|
|
EL SALEM (El Salem, 1973)
Nguyên tác: Endo Shusaku Dịch: Nguyễn Nam Trân
Ảnh minh họa Đến El Salem, tôi đợi anh Toda ở một khách sạn mà giống như nhà kho nằm trên con hẻm đằng sau lưng phố xá. Nếu người bạn từ thời đại học lâu ngày tôi không gặp đă nhận được tấm bưu thiếp gửi từ Roma, thế nào anh cũng biết hôm nay tôi vừa đặt chân lên đất nước này. Tấm thảm phủ trên mặt sàn của căn pḥng trọ trông loang lổ tựa lớp da của một người mắc bệnh ghẻ. Khi mở ṿi pḥng tắm, tôi bỗng nghe một tiếng động kỳ lạ như thể ḿnh vừa sang nhầm số xe và sau đó, một ḍng nước nóng màu rỉ sét đă túa ra.Trong bồn rửa mặt, tôi nhác thấy vài sợi lông hay tóc màu hạt dẻ của người khách nào đó đă đến ở trước đây và lúc mở cái tủ dành chứa quần áo, chỉ thấy bên trong lơ thơ vài cái móc áo đang treo. Lúc đưa mắt chăm chú nh́n chúng, tôi mới bắt đầu cảm thấy ḿnh đang đứng giữa cái trống vắng của buổi xế trưa trên một đất nước xa xôi. Tôi nhờ anh chàng Ả Rập trẻ vừa khuân hộ va-li tôi lên pḥng đem rượu uưt-ki đến th́ anh đă lắc đầu ra dáng bối rối và trả lời: -Sabath! Th́ ra như lời anh giải thích cho tôi, ở nước Israel, kể từ buổi chiều ngày thứ sáu, luật của đạo Do Thái qui định rất nghiêm ngặt v́ đó là ngày nghỉ lễ tôn giáo, các cửa hàng đều phải đóng cửa và cũng không ai được phép uống rượu. V́ không được uống rượu, tôi đành bắc một chiếc ghế bên cạnh cửa sổ và ngồi xuống, đốt điếu thuốc Hi-Lite bèo nhèo mang theo người và nhả vài ngụm khói. Lúc rời nước Nhật, tôi đă mang theo nguyên cả một tút thuốc Hi-Lite mà nay chỉ sót lại chừng hai ba điếu. Phía đối diện khu đất trống lổn nhổn đất đá dưới thành cửa sổ là một con đường. So với phong cảnh những thị trấn nhỏ bên Hy Lạp và bên Ư th́ con đường này cũng không khác mấy, có chăng chỉ là những lớp đá giống như hoa cương phơn phớt hồng đang chất đống đằng trước mấy khu vực xây cất. Đôi khi có bóng khách bộ hành qua lại. Tuy mới là tháng tư nhưng khí hậu ở đây so với Nhật Bản th́ phải gọi là đầu mùa hè. Và có lẽ v́ đó mà đàn ông trên người chỉ mặc mỗi sơ-mi tay dài chứ không choàng ngoài áo vét. C̣n như trang phục của phụ nữ th́ nếu so với Roma hay Paris, trông luộm thà luộm thuộm hơn nhiều. Hơn thế nữa, mấy chiếc buưt đi ngang toàn là loại cũ mèm. Có lẽ v́ họ đang ở giữa thời chiến, nhưng nếu có đánh nhau th́ chiến sự đang xảy ra ở phía nào đây? Hai tiếng đồng hồ trước, nh́n từ ngoài cửa xe khi từ phi trường Tel Aviv đến El Salem, tôi chỉ thấy những cánh đồng ô-liu trong nắng lóa, những thôn làng trắng xóa, nơi có những bác nông phu bắc ghế ra ngồi bên vệ đường nghỉ ngơi. Đối với một người đă sống trên đất Nhật dưới thời chiến như tôi th́ đó là một phong cảnh quá nhàn nhă khó ḷng tưởng tượng nổi. Không biết đường đất thế nào, tôi bèn trải tấm bản đồ nhận được ở quầy khách sạn lên đùi rồi lơ đăng nh́n xuống nó. Trên bản đồ, tôi thấy El Salem được chia ra làm hai phần: khu phố cổ (Old Salem) đă có từ xưa và khu phố mới (New Salem) do người Do Thái di trú mới đến lập ra. Vị trí của khách sạn tôi đang ở được đánh dấu bằng một mũi tên đen to tướng. Không biết có phải v́ pḥng bên cạnh đang xả nước hay sao mà tôi nghe từ vách tường vọng lại tiếng xoen xoét như kim loại đang siết vào nhau. Ánh sáng buổi chiều rọi chói chang lên trên bức vách ố bẩn làm cho tôi, giữa cơn buồn ngủ, chợt ch́m vào trong giấc mộng lúc nào không biết. Bức tường ố bẩn đó hăy c̣n có một vài vệt máu do người ta đập muỗi và các sợi giây giăng ngang mấy khung tường hăy c̣n vương mùi ẩm thấp của quần áo giặt giũ đọng lại. Căn pḥng trọ nh́n xuống sân chơi của một ngôi trường. Từ đó là tiếng quát tháo khản cổ của đám học tṛ đang luyện tập đánh súng gắn lưỡi lê. Nghe những tiếng đó mà, ôi chao, trong giấc mơ của ḿnh, đầu óc tôi loáng thoáng nhớ lại cảnh tượng trường đại học hệ Cơ Đốc Giáo nơi ḿnh đă tốt nghiệp, cũng như những khuôn mặt âu sầu, khổ hạnh cùng một lượt với mùi hôi nách của các ông giáo sĩ và thầy ḍng làm việc ở đó đi kèm. Cuối cùng, khuôn mặt của một nam sinh viên với đôi kính mắt ḷng tṛn giống như kính anh bạn Toda nhưng không phải là anh, đă hiện ra trước mắt tôi. Anh chàng sinh viên có đôi mắt kính tṛn xoe ấy vừa lục lọi từng quyển một mớ sách vở cá nhân tôi lưu trữ, mắt xăm xoi nh́n vào rồi lên tiếng: -Các giáo sĩ ở đại học này, tiếng là người nước ngoài đến từ một quốc gia đồng minh với ta nhưng bên trong, họ làm ǵ, ḿnh đâu có biết! Họ có thể có những hoạt động gián điệp đấy! Thế mà trước câu nói đó, một kẻ nhút nhát như tôi chỉ biết gật đầu. Có tiếng động lanh canh như từ chỗ xa xôi nào vọng tới nhưng không phải do ṿi nước của pḥng bên cạnh mà chỉ là tiếng điện thoại đang reo. Tôi bật dậy khỏi chiếc ghế và áp lỗ tai vào ống nghe. -Toda đây cậu ạ. Tôi đang đứng bên dưới khách sạn này đó! Thời sinh viên, khi chúng tôi c̣n ở cùng kư túc xá trong khu Yotsuya, Toda có bao giờ ăn nói điềm đạm như vậy đâu. Anh ta hối hả và sôi nổi hơn thế nhiều. Hồi đó, Tokyo cũng đang ở trong giai đoạn chiến tranh mà El Salem bây giờ so với nó nào đă thấm vào đâu. Mỗi lần bọn dân công bị bắt đi lao động như chúng tôi mệt rũ trở về chỗ trọ từ những công binh xưởng, tôi và anh cùng chung thân phận là những kẻ chia nhau bát cháo loăng độn chút khoai lang do Quân tiếp vụ cấp phát. Khi đang đặt tai vào ống nghe, tự dưng tôi có cảm tưởng như đang nh́n lại cái quá khứ hai mươi mấy năm về trước qua h́nh ảnh trên một tấm bưu thiếp đến từ một đất nước xa xôi nơi ḿnh có lần du lịch. Toda đang ngồi quay cái lưng c̣ng về phía tôi trên một chiếc ghế bẩn thỉu trước quầy lễ tân trong gian đại sảnh của khách sạn, một nơi đúng ra không xứng đáng được mệnh danh như thế. Tôi không vội đến gần mà chỉ đứng xa xa để có thể ngắm nghía mái đầu mà mảng tóc chỉ c̣n loe hoe nhô lên khỏi cái lưng c̣ng ấy. Tuy nhiên, dù mái tóc đă lưa thưa và khóe mắt xếp nếp nhăn nhưng khi anh quay mặt lại th́ những biểu hiện trên khuôn mặt vẫn là anh của ngày xưa. Một vết sẹo nơi cần cổ do bị phỏng cũng giúp tôi nhớ về anh hồi đó. Số là lúc c̣n nhỏ, bà nội anh đă vô ư làm đổ nước sôi và lưu lại vết phỏng trên ấy. -Đi đường mệt chứ? -Không. Trong tàu bay, tớ ngủ quá trời. Trong một đỗi, hai chúng tôi tiếp tục trao đổi mấy câu chào hỏi như giữa người dưng kẻ lạ và quan sát những thay đổi trên thân thể bạn trong tháng năm dài không được gặp. Đến lúc tôi lấy cặp kính từ trên túi áo vét để đọc tấm danh thiếp anh vừa mới trao, lần đầu tiên trên mặt Toda mới thoáng hiện một nụ cười nhẹ như đă mở cánh cửa ḷng, nụ cười có đôi nét khinh bạc ấy là cố tật xưa nay của anh. -Tụi ḿnh già hết rồi cậu nhỉ? Nhưng rồi sau đó những cứng nhắc đă tan biến đi nhanh chóng, tôi và anh, cũng như ngày nào, bắt đầu kể cho nhau nghe về tin tức các thầy và bạn cùng lớp. -C̣n nhớ thằng A không? Chết ở chiến trường Phi Luật Tân rồi! -Nó nhiều tài lắm nghe. Khi chúng ḿnh ai nấy bụng cũng đói meo mà nó đă biết kiếm không biết đâu ra bao nhiêu là thức ăn. Từ trong kư ức của tôi hiện ra cảnh hành lang đầy bụi của dăy nhà cao hai tầng dùng làm kư túc xá cùng với những căn pḥng vốn là nhà vệ sinh và pḥng tắm giặt nhưng lại bị dán giấy cấm sử dụng. Những mùi khai khẳm đủ loại cũng sống lại một lượt với chúng. Chỗ ở của bọn trai trẻ như chúng tôi th́ không đâu là không thấy đọng lại mùi của thân thể, và đôi lúc, lẫn vào với cái mùi ấy là một thứ mùi hơi người đặc biệt mỗi khi các giáo sĩ ngoại quốc có dịp ghé qua. Lúc đó, các vị này thường xuyên bị cảnh sát canh chừng nên cứ phải mang bộ mặt u ám và đi bằng những bước chân âm thầm trên sân trường hay trong khu nhà ở.... Trong đám những vị giáo sĩ mang bộ mặt u ám ấy có người về sau vào thời hậu chiến, với sự giúp sức của lực lượng chiếm đóng Mỹ, đă xây dựng nên một đài phát thanh thuộc hệ Cơ Đốc Giáo. Lại có người nhân đi Hiroshima vào giai đoạn chiến tranh sắp kết thúc đă vướng vào vụ dội bom nguyên tử mà chết. Khi cùng Toda gợi lại kỷ niệm của các bạn học cũ th́ cùng lúc, h́nh ảnh của từng vị giáo sĩ – là những người đă dạy cho chúng tôi các môn như Đức ngữ hay Triết học khái luận cũng lần lượt hiện về trong trí. -Trong đám bạn bè tụi ḿnh hồi đi học, có ai đến xứ sở này không? -Thằng Uchida có qua đây nhưng chỉ ghé lại thôi. Lần đó, nó có chân trong một phái đoàn đi quan sát các Nông trường tập thể (Kibbutz). Tớ chỉ có dịp gặp và tṛ chuyện khoảng một tiếng đồng hồ. Nghe nói bây giờ nó sống ở Osaka hay đâu đó. Nếu có qua đây th́ cũng chỉ năm th́ mười họa. Cách nói chuyện của hai đứa tôi dần dần đă t́m lại được sự thân mật như ngày xưa. -Nếu không v́ công chuyện, đất nước Israel này chẳng hay ho ǵ để t́m đến chơi đâu. Nơi đây không có ǵ đặc biệt lôi cuốn thiên hạ. Thành thử khi tớ nhận được thư cậu gửi từ Roma, tớ thật chưng hửng. Thế th́ v́ cớ ǵ, cậu lại có ư định ghé Israel? Tôi hơi bối rối trước câu hỏi của Toda. Hồi bắt đầu chuyến lữ hành, tôi không có mảy may ư định ghé thăm xứ sở này. Sau khi cùng các bạn trong đoàn Đài Truyền H́nh đánh một ṿng các đại đô thị như London, Paris và Madrid ...tôi định theo họ lấy tàu bay trở về Tokyo bằng con đường xuyên Bắc Cực. Thế mà khi ở Roma, bất chợt tôi đă từ giă đoàn sau khi nẩy ra ư muốn thăm thú El Salem....Hành động đột ngột như vậy chỉ có thể giải thích một cách khó hiểu bằng tất cả cái quá khứ rắc rối của tôi thôi. -Lâu ngày, tớ không có dịp đọc những ǵ cậu viết. Ở xứ này, ngay cả những tạp chí đến từ Nhật Bản, c̣n khó kiếm nữa là... Tuy lời Toda không có ǵ hàm ư chê bai nhưng ngược lại, câu ấy đă làm cho ḷng tự ái của tôi bị tổn thương. -Cậu không đọc có khi lại hay. Nếu bạn bè cũ đọc những ǵ tớ viết, tớ lại đâm ra mắc cỡ. Vả lại, viết lách chỉ là kế sinh nhai của tớ nên mấy lúc sau này, tớ chỉ viết toàn mấy chuyện nhảm nhí. Tôi vốn ư thức về sự xuống cấp tinh thần của ḿnh hơn bất cứ ai nhưng cũng nhờ viết mấy cuốn tiểu thuyết cho thiên hạ giải khuây mà đă xây được một ngôi nhà ở ngoại ô và tậu xe hơi...Bao nhiêu đó đă đủ chứng minh tinh thần của ḿnh đă sa đọa đến mức độ nào rồi. Đôi lúc nghĩ như thế, tôi đâm ra cáu kỉnh với bản thân. -Cậu sống ở đây được bao lâu rồi ấy nhỉ? -Chín năm. -C̣n chuyện học hành th́ đă đến đâu? -Tớ theo đuổi môn Thánh Kinh Học (Thần Học) và tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrai) nhưng mấy thứ này nếu đem về Nhật đâu có ai xài. Cách nói ấy nghe như lời người hờn mát nhưng bên trong vẫn ẩn tàng một thái độ tự tin, khiến tôi đâm ra chạnh ḷng, tưởng như anh đang dè bĩu mấy cuốn tiểu thuyết viết không ra ǵ của tôi. Hơn hai mươi năm về trước, khi c̣n sống chung với nhau trong kư túc xá nhà trường, Toda là kẻ lúc nào cũng có giọng điệu như muốn bảo ban người khác. Đặc biệt lúc đó, anh là người đă được rửa tội nên trong những cuộc thảo luận với các sinh viên chưa đi đạo, anh bao giờ cũng nói năng với giọng điệu của kẻ đứng trên cao nh́n xuống. -Hồi đó, trước kỳ thi, lúc nào cậu cũng giúp tớ ôn lại ngoại ngữ, cậu nhỉ? -Thật à? -Cậu c̣n được cả học bổng cơ mà! Về những nghiên cứu liên quan đến đất nước này đấy. -Ối! Chuyện đó đă qua lâu rồi. Trong một giây, vẻ mặt Toda tỏ ra cay đắng: -Nhưng nó cũng dính líu đến công việc tớ kiếm ăn hiện nay ở Liên Hợp Quốc. -Bộ cậu không muốn quay về Nhật à? Đột nhiên tôi nhớ ra ḿnh không biết đă nghe được từ ai cách đây khoảng mươi năm là Toda từng kết hôn và thất bại đến nỗi phải xa vợ ĺa con. Trong ánh nắng chiếu vào cửa sổ của gian đại sảnh, tôi thấy anh đang lắc đầu, c̣n mắt th́ hấp háy.
*** Phần tôi, do tính khí của ḿnh, kể cả trước khi trở thành tiểu thuyết gia, tôi đă đi đến chỗ tránh mặt các giáo sĩ từng làm việc ở đại học cũ. Lư do là v́ tôi không thích cho họ biết ḿnh đă hết lui tới với Giáo hội. Đôi khi gặp gỡ bạn bè xưa trên những sân ga lộng gió hay vào những buổi tụ họp nhộn nhịp cuối năm, tôi cũng có nghe họ kể về Toda. Khi được biết anh đă trở thành giáo sư ở một đại học nữ hệ Cơ Đốc ở Nagoya và theo đuổi việc nghiên cứu Kinh Thánh vốn là môn học hoàn toàn xa lại với một kẻ như tôi, th́ tôi chỉ cảm thấy đó là câu chuyện đă thuộc về một quá khứ đầy tiếc nuối. Tôi cũng chẳng đặc biệt mong gặp lại anh. Do đó, nếu trong lúc đến Paris và không nghe câu chuyện về anh từ một người bạn cùng lớp đang làm việc trong một hăng buôn cho biết Toda đang ở Israel và cho xem địa chỉ của anh chép trong cuốn danh bạ cũ của hội đồng môn, có lẽ tôi đă chẳng có ư định t́m gặp anh khi đến El Salem làm ǵ. -Ḿnh đi đâu chơi hè! Tiếc quá, hôm nay lại đúng vào ngày lễ Sabath của đạo Do Thái. Vả lại, trong khu vực này, tiệm nào cũng đóng cửa. Toda lẩm bẩm như đang nói một ḿnh khi chúng tôi vừa ra khỏi khách sạn. Anh đến gần chiếc xe Renault đang nằm trên một con lộ tắm trong ánh nắng. -Israel là một quốc gia kỷ cương đến quá quắt, cậu ạ! Không có chỗ nào đáng để đi chơi như ở Beyrouth đâu. -Nhưng tớ không c̣n thấy thú vị đối với những chỗ đi chơi nữa đâu. Già khú rồi. Khi tôi bảo ḿnh đă già, trong một thoáng, trên mép của anh Toda bỗng thấy nhếch lên một nụ cười. Tôi vẫn c̣n nhớ cái kiểu cười ấy. Hồi c̣n đi học, khi được anh dịch tiếng Đức cho nghe và đáp trả anh bằng những lời lẽ ngờ vực, tôi vẫn thấy anh có một nụ cười ngán ngẩm như vậy. -Israel ở đâu đều giống nhau và El Salem cũng chỉ có hai bộ mặt đáng được xem. Đó là El Salem Cũ và El Salem Mới, tức là khu vực El Salem đă xuất hiện trong Kinh Thánh và Israel hiện đại. -El Salem Mới th́ như thế nào? -Nó là bộ mặt của một Israel đang chiến tranh. Cũng là những Nông trường tập thể (Kibbutz) và công việc khẩn hoang sa mạc, tập đoàn tài chính Rockefeller. Đó là đặc trưng thứ nhất. C̣n thứ hai là... Bất chợt, tôi bật cười ngao ngán, phá ngang: -Tớ coi bộ cậu vẫn không có ǵ thay đổi, so với ngày xưa. -Sao cậu lại nói thế? -Bởi v́ ngày xưa cách ăn nói của cậu vẫn là như vậy. Nếu không là A th́ phải là B. C̣n nếu không là B, ắt nó phải là A. Cậu làm tớ nhớ lại thời ở kư túc xá, khi cậu tranh căi về sự hiện hữu của Thượng Đế. Nếu có một vật nào hoạt động th́ tất nhiên, phải có cái ǵ làm cho nó hoạt động. Bằng không, vật ấy nhất định không thể hoạt động được. Và cậu lại nói rằng khi đi t́m cái đầu tiên đă khiến cho mọi vật hoạt động, ta không thể nào phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế. -Ủa, tớ từng nói những điều lẩm cẩm như thế à? Toda lắc đầu lia lịa và tiếp lời: -Nhưng mà tính cậu cũng lạ lắm đấy nhá. Nếu không, sao bây giờ cậu lại cố t́nh t́m đến cái đất nước này? Cũng như hồi năy, tôi cảm thấy bối rối nên đă giữ im lặng.Thực ra, tôi không đến nổi lạ lẫm như thế đâu. Khác với Toda là người đi đạo trên ghế trường đại học, tôi đă chịu phép rửa tội khi hăy c̣n là một cậu bé con. Theo một tôn giáo v́ nghe lời mẹ chứ không do ư chí của ḿnh là điều khiến cho sau này, tôi như kẻ mang một gánh nặng trong ḷng và đă bao lần muốn dẹp bỏ nó đi. Thế nhưng tôi lại không đủ tự tin để làm điều đó v́ cứ nghĩ rằng khi vứt bỏ nó đi rồi, ḿnh sẽ làm ǵ và sống ra sao. Tôi đă không thể đưa ra một kết luận nhằm giải quyết cái mâu thuẫn nằm tận đáy ḷng ḿnh. Lúc ở Roma, nếu đột nhiên có ư định đi El Salem, có lẽ cũng v́ tôi muốn dịp này, ḿnh sẽ giải quyết một lần cho trót cái mâu thuẫn tiềm ẩn trong tâm hồn. -Chắc tại tuổi tác. Có lẽ v́ đă có tuổi, tớ muốn có dịp hành hương trên quăng đường ngày xưa Chúa Giê-su đă đi. Tôi không biết cách nào giải thích cho anh Toda nghe tâm sự tôi đang mang trong ḷng nên mới trả lời anh bằng một câu mù mờ như thế. -Thay v́ nghe thuyết minh về công cuộc khẩn hoang sa mạc, đi t́m di tích của Chúa Giê-su lúc c̣n sống coi bộ dễ hiểu đối với tớ hơn. -Ủa, đến bây giờ cậu vẫn c̣n để ư về cuộc đời của “ông ấy” hay sao chớ? Chúng tôi đến một khu phố mà những tiệm may quần áo đàn bà và bán đồng hồ đă buông kín cửa sắt. Hôm nay là ngày Sabath của đạo Do-Thái nên đường phố lác đác người. Chỉ có một nơi mở cửa. Đó là rạp chiếu xi-nê mà trước một tấm phông to vẽ tranh quảng cáo với khuôn mặt tài tử John Wayne trong bộ đồ lính kỵ binh, năm sáu thanh niên Do-Thái đang đứng sắp hàng cạnh quầy bán vé. “Bây giờ cậu vẫn c̣n để ư đến cuộc đời của “ông ấy” hay sao?” . Khẩu điệu của Toda khi nói câu ấy, đối với tôi, có một cái ǵ nghe như trêu chọc.Tuy nhiên, có lẽ anh nói như thế chỉ v́ từng nghe lời đồn đại từ ai đó là đă lâu rồi, tôi không c̣n lui tới Nhà thờ. Cùng với thời gian, ḷng tin tôn giáo của tôi cũng đă biến thành một cái chậu hứng nước mưa mục đến thủng đáy. H́nh ảnh của Chúa Giê-su bây giờ không khác ǵ khuôn mặt của anh chàng John Wayne được mô tả một cách tầm phào trên bức họa của tấm phông quảng cáo. -Tớ không biết ḿnh cũng như vậy hay không? Trên môi Toda lại thoáng hiện một nụ cười châm biếm. Tôi chợt nhớ lại mấy trang bản thảo hồi mới tập tành viết văn mà sau này, tôi đă để nằm im trong một hốc ngăn kéo. Đó là cuốn tiểu thuyết mà nhân vật chính là một môn đồ của Chúa Giê-su. Tôi đă định viết về ông ta như một gă đàn ông bản tính gian dối, khôn vặt mà lại lười biếng ...nhưng sẽ đưa con người thật của ḿnh vào trong nhân vật đó. Thế rồi, khi không thành công với mục đích nói trên, tôi có cảm tưởng là ḿnh đă vứt bỏ cả Chúa. -Đây là khu Jaffa đấy, cậu. Cứ xem nó như là vùng Shinjuku của El Salem đi. Hồi “Chiến tranh hai mươi ngày”, nơi đây rất nguy hiểm, không ai dám đi ngang. -Chứ lúc chiến tranh, cậu đang ở đâu? -Ở Trụ Sở Hội Quốc Liên. Bên cạnh đó, bộ đội Jordanie có đặt mấy khẩu liên thanh và bắn tới tấp đến làm tụi tôi phải nằm dán sát mặt sàn và không dám động đậy. Phía trước mặt, hăy c̣n đầy vết đạn pháo kích hồi đó ḱa. -Tớ thấy mấy ṭa nhà ở đây có cái màu rất lạ, Có phải chúng được xây bằng đá hoa cương không nhỉ? -Không. Thứ này là loại đá đặc biệt của Israel đấy. Họ dùng nó để xây từ khu gia cư cho đến các dinh thự, cơ quan. Đằng kia là Ngân hàng nhà nước. Đằng này là Khách sạn King George, khách sạn sang số một của El Salem đấy. Nó nằm ở một góc đối xứng với Đại học Hebreu (Hebrai), nơi tớ từng theo học. Tuy tôi không mấy quan tâm đến những thông tin kiểu đó nhưng mỗi lần giới thiệu như vậy th́ Toda lại giảm tốc độ để chiếc xe Renault cà tàng của anh đi chậm bớt cho tôi có thể nh́n. -Thế th́ chỗ Chúa đăi môn đồ bữa tiệc cuối cùng và khu vườn Gethsemane (Vườn Ép Dầu) th́ nằm ở đâu, hở cậu? Những chốn này đă gắn bó với tôi suốt thời thơ ấu cho đến khi bước qua tuổi thiếu niên. Vào ngày lễ Giáng Sinh, các anh cấp bậc Đại học thường diễn vở kịch có cảnh Chúa sinh ra đời. Đứa vụng về như tôi th́ chỉ được thủ vai con lừa cho Đức Mẹ Maria cưỡi. -Cậu muốn đi xem à? -Hơi hơi muốn một chút. -Tớ sẽ hướng dẫn cậu...nhưng xin báo cậu trước là những chỗ đó đều là “đồ dỏm” cả. Lúc này, Toda vẫn nói với một giọng quả đoán như ngày xưa làm như thể anh đang muốn chặt đứt cái nguyện vọng thầm kín và nhỏ bé của tôi. -Có thật là “đồ dỏm” không? -Có chứ. V́ đây là cái được dùng để câu đám khách hành hương. Về mặt khảo cổ học th́ không có giá trị ǵ. Nó giống như ḥn đá mà Yoshitsune[1] từng ngồi lên trên thôi.
*** Đă quá ba rưỡi chiều mà những tia nắng dữ dội phản chiếu lên trên những cánh cửa sắt của khu phố Jaffa vẫn nóng ran như giữa ban trưa. Khi đèn tín hiệu vừa đổi màu, đám người vừa tụ tập trên con lộ đă theo vạch vôi băng qua đường. Lẫn trong đám họ, tôi thấy có hai anh lính Israel mặc quân phục màu cỏ úa. Tuy vậy, không khí ở khu vực này cũng giống như ở Shinjuku trong thời chiến, không nơi đâu là có không khí chết chóc và cũng chẳng có một chút ǵ gọi là cái mùi cổ kính của thành phố El Salem từng được nói đến trong Kinh Thánh. Thế nhưng sau khi chiếc xe của chúng tôi đi hết khu vực Jaffa được một đỗi, tôi để ư có một cái mùi lạ hoắc đang bốc lên và mỗi lúc càng mạnh. Tôi cũng nhận thấy rơ ràng là phong cảnh đang dần dần thay đổi. Tuy hai bên đường những cửa tiệm kiến trúc kiểu Tây phương vẫn c̣n tiếp nối nhưng bóng dáng những người Ả-Rập với tấm khăn vải tṛn bọc lấy đầu (keffiyeh) đă lọt vào tầm mắt của tôi. Mấy anh đàn ông - giống như h́nh ảnh thường thấy trong xi-nê - mặc áo dài giống như áo ngủ và chân đi dép xăng-đan.Trong đám khách bộ hành, giữa khi số đàn ông ăn mặc kiểu Ả-Rập bắt đầu tăng lên, tôi cũng bắt đầu thấy bóng vài ba người đàn bà với những chiếc áo màu đen che kín cả nửa khuôn mặt. -Đây là nơi bắt đầu khu phố cổ của El Salem đấy! Toda cho giảm tốc độ chiếc xe. Lúc đó, bên phía Đông bỗng hiện ra những bờ tường màu nâu giống như thành quách. Tường thành lại có một cánh cửa trông như lối vào hang động. Từ trong cánh cửa thành như miệng hang ấy, tôi thấy một đàn cừu ùa ra chẳng khác nào ḍng nước dài màu xám. Một anh chàng Ả-Rập ngồi trên lưng lừa đang đuổi theo lưng chúng. Mấy người bên đường phải nhẫn nại đợi cho đến khi đàn cừu đi qua hết. Khác với h́nh ảnh của khu vực Jaffa, h́nh ảnh xô bồ, nhốn nháo và bầu không khí hôi hám đang bốc lên trên khu vực này lại khiến cho một người Nhật như tôi cảm thấy có ǵ thật gần gũi, thân quen. Những con phố đầy nước bẩn ở đây khiến tôi liên tưởng đến Khu chợ đen (Yami-ichi) ở Shinjuku khi chiến tranh vừa chấm dứt với những cửa tiệm sắp hàng bên nhau trông như những cái hộp nhỏ. Tôi không biết một đám người Ả-Rập đang đứng làm ǵ ở bên dưới một tấm biển có viết những hàng chữ Ả Rập nhằng nhịt như đàn kiến đang ḅ. -Họ được phép vào thành à? -Dĩ nhiên là được phép chứ. Chỉ có xe cộ là bị cấm. Duy hôm nay là không được vào. Ngày nghỉ ở khu phố cổ của El Salem chỉ chấm dứt vào ngày mai thôi. Tôi thấy giọng Toda như có vẻ mệt mỏi và ngán ngẩm. -Ngôi thành này có phải đă có từ thời Chúa Giê-su không? Tôi hăy c̣n nhớ mang máng là khi c̣n trẻ, một vị linh mục đă đọc cho nghe một câu ǵ trong Kinh Thánh trước cái lễ gọi là “Tuần Chay”[2] cho biết khi đi gần đến kinh đô, Chúa Giê-su đă không ngừng than khóc cho El Salem. Toda lắc đầu nói: -Cậu vớ vẩn thật! Thành này đă được xây ra sau này, vào thời quân Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng đó. Ví bằng cái thành El Salem thời Chúa Giê-su có để lại dấu tích gạch ngói th́ nó cũng đă bị vùi lấp thật sâu bên dưới ngôi thành hiện tại rồi. Sau khi Chúa qua đời, thành El Salem đă bao lần bị hủy hoại rồi được tái thiết. Nó lần lượt bị quân La Mă, quân Thập Tự và quân Hồi Giáo giày xéo. Trên những con phố của ngôi thành hoang phế ấy, người ta đă tái thiết những đường phố mới. Và do đó, trên di tích các khu vực cũ, họ lại xây đắp lên những khu vực mới, rốt cuộc nó đă biến thành những quả đồi. Rồi Toda lại giảng thêm cho tôi là danh từ Khảo cổ học gọi các di tích g̣ đồi này là Di khâu (Tell)[3]: -Và do đó, những dấu tích của Chúa Giê-su ngày đó, chúng ta hầu như không thể nào t́m được trong ngôi thành bây giờ. Và giống như El Salem, h́nh ảnh của Chúa Giê-su, một thời từng tồn tại trong cơi ḷng tôi cũng đă biến đi đâu mất....
*** Sau khi chở tôi về đến khách sạn, Toda cho biết anh muốn mời tôi đến ghé thăm ngôi nhà trọ nơi anh ở nhưng lại thôi, viện cớ gặp lúc nhà chủ đang cho sơn quét bảo tŕ pḥng ốc. Trong đầu tôi lúc đó thoáng hiện ư nghĩ là anh không muốn cho tôi nh́n thấy cuộc sống hiện tại của ḿnh. Anh có thể đang sống với một người đàn bà nào đó mà cũng có thể là không. Thế nhưng việc ấy nào có ǵ quan trọng. Bao năm tháng trôi qua từ lúc hai đứa quen nhau, h́nh ảnh Chúa Giê-su trong tôi đă mốc meo nhưng thử hỏi h́nh ảnh của ngài trong ḷng anh giờ đây biến hóa ra sao? Tôi thầm nghĩ nếu được phép đến thăm anh ở ngôi nhà trọ anh thuê, với sự nhạy cảm của một tiểu thuyết gia, biết đâu tôi chẳng đánh hơi được một phần nào sự thay đổi đó? -Hay là chúng ḿnh ăn cơm chiều ở khách sạn đi? Toda lắc đầu: -Cơm nước không thành vấn đề nhưng chắc cậu muốn có tí rượu nhấm nháp chứ? Thôi, để tớ trở về đằng nhà trọ kiếm cái ǵ mang tới. Bề ǵ, nhằm ngày Sabath, ở khách sạn, người ta cũng không bán rượu. Tôi trở về pḥng, mở ṿi nước nóng han rỉ để tắm rửa. Khi mới vặn th́ cũng như mọi lần, nó đă rung lên và phát ra tiếng kêu như người bị động kinh. Khi tôi lấy chút nước nóng đă đổi sang màu hung đỏ ấy để rửa ráy tay chân, kỷ niệm những cuộc đối thoại với Toda trong gian pḥng tắm kư túc xá sinh viên của hơn hai mươi năm về trước tưởng chừng đang sống lại. Lúc đó t́nh h́nh cuộc chiến bất chợt xấu hẳn, đám sinh viên chúng tôi mỗi tuần phải chạy đôn chạy đáo đến năm sáu ngày để phục vụ trong những công xưởng chế tạo quân nhu. Cho đến năm ngoái, trong pḥng ăn của cư xá, tuy chỉ là một bát cơm suông nhưng chúng tôi c̣n có cơm để ăn. Năm nay, khẩu phần chỉ c̣n mỗi bát cháo độn. Đáng lư ra mỗi ngày đều được đi tắm nhưng để tiết kiệm củi và than đá, chế độ tắm đă giảm xuống chỉ c̣n hai lần một tuần. Mỗi khi từ công xưởng trở về, nếu chậm trễ một chút, nước trong bồn tắm đă bị bọn người vào trước làm cho vẩn đục bằng mồ hôi và cáu ghét của họ. Lẫn vào bên trong vầng hơi nước đang bốc lên là cái mùi hôi hám đến lợm giọng. -Mấy thứ xà pḥng giả hiệu này, làm ǵ mà ra bọt nhỉ! Một đêm, lúc ngồi trên vè bồn tắm và nh́n tôi đang ngâm người trong bồn, Toda đă gợi chuyện như vậy. Lúc đó buồng tắm chỉ có hai đứa thôi. -Hôm nay, trong xe điện, tớ gặp phải một cảnh khó chịu. -Chuyện ǵ vậy? -Tớ vô t́nh lấy chuỗi hạt mân côi (rosario) từ trong túi áo ra mân mê, bỗng có một người đàn ông phía trước mặc một bộ đồ kiểu trang phục quốc dân (kokuminfuku)[4] tiến tới sát bên, to tiếng cật vấn tớ tại sao giữa thời đại này mà c̣n tin theo mấy thứ tôn giáo ngoại quốc như thế. Tớ bèn phản đối anh ta nhưng khi nh́n chung quanh, tớ mới thấy hành khách trong toa vẫn ngồi im thin thít. Có lẽ họ đều khiếp sợ. Tôi tin chắc một người như Toda thế nào cũng đă lên tiếng phản đối. Nếu là tôi th́ tôi chỉ ngồi im. Việc anh xem như khó chịu đối với một tín hữu cũng là điều không c̣n ǵ xa lạ đối với bản thân tôi. Thế nhưng gặp cảnh như vậy, tôi thường trốn tránh. Tôi không hề tiết lộ chuyện ḿnh đă rửa tội cho ai ở bên ngoài hay biết, c̣n khi làm việc trong công binh xưởng th́ vẫn dấu kín nó như bưng. Tôi quay mặt nh́n anh và đột nhiên đặt câu hỏi: -Có thật cậu từng muốn thành linh mục không? -Đứa nào bảo cậu vậy? -Thằng Honda.. -Láo khoét đấy. Đại học của chúng tôi là một ngôi trường do hội đoàn Cơ đốc Giáo J. kinh doanh nhưng các vị linh mục đều là người Đức nghĩa là công dân một quốc gia đồng minh. Họ không bị bắt buộc phải quay về bản xứ như những người ngoại quốc khác và vẫn c̣n được phép đứng trên bục giảng cùng với các giáo sư Nhật Bản. Cha Nosak, người trông coi cư xá chúng tôi cũng là một linh mục trong đám đó. Trông tướng Cha tiều tụy như một cái đèn sáp đă cháy gần hết bấc với cặp mắt lơm sâu vào trong hố mắt. Từ năm Dự Bị, Toda mỗi ngày đều đến pḥng của cha để hỏi đạo và sau cùng, đi đến chỗ chịu phép rửa tội. Tôi c̣n nhớ h́nh ảnh của Cha Nosak trong những sáng mùa đông, khi trời hăy c̣n tối, đi từ cư xá đến chỗ cử hành lễ Misa. Lúc ông từ cư xá bước ra khi nào cũng có tiếng cánh cửa mỏng manh ngoài cổng nhà kêu lên ken két. Tiếng kêu đó đă đi vào trong cả những giấc chiêm bao của tôi. Chắc là sau đó đến lượt Toda cũng mở cánh cửa và gây ra tiếng động như vậy trên đường anh đi dự lễ Misa. -Một người như cậu th́... Tôi đứng dậy khỏi cái bồn tắm xây bằng đá trong vầng hơi nước nóng bốc lên cùng với mùi cáu ghét, vừa thở dài thườn thượt vừa nói với anh: -Một người như cậu th́ nếu được Cha Nosak khuyến khích vào đạo th́ chắc cũng là chuyện đương nhiên thôi nhỉ? -Sao cậu lại nói vậy? -Bởi v́ cậu là người tự ư muốn vào đạo...Đối với chuyện đó, cậu đă đủ tự tin rồi, phải không? -Chứ cậu không đủ tự tin hay sao? -Khác với cậu, tôi chưa hề chọn lựa một tôn giáo. Hồi nhỏ, tôi chỉ làm như vậy v́ nghe theo lời mẹ tôi thôi. -Thật thế sao? Theo tớ th́ cái đó cũng không thành vấn đề. Toda lắc đầu và nói với tôi bằng cái giọng dạy dỗ như ông giáo: -Như tớ là cậu th́ tớ sẽ có một thái độ rơ ràng. Nếu không thích cái tôn giáo nào đó th́ cứ việc vứt bỏ. C̣n như không vứt được th́ phải tin tưởng là nó đă thuộc về ḿnh. Coi bộ cậu hơi yếu bóng vía đấy nhé! Đúng thế. Giống như những ǵ Toda đă nêu ra, bản chất tôi là một kẻ yếu đuối giống một tấm nệm đă bị ẩm nước. V́ yếu ḷng như thế nên tôi không thể nào có một lựa chọn rơ ràng như Toda và đâm ra thèm muốn có một khả năng phán đoán sắc gọn như anh. Rốt cuộc, Toda đă không trở thành linh mục. Tuy không là tu sĩ nhưng anh đă dám chọn học Thánh Kinh Học (Thần Học) – một môn mà các sinh viên khác không ai chịu chọn – và dùng nó như một cái nghề trong tương lai. Thế nhưng giờ đây, trong khi đang dầm ḿnh trong một thứ nước nóng màu nâu đỏ, cái chợt sống lại trong kư ức của tôi sau một thời gian dài quên lăng là mẩu chuyện trao đổi với anh trong một đêm xưa và đă thành trầm tích tụ dưới đáy của kư ức. Ấn tượng về một anh Toda thời đó, người có lần đă nghĩ đến việc trở thành linh mục, và anh Toda lâu ngày tôi mới gặp lại thật khác nhau xa. Tuy cái vết sẹo v́ bị nước sôi làm bỏng trên cổ hăy c̣n nguyên nhưng tóc tai anh đă thưa thớt đi nhiều. Trong khoảng hai mươi năm trời đó, ḷng tin tôn giáo của tôi đă ngầu đỏ như ḍng nước tắm và có thể nội tâm anh cũng có nhiều thay đổi. Hơn nữa, chúng tôi đều đă quá cái tuổi bốn mươi nghĩa là đă đạt đến lứa tuổi mà mỗi người phải đi t́m cho được ư nghĩa cuộc sống của bản thân. Bữa cơm cô độc trong một khách sạn ở xứ người thật là buồn và không có ǵ ngon. Trong pḥng ăn chỉ có hai ba gia đ́nh người Do-Thái đang ngồi. Anh bồi người Ả-Rập bèn đưa tôi đến một cái bàn trong góc. Thịt cừu dậy lên một cái mùi ng̣n ngọt hăng hăng c̣n xà lách lại trộn quá nhiều dầu ô-liu. Sau khi xong bữa cơm, gia đ́nh ông khách người Do-Thái bèn ra ngồi trước cái máy truyền h́nh đặt ở một góc pḥng ăn và thích thú xem. Quốc gia này chỉ có một đài truyền h́nh duy nhất, thế mà cả mấy người bồi lẫn gia đ́nh Do-Thái kia vẫn tỏ ra là họ đang theo dơi mấy tiết mục h́nh như là ngâm thơ mà không hề biết chán. Khoảng một tiếng đồng hồ sau th́ anh Toda lại đến với chai uưt-ki bọc trong giấy báo. Anh cũng đặt một hũ đồ chua, có lẽ là dưa chuột ngâm giấm lên trên mặt giường. Bên ngoài, trời đă tối mịt. Dưới ánh sáng ngọn đèn trong căn pḥng tù mù, những quả dưa chuột anh đem đến ánh lên một cái màu sống sít trông dị dạng... -Cậu ngâm lấy đấy à? Tôi đứng cạnh bồn rửa mặt, vừa lau mấy cái cốc, vừa đặt câu hỏi cho anh. -À...không? Giọng trả lời của anh như có ǵ vướng víu. Tự nhiên trong đầu tôi hiện ra h́nh ảnh người phụ nữ Do-Thái đă được anh chàng Nhật Bản này dạy cách thức muối dưa. -Ngồi đối ẩm với cậu trong căn pḥng tù mù như thế này ...làm tớ nhớ thời chúng ḿnh c̣n ở chung kư túc xá. Tôi lẩm bẩm như vậy nhưng có lẽ v́ cái mệt mỏi của cuộc hành tŕnh kèm theo men rượu đă làm cho bên dưới riềm mi của tôi chỉ hiện ra h́nh ảnh của những bộ đồ nhu đạo (judogi) ám mồ hôi vàng khè đang phơi cạnh cửa sổ và mùi cà-ri luôn luôn bám lấy cái hành lang cư xá. -Cư xá của tui ḿnh là nơi mật thám hay đến ḍ xét đấy cậu nhỉ? Họ muốn điều tra hành động của Cha Nosak. Khi anh Toda vô t́nh thốt ra câu nói ấy, bỗng nhiên tôi thấy một nỗi đau chạy băng qua lồng ngực của ḿnh. Bởi v́ trong bao nhiêu năm tháng, lâu lâu nỗi đau đó vẫn trở về nên tôi biết rằng đó là một trong những nỗi đau mà tôi không bao giờ muốn nó quay trở lại. Tự nhiên tôi đổi hướng câu chuyện: -Cậu có nhớ là trong cư xá có một tu sĩ trợ tá không? H́nh như tên ông ta là Kobalski, một người tính khí bạc nhược. -“Chuột Nhắt” à? -Phải rồi. Đúng là “Chuột Nhắt”. Cậu c̣n nhớ chuyện ông ta đă bị sĩ quan tùy viên quân sự ở nhà trường đánh đập đấy chứ? Kư ức tôi như một cuộn chỉ rối được tháo gỡ ra. Lần theo nó, tôi chợt nhớ lại là, phải rồi, trong cư xá thời ấy, vốn có một tu sĩ với hỗn danh “Chuột Nhắt”. Đúng như h́nh ảnh được gợi ra từ danh hiệu đó, đó là ông tu sĩ người Ba-Lan ốm yếu có một bộ mặt giống mặt chuột và đôi mắt sưng vù của người vừa mới khóc xong. -Lăo ta ra sao rồi nhỉ? Tớ nghe nói đă hết làm tu sĩ và quay về nước th́ phải. -Tớ không biết chuyện đó. Chẳng biết có phải v́ đă bắt đầu say hay sao mà vết sẹo phỏng nước sôi trên cổ anh Toda giờ càng hiện rơ hơn. Khác với lúc cách đây ba tiếng đồng hồ, anh đă đặt đôi bàn chân bên trong đôi tất bạc màu lên trên giường tôi không chút khách sáo. -Lăo ấy chết sau khi về nước rồi cậu ạ...Trong tại tập trung Gerzen... -Chết trong tại tập trung? -Măi sau này, tớ mới được Cha Fuller cho biết đấy. -Một người nhút nhát và ươn yếu như vậy làm sao chịu nỗi cuộc sống trong trại tập trung nhỉ? -V́ vậy ông ta mới chết đó chứ! Đôi mắt tối sầm của Toda như đang nh́n về phía một không gian xa xôi. -Bạn cũ cùng cư xá của tụi ḿnh cũng có bốn, năm đứa hoặc tử trận hoặc mắc phải bệnh lao sau khi chiến tranh kết thúc. -Cha Fuller có phải là người xuất thân ở Kolhn, mặt đo đỏ, đă đưa chúng minh đi ủy lạo ở trại phung hủi trên Gotemba[5] không? Trong cái đầu đă đờ đẫn v́ hơi men, những kỷ niệm quên lăng một lần nữa đang t́m cách quay về. Ôi, bữa hôm đó sao mà kỳ lạ. Ở cư xá của chúng tôi, mỗi năm cứ vào tháng sáu, người ta vẫn tổ chức cho đám sinh viên Công Giáo chuyến đi ủy lạo cho bệnh nhân một trại phung hủi trực thuộc Nhà Chung ở vùng Gotemba. Riêng tôi đă đón chờ ngày đó với tất cả sự âu lo. -Tớ nhớ hôm đó cậu hăng hái lắm cơ mà? Có lẽ v́ c̣n oán hận và đang muốn mỉa mai Toda nên tôi đă buông ra một câu châm chọc. Đúng vậy, khác với tôi, trong dịp đi ủy lạo này, anh Toda, người tự ư xin được rửa tội, đă tỏ ra hết sức tích cực. Bản tính tôi th́ đối với việc ủy lạo hay làm từ thiện, tôi không hề xem là công việc có thể đem đến cho ḿnh một sự thích thú. Vả lại tôi không hề nghĩ ḿnh có nghĩa vụ phải lên Gotemba ủy lạo. Từ hồi trung học, khi xem mấy tờ tạp chí tạp nham, tôi đă biết biết về đôi ba triệu chứng của bệnh phung hủi, nên c̣n nhớ lúc đó ḿnh đă có một tâm trạng hết sức sợ hăi đối với cái bệnh này. Tuy vậy, mặt khác, v́ không muốn nghe những người như Toda xem ḿnh là một con chiên đă đánh mất ḷng tin, rốt cuộc, tôi đă nhận lời tham gia chuyến đi ủy lạo. Hôm đó là một ngày Chủ Nhật lấm tấm mưa sương. Mười bốn, mười lăm sinh viên đi đạo đă theo chân Cha Fuller lấy tàu hỏa đi Gotemba. Tôi hăy c̣n nhớ h́nh ảnh đau khổ của ḿnh khi cứ măi nh́n ra cửa sổ toa tàu ngắm những ngôi nhà của nông dân với mấy cánh đồng đen đúa và ẩm ướt để tránh những cuộc đối thoại đượm màu giả dối giữa một sinh viên nhát gan là ḿnh với đám sinh viên đầy quyết tâm kia, cũng như để trấn áp nỗi sợ hăi cái bệnh phung hủi đang nổi dậy trong ḷng. Ở cánh cửa soát vé của nhà ga Gotemba ch́m trong bóng tối màn mưa, một người đàn ông trung niên để râu cứt mũi đă ra đón chúng tôi với một nụ cười toe toét trên môi. Người đó tự xưng là viên quản lư hành chánh của bệnh viện, đă lập đi lập lại cho chúng tôi hay là các cậu sẽ thấy hiện nay đám bệnh nhân của chúng tôi đang có một cuộc sống thoải mái biết chừng nào, rồi sau đó, ông ta đă chất chúng tôi lên một chiếc ô tô buưt cũ kỹ chạy bằng than củi. -Cậu có nhớ là họ đă mời ḿnh khoai lang. Thay cho bữa ăn trưa, các bệnh nhân mời ḿnh ăn khoai lang do họ nấu lấy ấy mà. -Thật thế sao cậu! Toda nói thế v́ h́nh như anh đă quên khuấy mọi sự việc xảy ra hồi đó. Thản hoặc anh đang làm bộ quên đi cũng không chừng. Bệnh viện nằm trong một khu rừng thưa cách thị trấn Gotemba khoảng tám cây số (2 ri, 4km x 2). Dưới màn mưa, những pḥng bệnh trông buồn bă như một khu doanh trại quân đội. Trong pḥng hành chánh của bệnh viện, vài bà phước người Nhật đảm nhận công việc khán hộ đă xuất hiện với mấy cái mâm chất đầy khoai lang luộc. -Mấy mâm khoai này là do các con bệnh trích từ khẩu phần của họ đem ra chiêu đăi các cậu đấy. Ông quản lư với nụ cười tươi tắn nói với bọn sinh viên đầu óc vốn đang căng thẳng: -Bệnh nhân th́ từ nửa tiếng đồng hồ trước đă tụ tập và đợi các cậu ở trong hội trường rồi. Trước khi vào đó, có cậu nào thấy cần vào ngâm trong bồn tắm để sát trùng không ạ? Lúc tôi và hai ba anh bạn khác dợm đứng dậy th́ Toda đă lắc đầu: -Cần ǵ phải sát trùng hở! Mắc mớ ǵ chúng ta phải làm như thế. Anh ta bảo rằng nếu ḿnh làm như thế là sỉ nhục các con bệnh. Chúng tôi chỉ c̣n biết nín thinh. Cảm tưởng khi bước vào cái hội trường mà đám bệnh nhân đă đợi ở đó từ nửa giờ trước, giờ đây, hai mươi năm sau, lại t́m đến với tôi nơi cái pḥng khách sạn rẻ tiền giữa thành phố El Salem này. Ấn tượng đầu tiên của tôi là trong cái hội trường tối nhờ nhờ ấy, tất cả mọi người đều lộ nét già nua. Đầu tóc các con bệnh ngắn củn, mặt họ khằn ra, chỉ có đôi mắt là c̣n sáng và đang nhướng lên nh́n mọi cử chỉ của chúng tôi. Nhưng chỉ một lúc sau, khi đă quen với không khí đó, tôi để ư thấy trong đám bệnh nhân tóc ngắn kia c̣n có vài nữ bệnh nhân trẻ tuổi, đầu trọc lóc, mặc áo tơ Meisen hay quần Mompe[6], chen lẫn vào. Những phụ nữ ấy ngồi nghiêm chỉnh, hai bàn tay đặt lên trên đùi. Có những con bệnh trầm trọng, đầu quấn vải trắng, cũng đă được cáng đến bằng băng-ca. -Cậu có nhớ là cậu đă ngâm thơ cho các con bệnh đó nghe không? Tôi nhắc như thế v́ vừa nhớ lại khuôn mặt đầy tự tin của Toda cũng như những t́nh cảm ḿnh đă nhận được từ phía anh lúc đó, thế nhưng anh chỉ cười như muốn che dấu một sự xấu hổ: -Ừ nhỉ, chắc hồi đó, tớ có làm như thế thật. Chúng tôi đă hát bài ca hiệu đoàn cũng như những khúc dân ca – mà tất cả đă dành một tuần lễ để tập luyện - trước mặt đám bệnh nhân. Lúc hợp xướng, giữa khi mọi người cất cao giọng hát, chỉ có một ḿnh tôi đứng mấp máy môi. Tôi như sợ hăi phải cất tiếng ḥa ca cùng với họ, lại vừa chiến đấu với nỗi sợ hăi đó cũng như t́nh cảm tự khinh bỉ. Vào thời điểm này, tôi bị một vết thương nhỏ ở chân và đang lo lắng không biết vết thương ấy có thể bị nhiễm trùng không? Dù vậy, tôi cũng tự cảm thấy ḿnh là một đứa khó ưa. Lúc bản hợp xướng chấm dứt cũng là lúc tôi vừa cảm thấy người nhẹ nhơm th́ đột nhiên Toda rời khỏi hàng để tiến ra đằng trước và kêu lên: -Thưa quư vị! Xin quí vị cho phép tôi được đọc mấy đoạn thơ nhé? Đó là những bài thơ được đánh giá cao vào thời đó. Không biết là các bệnh nhân có hiểu hết ư nghĩa hay không. Thế nhưng, trừ vài tiếng ho húng hắng ở một góc hội trường, h́nh như tất cả cử tọa đều tỏ ra chăm chú. Ngay cả các cô gái trọc tóc cũng cúi đầu nghe và thân thể không động đậy mảy may. V́ không thích nghe tiếng đọc thơ lanh lảnh nghe như đang rún rẩy của anh nên mắt tôi đă đổi hướng để ngắm cái màu trắng ở phía cửa sổ nơi cơn mưa vừa mới tạnh. “Hăy để thằng cả (Tarô) ngủ yên. Tuyết đang rơi và đọng trên mái nhà của Tarô. Hăy để thằng hai (Jirô) ngủ yên. Tuyết đang rơi và đọng trên mái nhà của Jirô.” -Có phải thơ Miyoshi Tatsuji[7] không đấy cậu? -Ờ ờ! Lượng rượu trong chai c̣n lại chưa tới một phần ba. Tôi mở cửa sổ để căn buồng ngập khói thuốc lá được thoáng khí. Dù hồi trưa trời nóng đến thế mà lạ thay, trán tôi đă cảm thấy một luồng hơi lạnh đang lùa vào cùng với bóng đêm. Dưới ánh sáng của ngọn đèn đường, hai dân quân người Israel vai đeo súng đang đứng sừng sững. Trông họ giống hai pho tượng gắn trên mũi thuyền. -Đúng là một nước đang ở giữa thời chiến. -Chớ sao! -Thế cậu có c̣n nhớ sau đó, chúng ḿnh đă làm ǵ tiếp không nào? Tuy nghe trong giọng nói của tôi có pha một chút hờn dỗi nhưng Toda chỉ nhếch mép trả lời bằng nụ cười châm chọc cố hữu. -Sao mà cậu nhớ dai thế! Bao nhiêu chuyện cũ tớ đă dần dần quên hết. -Hôm ấy chúng ḿnh lại chơi bóng chày (baseball) mà. Với đội bóng của bệnh nhân đó! Sở dĩ tôi hăy c̣n nhớ những ǵ Toda đă quên, có lẽ v́ ngày hôm đó là một ngày tôi cảm thấy được dịp tự phanh phui để nh́n thấy con người thật của ḿnh.Tuy chỉ vỏn vẹn một ngày Chủ Nhật nhưng Chủ Nhật đó đă gieo vào ḷng tôi một mầm mống nhỏ khiến cho về sau, tôi không c̣n lui tới với Giáo hội nữa. Tôi nói như hăy c̣n tỏ ra oán trách anh: -Khi nghe nói các bệnh nhân cũng có đội bóng chày th́ người đ̣i tổ chức một trận đấu giao hữu với họ là cậu chớ ai! -Tớ quên rồi. Tuy Toda lắc đầu và trả lời là anh đă quên nhưng tôi vẫn nhớ chính Toda là kẻ đưa ra sáng kiến đó. Nó đă khiến cho Cha Fuller lẫn các bà phước đều hoan hỉ. Có lẽ tôi là người cuối cùng trong nhóm đă bước ra sân vận động của bệnh viện. Sau cơn mưa, cái sân ấy đang nồng lên một mùi đất ẩm. Được biết các các bao tay bắt banh để chơi (gloves) họ trao cho chúng tôi dùng là bao tay dành cho viên chức chứ không phải của con bệnh nhưng khi thọc mấy ngón vào trong, tôi không khỏi cảm thấy là có ǵ bân bẩn, nhơm nhớp. Có ai đó vỗ vào vai tôi và lên tiếng: -Ê, này cậu! Chơi vai pḥng thủ trên sân (yashu, fielder) hộ tôi nha! Có tiếng ḥ reo cổ vơ nổi lên từ phía bệnh xá. Từ những khung cửa sổ, tôi thấy bóng các con bệnh vừa nam vừa nữ đang phất tay và vẫy khăn bởi v́ lúc ấy, những tuyển thủ mới mắc bệnh nhẹ của họ trong đồng phục lấm đầy bùn đất vừa từ phía bệnh xá chạy vào trong sân. Từ đằng xa mà nh́n th́ những tuyển thủ chỉ có triệu chứng bệnh nhẹ này trông không khác ǵ mấy tuyển thủ b́nh thường. Thế nhưng: -Xin chào các bạn! Khi họ cởi mũ ra để chào đội của đối phương một cách trang trọng th́ tôi nhận ra là trên đỉnh đầu của một người trong nhóm có một khoảnh tóc thưa cỡ một đồng tiền lớn lộ ra. Một người khác th́ trên môi lại như có một vết bỏng làm cho h́nh thù trở nên méo mó. Đứng pḥng thủ ở ṿng sân bên ngoài (gaiya, outfield), tôi tưởng tượng ra khung cảnh vừa thấy trong hội trường với những cái đầu quấn vải trắng của các con bệnh nặng đang ngửa lên để nghe một cách chăm chú mấy đoạn thơ anh Toda đang đọc, thấy cả h́nh ảnh những cô con gái hai tay đặt lên đùi và đầu cúi xuống. H́nh ảnh của tôi nữa, một thằng tôi khiếp hăi khi đối diện với đám đông.” Cái thằng khó ưa! Cái thằng khó ưa!”. Vừa bước trên mặt cỏ ướt của ṿng pḥng thủ bên ngoài, mồm tôi đă lẩm bẩm không biết bao lần điệp khúc đó. Thế rồi trận đấu bóng đă triển khai và đến lượt tôi thủ vai người quật bóng (batter). Khi vung cây chày (bat) lên, tôi chạm được một lực đối kháng thật mạnh và quả banh tṛn v́ dính bùn đă đổi thành màu xám lập tức bay ra xa. Có tiếng ai đó la lên “Chạy đi!” khiến tôi hộc tốc lao về lũy thứ nhất (first base) và sau đó, khi dợm chạy về phía lũy thứ hai (second base) th́ đối thủ giữ lũy thứ hai trong đội banh của bệnh nhân đă bắt được một đường banh do đồng đội hắn ném từ lũy thứ ba (third base) đến nên đă chạy đuổi theo tôi. Bị kẹt giữa hai lũy một và lũy hai, khi tưởng tượng bàn tay của đối thủ phung hủi giữ lũy hai kia sẽ chạm vào thân thể ḿnh, đôi chân tôi bỗng mềm nhũn ra. Lúc cái trán hói và đôi môi vều của đối thủ giữ lũy hai đến sát bên cạnh, hai chân tôi không c̣n di động nổi và tôi đă ngước mắt lên nh́n anh ta. -Chạy đi. Tôi sẽ không chạm vào người cậu đâu! Đă hai mươi năm trôi qua mà tôi vẫn nghe cái giọng nói điềm tĩnh ấy vọng lại từ một góc sâu trong đầu ḿnh. Giữa căn pḥng khách sạn yên ắng này, anh Toda vẫn duỗi đôi chân lên chiếc giường của tôi, tay cầm cái cốc và nhắm đôi mắt lại. “Chạy đi. Tôi sẽ không chạm vào người cậu đâu!” -Khi chạm vào tay kẻ bị phung hủi, Chúa Giê-su đă chữa lành được nhiêu người đấy, cậu nhỉ? H́nh như Toda đang nghĩ ngợi về một chuyện ǵ khác nên đôi mắt anh vẫn nhắm nghiền. -Bao nhiêu người phung hủi đă nhờ bàn tay Chúa Ki-Tô đụng vào mà được lành bệnh, có phải không cậu? -Sao lại hỏi tôi chuyện đó? -Thôi, đừng thắc mắc v́ nó nữa. Chắc cậu say rồi. Chứ, dạo này cậu có c̣n chăm đi xem lễ không? Trước câu hỏi của tôi, Toda chỉ mở hé đôi mắt, lừ đừ nh́n vào một khoảng mông lung như t́m kiếm cái ǵ, rồi mới trả lời: -Hết đi rồi. -Bộ bỏ đạo hả? Anh bèn đặt đôi chân xuống khỏi chiếc giường, huơ huơ chúng như muốn t́m đôi giày ḿnh mới đá văng đi đâu hồi năy và hỏỉ ngược tôi: -C̣n cậu th́ sao, v́ cớ ǵ cậu lại t́m đến đất nước này? -Tớ cũng giống cậu thôi, đâu c̣n ở lứa tuổi hai mươi hay ba mươi ǵ nữa! Muốn làm lại cuộc đời th́ đă quá già. Vả lại chúng ḿnh đều biết con người ta đâu có thể sống hết ḿnh cho tất cả mọi thứ cùng một lúc. Cho nên tớ chỉ xin đi lại một lần nữa theo bước chân của “người đàn ông đó” (ano otoko), một người mà ḿnh không c̣n t́m ra tung tích nữa, để có thể đánh một dấu qua hàng. V́ trong ḷng cảm thấy hổ thẹn khi xướng danh Chúa Giê-su, tôi đă gọi ngài là “người đàn ông đó”. Tôi lại thoáng thấy nụ cười châm chọc cố hữu lộ trên khuôn mặt của Toda khi anh tiếp lời: -Nhưng Giê-su nào? Giê-su của giáo hội hay Giê-su của cậu đây? -Chắc phải là Giê-su của tớ thôi!. Kết cuộc, tôi nghĩ dù Giê-su của ai đi nữa, mọi sự đâu vẫn hoàn đó. Vài hôm sau, khi phải lấy máy bay ở phi trường Tel Aviv để trở về Nhật Bản, có lẽ tôi vẫn là tôi của trước đây. Hai mươi năm xưa, nỗi sợ hăi ở bệnh viện phung hủi ở Gotemba từng khiến cho đôi chân của một thanh niên ở tuổi hai mươi là tôi đứng như trời trồng giữa hai lũy sân bóng chày vẫn không hề biến dạng trong con người tôi của hôm nay. -Để tôi tiễn cậu xuống dưới nhà nhá! Cả hành lang lẫn cầu thang chỉ có chút ánh sáng lờ mờ. Không thấy bóng dáng một người khách nào. Gia đ́nh Do-Thái hồi năy ngồi xem truyền h́nh ở pḥng ăn, giờ đây chắc đă đi ngủ cả. Ở quầy tiếp tân chỉ c̣n một anh nhân viên đang ngồi tựa lưng vào bức tường có tấm biển treo lủng lẳng những xâu ch́a khóa pḥng, ngón tay gơ lên mặt máy đánh chữ. Có lẽ tiếng máy đánh chữ lách cách liên tục vang lên trong gian đại sảnh thanh vắng là dấu hiệu của sự sống duy nhất c̣n tồn tại nơi đây. Khi chúng tôi bước ra khỏi khách sạn, hai binh sĩ đứng gác ở ngả tư đường hăy c̣n nguyên đó, y như lúc tôi nh́n xuống từ tầng lầu, và đốm lửa thuốc lá của họ vẫn lập ḷe giữa màn đêm.
Dịch xong ngày 12/12/2023 Văn bản:
Endo Shusaku, El Salem, trong tuyển tập Shikai no hotori (Bên
bờ Biển Chết, 1973), tủ sách bỏ túi Shinchô Bunko, Nxb
Shinchô, tái bản lần thứ 30, Tokyo, 2021, từ trang 7 đến 27.
Nguyên tác Nhật ngữ. [1] Minamoto no Yoshitsune (1159-1189), danh tướng Nhật Bản mà cuộc đời là những trang huyền thoại. [2] Một ngày lễ trước Lễ Phục-Sinh (Fukkatsusai, Easter), lúc tín đồ phải chạy tịnh và tiết dục để tưởng nhớ việc Chúa Giê-su từng tuyệt thực 40 ngày trong sa mạc. Tiếng Nhật gọi là Shijunsetsu (Tứ Tuần Tiết), tiếng Anh gọi là Lent. [3] Tell là chữ gốc tiếng Ả-Rập để gọi các g̣ đồi do sự chồng chất của các kiến trúc mới phủ lên trên kiến trúc cũ và đất cát khô cứng lại mà làm thành. [4] Quần áo và mũ măng thường dân mặc trong thời chiến nhưng được may theo qui cách quân đội. [5] Địa điểm nằm ở một vùng cao gần núi Fuji. [6] Quần áo lao động. Có lẽ họ là nhân viên phục vụ. [7] Miyoshi Tatsuji (1900-1964), nhà thơ và nhà tùy bút.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |