỉ hè năm ấy nếu so sánh với bảng thành tích của anh tôi th́ quả là tệ đến thê thảm và đă khiến tôi mất tinh thần. Vừa khi kỳ nghỉ hè bắt đầu chưa được bao lâu, đột nhiên một hôm từ Nhật Bản, có một thanh niên dáng điệu vui vẻ, mặc một bộ kimono màu trắng điểm hoa văn nhàn nhạt, đến hạ chiếc va-li cũ kỹ của ḿnh ngay trước mặt nhà tôi.

V́ thấy tôi nhướng mắt nh́n chăm chú vào người đàn ông đó khi ông hăy c̣n xa mẹ tôi mới hỏi tôi:

-Chú Kôzô đó mà. Bộ con không nh́n ra chú ấy sao?

Thấy tôi lắc đầu, chú nở một nụ cười ngượng nghịu.

Không biết xử trí làm sao, mẹ tôi mới lựa lời giải thích cho chú:

-Cái thằng bé này chỉ gặp chú có vài lần trước khi chúng tôi dọn nhà qua Đại Liên thôi.

Hèn chi nó mới quên chú đó!

Bà c̣n đem thành tích học tập tệ hại của tôi kể cho chú nghe. Đối với mẹ tôi, có lẽ đây chỉ là một câu chuyện tầm phào, chẳng tai hại ǵ, nhưng lúc đó nó đă làm cho ḷng tự ái của tôi tổn thương không ít.

Từ khi vụ nghỉ hè bắt đầu, đám trẻ con bên hàng xóm thường chạy qua nhà tôi chơi. Suốt buổi sáng, lũ trẻ con chúng tôi được tụ tập học hành trên gác hai. Chú Kôzo, với tấm áo mát yukata mặc trên người, đôi khi cũng leo lên gác để canh chừng.

-Ổng đang lên ḱa!

Khi nghe tiếng chân vọng từ cầu thang là anh trai tôi đă th́ thầm cho cả bọn hay. Những đứa trẻ khác bèn vội vàng giữ im lặng và chúc đầu xuống mặt bàn, chỉ có ḿnh tôi là đứa chậm chạp, vụng về nên hăy c̣n chưa chuẩn bị kịp. Khi bước vào trong, chú Kôzo chỉ thấy mỗi ḿnh tôi là đang đứng giữa pḥng, ngơ ngác và khiếp hăi. Chú nh́n chầm chập vào tôi và trách móc:

-Không làm bài tập trường cho là không được đó nghe!

Chú cũng bắt tôi ôn lại toán pháp và đă bao lần khổ sở v́ phải thay đổi cách dạy:

-Bảy cộng bảy là….Này! Con hăy nh́n xuống những ngón nằm trên hai bàn tay đi! Nếu đếm mà thấy c̣n dôi ra 4 th́ kết quả không phải 14 là ǵ nào?

Lối giải thích đó vẫn không chịu in vào đầu nên tôi vẫn đực người ra, chẳng nói năng ǵ, Chỉ v́ tôi vẫn c̣n hoang mang và tự hỏi tại sao nó lại là 14 mà không phải 15.

Tuy nhiên, khác với bố tôi, một người dễ cáu kỉnh một cách thất thường, chú không hề nổi nóng v́ những chuyện đó, nên dần dần, ông đă bắt đầu bị bọn trẻ con đâm ra lờn mặt.

Hồi đó anh tôi được mẹ mua cho một quyển sách nhan đề “Nazo nazo no hon” giải thích về những thai đố và anh đọc rất say sưa. Anh thường đem ra đố chú Kôzo những câu hiểm hóc như: “Cái mà dù có cho vào măi cũng không bao giờ đầy là cái ǵ?” hoặc “Cái ǵ mà cắt tới cắt lui, cắt đi cắt lại vẫn không t́m ra vết cắt?”. Mỗi lần như vậy, chủ chỉ lắc đầu và trả lời:

-Chú không biết!

Th́ hai anh em tôi lại giở một cái giọng cười cợt để chế nhạo chú:

-Chú dở quá di! Cái cắt đi cắt lại mà không có vết cắt là nước chớ có ǵ đâu!

Đêm đến, sau khi cơm nước đă xong xuôi, trong gian pḥng khách chỉ c̣n lại cha tôi và chú, họ nói chuyện với nhau rất lâu. Bọn trẻ chúng tôi lúc đó măi lo chơi đốt pháo bông nên chẳng biết ǵ cả nhưng sau mới biết là bố tôi đang thuyết phục em trai đừng tham dự vào những phong trào vận động sinh viên nữa. Thường th́ sau những cuộc nói chuyện như vậy, lúc bước ra khỏi pḥng, gương mặt của bố tôi lúc nào trông cũng cau có. C̣n chú cũng không khác, nhưng khi hai anh em tôi ngước mắt nh́n lên họ với vẻ khiếp hăi, tôi thoáng thấy chú đang cố gắng nở một nụ cười yếu ớt trên môi trước khi khuất dạng trên lối đi về phía pḥng ḿnh,

Mùa hè năm ấy trời rất nóng.Tuy không phải là cái nóng ẩm thường thấy ở Nhật, nhưng cũng đủ để cho hơi nóng đọng lại và bốc lên từ mặt đường tận lúc chiều xuống. Chúng tôi tiếp tục chơi ở bên ngoài ngôi nhà cho đến khi lá trên những hàng cây keo (acacia), bắt đầu sẫm bóng, trong khi đó, bọn con nít Măn Châu từ xa vẫn nh́n chúng tôi chơi đùa với cặp mắt thèm thuồng.Tôi thấy chú Kôzô bước ra khỏi nhà và ngồi xuống trên thềm đá hàng hiên, một ḿnh nh́n bâng quơ như đang đắm ḿnh trong suy tưởng.

-”Cái mà gơ vào đầu măi vẫn không chịu nghe lời là cái ǵ?”

Trong khi đang chơi tṛ tung bật mấy quả bóng dă cầu vào vách tường, anh tôi bất chợt đặt cho chú Kôzô một câu đố mới.Tuy bị quấy phá trong lúc ḿnh đang tập trung suy nghĩ nhưng chú chỉ chơm chớp mi mắt và trả lời một cách nhẹ nhàng:

-Ừ nhỉ! Cái ǵ vậy ta?

-Đinh. Là cây đinh thôi. Đương nhiên mà chú!

Thế rồi anh tôi lại dốc sức ném quả bóng mạnh thêm vào bức tường nơi nắng chiều đang rọi tới. Ông chú của tôi chỉ mỉm một nụ cười buồn. Đột ngột ông hỏi lại:

-Thế th́ “Cái ǵ nếu dài ra th́ càng ngắn đi?”?

Anh tôi ra chiều suy nghĩ trong một lát rồi đáp: “Cái bóng trong một ngày mùa hè chứ ǵ!” thế nhưng chú tôi chỉ lắc đầu.

Khoảng một tuần sau ngày đó, chú Kôzô của chúng tôi đă khăn gói để trở về Nhật. Sau đó, tôi mới biết là bố tôi đă ra tối hậu thư cho chú, bắt chú phải suy nghĩ cặn kẽ để quyết định từ bỏ những hoạt động trong phong trào sinh viên hay không và chú đă trả lời cho ông.

Một chiếc “maacho” (xe thổ mộ kiểu Măn Châu) đă đến đón chú. Đằng trước nhà, người Măn đánh xe đang loay hoay với chiếc roi để đuổi lũ nhặng bay vo ve sau lưng con ngựa. Cho đến lúc bố mẹ và chú bước ra cửa, hai anh em tôi vẫn tiếp tục chơi tṛ ném bóng vào bức tường. Giống như ngày đặt chân lên Đại Liên, chú tôi vẫn mặc bộ kimono màu trắng điểm hoa văn nhàn nhạt và đong đưa trên tay chiếc va-li cũ kỹ. Khi bước ra từ gian tiền đường, chú đă cất tiếng chào:

-Vậy, chúng ḿnh tạm biệt nhé!

Cả gia đ́nh tôi cũng nói lời chào tạm biệt với chú. Xong, chú xoa đầu tôi và hỏi:

- “Cái ǵ nếu dài ra th́ càng ngắn đi?”...Cháu biết nó là cái ǵ chưa nào?

Nói xong câu, chú theo chân cha mẹ tôi bước về phía chiếc xe ngựa. Người đánh xe ra roi, chiếc xe chậm răi lăn bánh về phía trước và khuất dần trên con lộ hăy c̣n bốc lên hơi nóng. Bóng chiếc áo kimono màu trắng chú tôi mặc nhỏ dần. Đó là h́nh ảnh cuối cùng chú Kôzô c̣n để lại trong tôi.

Từ khi chú trở lại nội địa (Nhật) th́ không c̣n ai rơ về hành tung của chú nữa. Cảnh sát h́nh sự đă nhiều lần đến nhà ông nội tôi điều tra về chú nhưng cả ông nội lẫn bà nội tôi biết mô tê ǵ mà trả lời. H́nh như lúc đó cảnh sát có báo cho ông nội tôi hay là họ hồ nghi chú đă thoát ra nước ngoài, có lẽ Trung Quốc hay Liên Bang Xô Viết.

Trong một thời gian dài, sự tồn tại của chú Kôzô là một mối phiền phức cho gia đ́nh và thân tộc. Bởi v́ lâu lâu cảnh sát h́nh sự vấn đến tra vấn chúng tôi, hết điều này đến điều nọ. Đến lúc ông nội tôi qua đời th́ chỉ c̣n mỗi bà nội là người hăy c̣n khổ tâm lo lắng cho sự an nguy của chú. Thế nhưng lúc bà nội tôi cũng không c̣n nữa th́ trong nhà, không một người nào muốn bỏ công ra để xem chú đă lưu lạc về đâu.

Lúc tôi đến cái tuổi của chú ngày chú đặt chân lên thành phố Đại Liên th́ chiến tranh vẫn c̣n đang tiếp diễn. Không hiểu sao khi nghe tiếng gầm rú của máy bay địch, cái mà tôi nhớ đến đầu tiên là khuôn mặt như hớt hơ hớt hải của chú. Thế nhưng cớ sao một con người yếu đuối như thế lại đi theo một chủ nghĩa nguy hiểm và chọn hướng hành động là những cuộc vận động vốn cũng nguy hiểm không kém. Tôi không thể nào hiểu nỗi. Bởi v́ vào thời đó, chúng tôi ai nấy đều khiếp sợ cái gọi là chủ nghĩa Marx. Ngay cả h́nh ảnh Liên Bang Xô Viết, nơi ông chú của tôi đang ở, in trong đầu chúng tôi, chỉ là một đất nước lạnh lẽo ngập trong tuyết trắng mênh mông.

Trong những giờ phút đó, thai đố của chú về : “Cái ǵ nếu dài ra th́ càng ngắn đi?” bất chợt đă sống lại trong lỗ tai tôi.

Chẳng bao lâu sau, chiến tranh chấm dứt. Từ khi đoàn người từ Trung Quốc và Liên Bang Xô Viết kẻ trước người sau quay lại Nhật Bản, h́nh như cha tôi đă cố t́m hiểu thông tin về chú Kôzô nhưng không ai biết. Độ hai năm sau khi chiến tranh kết thúc, bỗng thấy một người đàn ông t́m đến nhà thăm cha tôi. Người đàn ông đó da dẻ rám nắng và có một khuôn mặt già đi rất nhiều so với tuổi tác. Khi ông đặt hai bàn tay chỉnh tề lên trên đầu gối th́ mới thấy ông đă mất cả hai lóng tay nằm trên ngón giữa. Nghe ông nói ḿnh là người hồi hương từ Liên Xô. Chẳng những thế, ông c̣n thú thực ḿnh chính là bạn đồng hành đă cùng chú Kôzô vượt biên trong chuyến đào vong vào năm Chiêu Ḥa thứ 5 (1930).

Ông ta bắt đầu kể:

-Trước tiên, bọn chúng tôi t́m lên Sendai và ẩn náu nơi đó. Thế nhưng Sendai rồi cũng không yên thân nên chúng tôi đành đi Niigata kiếm cách lên tàu Xô Viết để ra nước ngoài. Anh Kôzô giả dạng họa sĩ, cả ngày cứ vờ vác cọ ra bến tàu Niigata ngồi vẽ. Kỳ thực, trong khi làm như vậy, anh đă thăm ḍ tín hiệu liên quan đến ngày nhổ neo của những chiếc tàu buôn.

Khi đă biết rơ là giữa khuya hôm ấy có một chiếc sẽ lên đường, chú Kôzô tôi và ông bạn này đă chèo một chiếc thuyền con trong đêm ra ngoài biển và xáp lại bên thành tàu. Hai ông cật lực níu vào xích sắt ở đuôi tàu rồi qua thành cửa sổ mà chui người vào bên trong một cái khoang nằm dưới hầm tàu. Giữa bóng đêm đem kịt, họ chợt ngửi thấy có mùi xú uế xông lên nồng nặc. Thân thể họ lại chạm phải những thể khối không biết là vật ǵ và tai họ bắt đầu nghe những tiếng ụt ịt lạ lùng. Hóa ra là tiếng của bầy heo đang được thủy thủ nuôi ở ḷng thuyền.

-Thế rồi khi thấy dấu hiệu con thuyền rục rịch ra khơi, hai đứa tôi đành phải nằm lại với bầy heo cho đến sáng. Hôm sau, hai đứa mới dám ḅ lên sàn tàu và khi thấy chúng tôi xuất hiện, nhân viên trên tàu đă ngạc nhiên không ít.

Tuy là với một nụ cười đau khổ trên môi nhưng ông già đă tiếp tục kể cho chúng tôi một cách thản nhiên cuộc vượt thoát của hai người. Nhân viên trên tàu đă nhận hai ông như công nhân lo việc quét dọn nhưng chỉ bằng ḷng cho họ bọ quá giang đến Vladivostock. Đến nơi, họ đă bị chính quyền địa phương tra xét. Các viên chức Xô Viết không chấp thuận cho họ cùng đi Moscow như điều họ mong muốn, lại c̣n đem tách hai người ra. Riêng ông già này bị tống qua đảo Sakhaline (Karafuto) phần thuộc Nga và từ đó sống ở một thị trấn tên gọi Lazarev.

-Tôi không biết người ta đem anh Kôzô đi đâu cả. Phần tôi th́ làm việc trong một công xưởng và ngón tay bị cụt đến phân nửa này là do bị máy móc tiện đứt. Tôi đă nán lại thị trấn đó cho đến khi chiến tranh kết thúc. Sau khi ḥa b́nh trở lại, tôi bèn xuống Karafuto, theo chân đoàn người Nhật hồi hương và nhờ đó mới về được Hokkaidô.

Nghe câu chuyện ông già kể, chúng tôi mới hiểu rằng ông chú Kôzô đă không về nước và chắc hiện nay vẫn sống lây lất ở một nơi nào bên Liên Bang Xô Viết. Hoặc giả, chú đă nằm yên trong một nấm mồ ngập sâu giữa băng tuyết của cái xứ sở rộng bao la ấy rồi chăng?

Khi nằm trong bóng tối và khép đôi mi, trong đầu tôi lại hiện ra khuôn mặt hiền lành đến nhút nhát của chú tôi. Cái dáng sau lưng của chú (ushiro-sugata) trong chiếc kimono màu trắng khi ngồi trên chiếc xe thổ mộ ngày rời khỏi Đại Liên vẫn c̣n đọng măi dưới mi mắt tôi. Thai đố chú đưa ra :“Cái mà dài ra th́ lại ngắn đi là cái ǵ nào?” th́ từ đó về sau, hai anh em tôi vẫn không có lời giải đáp! Rốt cục, vào cái tuổi này, tôi đă t́m ra một câu giải đáp cho riêng ḿnh. Đó là ǵ nếu không là “Cuộc đời!” (Jinsei) v́ khi cuộc đời dài ra th́ nó lại ngắn đi...Theo tôi, cuộc đời khi dài ra lại ngắn đi của người chú ngồi bên thềm trước hiên nhà vào một buổi chiều mùa hè ở Đại Liên ….có thể được xem là một cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng đâu có kém chi những cuộc đời dài! Tuy nhiên, chuyện đó có ra sao th́ tôi cũng mặc. Ở cái tuổi 50 như tôi, chỉ có cái dáng lưng mà chú để lại đằng sau khi đi khuất là cái khiến cho con tim tôi se lại.

 

***

 

Có lẽ v́ máy điều ḥa chạy không được tốt nên cái quán rượu nằm dưới tầng hầm này vẫn nóng và ẩm thấp. Khi ngồi trên một chiếc ghế tṛn ở góc quán và nhấp ly bia, tôi bỗng nghe có tiếng chân của khách đang bước xuống cầu thang và đi vào. Kẻ mới đến xâm nhập là một người đàn ông cùng độ tuổi với tôi và có lẽ là một viên chức cỡ bự trong một hăng buôn.

Ông ta kêu lên:

-Ôi chao. Hôm nay ở đây sao lại vắng như chùa bà Đanh vậy?[14]

Té ra ông ta là một người khách quen. Lúc đó tiệm chỉ có hai cô tiếp viên. Một cô bèn trả lời với giọng mơn trớn;

-Thưa vâng, th́ thứ bảy[15] mà!

-Nóng quá! Máy lạnh của quán là đồ lạc-son hay sao vậy? Bà chủ (mama-san) các cô coi bộ hơi keo kiệt đó nghe.

Ông ta ngồi, buông phịch cái mông ph́ nộn xuống một cái ghế tṛn khác cách tôi không bao xa. Sau đó, ông tháo kính ra rồi dùng cái khăn ướt cá nhân dành cho khách (o-shibori) lau lấy lau để khuôn mặt.

Anh bồi phục vụ rượu (bar-tender) từ bên kia quầy hỏi thăm nhưng là để mua ḷng khách

-Ông vừa đi chơi gôn (golf) về đấy ạ?

-Không phải! Ai mà rảnh rang vậy cha!

Tính tôi vốn không hợp với những người tràn trề sinh lực kiểu ông nên đă giả vờ nh́n qua phía khác nhưng vẫn nghe ông nói với cái giọng sang sảng coi trời bằng vung:

-Không có dă cầu (baseball) à? Chương tŕnh trực tiếp trên TiVi đâu?

-Thưa hồi chiều trời mưa nên có lẽ trận đấu đă bị đ́nh chỉ.

-Sao cậu có thể tự tiện quyết định như vậy? Bật hộ TiVi cho tôi xem cái coi!

Ở một góc cái kệ giống như giá sách kê một dăy chai rượu, tôi thấy họ có đặt cái máy truyền h́nh nhỏ màu trắng. Anh bồi không biết nói sao đành cho tay bấm nút để bật th́ đă nghe tiếng ông khách:

-Có mỗi cái TiVi mà cũng không chịu bỏ tiền ra mua máy mơi mới một chút. Sao thế?

-Xin ông cảm phiền. Bởi v́ ở đây ít khi dùng đến….À, đúng là trận đấu đă bị đ́nh chỉ. Bây giờ họ đang chiếu phim thay thế.

Trên màn ảnh hiện ra h́nh ảnh một toán đàn ông cưỡi ngựa đang chạy ṿng quanh một bầy ḅ và làm tung lên một đám cát bụi mù mịt. Một cuốn phim cao bồi Viễn Tây chẳng có ǵ hay.

-Bực ghê! Ḿnh cố ư đến đây để xem trực tiếp dă cầu mà lại. Thôi, đi về vậy!

-Thế ông vẫn là người hâm mộ (fan) đội Hanshin?

-Chớ sao! Mấy lúc này sao mà chơi mạnh ra phết. Chắc tại họ đang có phong độ tốt. C̣n ông đây?

Anh bồi sau quầy rượu lâu lâu lại ném về phía tôi một cái nh́n ái ngại như sợ tôi bị ông ta làm phiền. Thực ra tôi ngồi đây là để đợi một người quen nhưng giờ này họ vẫn chưa thấy đến. Cô nữ tiếp viên nh́n vào màn ảnh một cách khá chăm chú làm như cô đang thực sự theo dơi câu chuyện. Có lẽ thấy thế nên ông khách cũng tỏ ra bị cuốn hút như cô và đưa mặt ḿnh về hướng màn ảnh.

Trên đó giờ là h́nh ảnh của toán kỵ binh đang hộ tống đoàn người đi khẩn hoang trong những cỗ xe ngựa mái ṿm có căng bạt vượt qua thảo nguyên hướng về miền Viễn Tây. Phía bên kia những cánh đồng cỏ rộng bạt ngàn là những ngọn núi trọc màu nâu đất h́nh đầu lâu. Nhân v́ tôi chưa bao giờ đặt chân lên đất Mỹ nên không rơ phong cảnh nói trên thuộc về vùng nào. Đột nhiên, người chỉ huy đưa tay lên ra hiệu cho toán kỵ binh đang di h́nh theo hàng dọc dừng lại. Thế rồi ông ta giục ngựa tiến về những chiếc xe ngựa mái ṿm có căng bạt và thông báo là liên đội sẽ quay về v́ đă chấm dứt nhiệm vụ hộ tống nơi đây. Đám người khẩn hoang trên những chiếc xe ngựa căng bạt vải, cả nam lẫn nữ, đều đưa tay vẫy chào tạm biệt đám binh sĩ. Thế rồi chỉ c̣n thấy h́nh ảnh đoàn xe ngựa nhỏ dần giữa thảo nguyên rộng lớn. Sau đó màn ảnh đă đổi sang tiết mục quảng cáo. C̣n bên trong quán là một sự im lặng tiếp tục kéo dài.

Chợt cô nữ tiếp viên nh́n thẳng vào mặt người khách và kêu lên:

-Eo ơi! Ông khóc đấy hở ông?

Tôi bèn đảo mắt nh́n sang th́ thấy ông khách đă tháo kính và đưa bàn tay lên chùi mắt.

-Lạ chưa ḱa!

 Người đàn ông có vẻ mắc cỡ v́ đă cho người khác thấy một cảnh tượng đặt không đúng chỗ.

-Dạo sau này, có khi tôi cũng yếu mềm đi! Khi nh́n những cái dáng đằng lưng như thế!

-Nhưng cớ sao ông lại buồn?

-Chuyện này... cô chưa hiểu được đâu!

Ông cất một tiếng cười khan rồi nhấc mông khỏi chiếc ghế. Khi ông bước lên cầu thang ra về, tôi c̣n nghe tiếng ông cố t́nh làm cho vui tươi khi đùa bỡn với cô nữ tiếp viên tháp tùng.

Tôi bèn cười với anh bồi sau quầy rượu và nói:

-Th́ ra ổng thấy rồi cũng sắp đến phiên ḿnh. Tuổi tác mà!

 

 Dịch ngày 11/12/2024 

 

Văn bn: 

-Endo Shusaku. Ushiro-sugata (Dáng lưng ai), trong Tuyn tp Juuichi no Irogarasu (Mười mt tm kính cn màu) do Nhà xut bn Shincho, Tokyo, n hành năm 1979. Trang 165 đến 182. Nguyên tác Nht ng. In ln đu trên Tp chí Gunzô (Nhng khuôn mt) s tháng 10 năm 1976.

-Endo Shusaku, Ushiro-sugata, Van C. Gessel dch sang tiếng Anh thành “Retreating Figures” trong Tuyn tp Stained Glass Elegies Stories (Khúc bi ca ca nhng tm kính cn màu) do nhà xut bn A New Directions Book, London n hành măm 1990. Trang 136 đến 146. Bn ngoi văn tham chiếu.

 

[13]L công b ca mt din viên Kabuki vic đi danh hiu theo tên thy ḿnh hay nhng tài t tin bi danh tiếng chng t đương s nay đă vng tay ngh hay thăng tiến trong s nghip. 

[14]Chính ra nguyên văn là “Không phi chim giá cô va mi hót đy sao”, cách nói bóng by đ ch s vng khách. Chim giá cô thường hót trong băi tha ma.

[15]Ư nói ch có ngày đi làm mi có nhiu khách (văn pḥng),

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com