|
|
ĐỊA NGỤC UNZEN (Unzenm 1965)
Nguyên tác: Endo Shusaku Dịch: Nguyễn Nam Trân
Phim Silence (2016) của Martin Scorsese từ tác phẩm Endo Shusaku
Ngồi trong chiếc xe buưt đi Unzen, Nose vừa nhấp sữa tươi[1] vừa đưa mắt nh́n mông lung về phía mặt biển đang ch́m dưới màn mưa dày. Biển nằm ngay bên dưới con đường lớn chạy men theo nó. Trên đó, những đợt sóng buốt giá làm như mệt mỏi v́ cứ phải tấp măi vào bờ. Xe vẫn chưa chuyển bánh dù đă quá giờ dự định khởi hành. Cũng v́ chuyến xe chạy nối từ Nagasaki vẫn chưa đến, bác tài vẫn chưa cho máy nổ và đành kháo chuyện với cô hướng dẫn viên. Dù vậy, đám khách giỏi chịu đựng đang ngồi đó vẫn áp mặt vào kính cửa sổ mà không lộ vẻ bất măn. Bên ngoài, vài bóng người khách đi chữa bệnh bằng nước khoáng mặc chiếc áo khoác dày kiểu Tanzen (Đơn Tiền) của vùng Keihan (Kyoto Osaka) c̣n đầu che dù mượn tạm của lữ quán, đang họp thành nhóm bước đi trong mưa sương. Trước hiên các tiệm bán sản vật địa phương, anh thấy có bày mấy món đồ thủ công làm bằng vỏ ṣ ốc và các phong mứt đậu (yôkan) nhưng chẳng có người mua. Nose đóng lại nắp b́nh sữa tươi và chậc lưỡi nghĩ thầm: “Cảnh tượng ở đây sao mà chán thế nhỉ ? Nào có khác những ǵ ḿnh từng thấy ở Atagawa trên bán đảo Izu đâu!”. Nose nực cười cho ḿnh, tự hỏi v́ cớ ǵ anh lại cất công đi xuống tận vùng Tây Nam của đảo Kyushu này để viếng cái thị trấn mà bất cứ nơi đâu khác, anh cũng có thể nh́n thấy một phong cảnh tương tự. Thành thực mà nói, khi ở Tokyo, anh không hề tưởng tượng nỗi thị trấn Obama, nơi từng xảy ra cuộc nổi loạn Shimabara[2] với sự tham gia của phong trào nông dân và đưa đến việc vô số con chiên tử đạo, lại êm ả và tầm thường đến vậy! Trong khi điều tra về lịch sử của người Kirishitan (Christian), Nose biết rằng trong khoảng niên hiệu Kan’ei (Khoan Vĩnh, 1624-1645), đă có nhiều tín đồ bị nha lại bắt leo từ thị trấn Obama này lên đến đỉnh Unzen (Vân Tiên). Các giáo sĩ ḍng Jesuits từng mô tả về Unzen như “một trong những ngọn núi cao nhất Nhật Bản” và thung lũng Unzen jigokudani (Vân Tiên địa ngục cốc) là địa điểm lư tưởng dành cho việc bức hại những người Kirishitan. Kể từ năm Kan’ei thứ 6 (1629), quan bố chánh (bugyô) của tỉnh Nagasaki là Takenaka Shigetsugu đă nẩy ra ư kiến là chọn vùng suối nước nóng Unzen Jigoku làm nơi tra khảo đám tín đồ địa phương. Anh c̣n nghe kể rằng mỗi ngày đều có đến 60 hay 70 tín đồ bị cột thành xâu và bắt phải dắt díu nhau leo từ Obama lên đỉnh núi. Hôm nay, đám du khách vừa bước đi vừa nghe những bản nhạc cải cách (enka) vọng ra từ mấy cái loa phát thanh đặt trong ḷng phố sẽ không thể nào nh́n thấy chứng tích của ḍng lịch sử tanh mùi máu ấy, dù từ bất cứ chỗ nào. Thế nhưng, Nose v́ muốn t́m hiểu về một “gă đàn ông” mà anh thực sự biết là từng có mặt trong đám con chiên bị bức hại, nên đă định bụng từ đây sẽ lần theo dấu tích của những kẻ cách đây ba thế kỷ, vào một ngày tháng giêng ướt mưa sương như hôm nay, đă từ thị trấn Obama này tiến về hướng núi để leo lên. Cuối cùng, chiếc buưt rồi cũng đă rồ máy và chạy băng qua thị trấn. Đôi khi từ gác hai hay gác ba của những ngôi lữ quán kiểu Nhật nằm nối tiếp bên nhau dọc theo con đường, Nose thấy có những khuôn mặt đàn ông đang cúi nh́n về hướng chiếc xe buưt của anh và đưa cả hai cánh tay lên vẫy chào. Ngay cạnh những cánh cửa sổ không một bóng người, anh cũng thấy nhiều tấm khăn tắm, nhỏ có lớn có, với hai màu trắng và hồng đang được ai đó vắt lên. Tuy vậy, sau khi qua hết khu vực nhà trọ và tiến về phía con đường núi th́ hai bên chỉ c̣n là những bờ tường đá hay mái nhà tranh xiêu vẹo, khu nhà ở của nông dân. Nose không biết những bờ tường đá và mái tranh như vậy đă có vào thời ấy hay chưa? Anh cũng không thể đoán được đây có phải là con đường mà “gă đàn ông ấy” lẫn đám tín đồ và bọn nha lại đă leo lên không nữa? Nhưng có một điều anh chắc chắn là tất cả bọn họ nhiều khi đă khựng người lại, ngước mắt nh́n lên bầu trời trên đỉnh Unzen, lúc đó đang có những đám mây xám xịt trùm lên. Mớ sách vở Nose mang từ Tokyo khi xuống đây không có cái tư liệu vốn là bản phúc tŕnh của Ban Biên Tập Văn Thư Thông Tín của Hội Jesuits gửi cho Ṭa Thánh Roma về những người tử đạo trên ngọn Unzen này nên giờ đây anh càng thêm tiếc. C̣n như trong chiếc cặp mang theo người, anh lại vô ư thuồn vào đó quyển “Sám Hối Lục của người Cơ Đốc” (Kirishitan Sengeroku, Christan Confessions) do Collado chấp bút, là một tư liệu ngụy tạo vốn không cần thiết cho chuyến đi này. Lên càng cao, không khí càng lạnh. Trong xe buưt, những người du khách vừa bóc vỏ mấy quả quưt họ mua được dưới phố Obama vừa nghe với vẻ lơ đăng những lời giải thích cô hướng dẫn đang tŕnh bày bằng một cái giọng thánh thót như người đang hát. -Xin quí khách xem giúp em ḱa! Cô mời mọc đám khách với nụ cười không mấy tự nhiên cô vừa cố gắng tạo ra. -Quí khách sẽ thấy ngay sau khúc quanh này, có một g̣ đất với hai cây tùng. Chỗ hai cây tùng là nơi mà những người Kirishitan lúc nào bước đến đây cũng dừng lại, rồi đứng ngoái nh́n một lần cuối về hướng ngôi làng Obama, bày tỏ ḷng tiếc nuối! Em xin nói thêm là v́ lẽ đó nên về sau, người ta mới gọi hai cây tùng ấy là “Cây tùng ngoái đầu” (Mikaeri no matsu). Quyển “Sám Hối Lục của người Cơ Đốc” đă được in ở Roma vào năm 1632 thế nhưng 1632 lại là thời điểm trước cuộc nổi dậy Shimabara[3] những 5 năm. Do đó mà bảo rằng khi ấy Mạc Phủ đă tỏ ra khắc nghiệt với người Kirishitan ngay từ lúc ấy là chưa đúng hẳn v́ các giáo sĩ Tây Ban Nha hay Ư, dù trải qua nhiều gian khổ, vẫn có thể mượn đường Manila hay Macao để đặt chân lên đất Nhật. Quyển “Sám Hối Lục của người Cơ Đốc” chính ra là sách giáo khoa dạy tiếng Nhật cho các giáo sĩ và được soạn ra với phần ứng dụng gồm những thí dụ răn bảo các con chiên rằng trong mọi t́nh huống, họ đều không được phép thổ lộ cho ai những bí mật cất dấu trong ḷng. Không hiểu v́ sao một cuốn sách có nội dung như vậy lại được giáo sĩ Collado[4] đem in với tiêu đề là lời thú tội của các giáo dân Nhật Bản. Đó là điều Nose nghĩ măi không ra.Tuy vậy, cái đêm anh đọc nó, Suguro lại cảm thấy những lời trần thuật chép bên trong đă làm ḿnh xúc động v́ nó chạm vào tâm t́nh của anh hơn bất cứ quyển sử nào có đề cập đến người Cơ Đốc thời Edo. Trong những quyển sử nói về Kirishitan mà Nose từng đọc, anh thấy toàn là lời tán dương những hành vi cháy bỏng ḷng tin tôn giáo của các vị giáo phụ, tín hữu cũng như đám giáo dân tử đạo. Đó là cuốn sử dành cho những người luôn luôn giữ được niềm tin của ḿnh dù đă phải trải qua không biết bao nhiêu tân khổ hay chịu cảnh tra khảo. Mười lần như một, Nose đều cất tiếng thở dài và ngẫm nghĩ: “Chúa ôi ! Thật t́nh con không thể nào bắt chước được những hành vi dũng cảm như vậy !”. Nose vốn là một người ngày c̣n bé đă chịu phép rửa tội một lượt cùng với cả gia đ́nh. Thế nhưng, dù trải qua không biết bao nhiêu uẩn khúc quanh co, hôm nay đến độ tuổi 40, anh vẫn sống mà không hề có ư định từ bỏ đạo. Không bỏ đạo chẳng phải v́ anh có ư chí mạnh mẽ và ḷng tin tôn giáo vững chăi. Ngược lại, anh thừa biết ḿnh là kẻ bê bối, hèn hạ và c̣n nhát nhúa nữa. Giữa anh và đám tín đồ ngày xưa bị bức hại ở Edo, Nagasaki cũng như ở Unzen - những kẻ tử đạo một cách oanh liệt đó - là cả một khoảng cách xa vời vợi mà anh không thể nào thu ngắn. Nhưng ôi chao, cớ sao tất cả những con người đó lại có thể kiên cường đến thế nhỉ? V́ nghĩ như vậy mà Nose đă ráng kiếm xem trong số những người Cơ Đốc thời Edo ấy, có ai cùng tầm cỡ để có thể đem ḿnh ra so sánh hay không? Tuy nhiên trong số những nhân vật mà sách sử đề cập tới, không một người nào giống như anh hết. Chỉ có hoàn cảnh của một gă đàn ông trong “Sám Hối Lục của người Cơ Đốc” được Collado dấu tên và đem ra kể là làm cho ḷng anh thấy xúc động. Bởi v́ tính khí của gă th́ bạc nhược và tiết tháo của gă cũng tầm thường giống như anh. Trong tiệm sách cũ, giữa lúc đưa tay hờ hững lật những trang quyển sách ghi chép những lời xưng tội ấy, Nose dần dần thấy hiện ra trước mắt ḿnh h́nh ảnh của một người, ba trăm năm về trước, đang qú gối chúi đầu như một con lạc đà trước mặt cha xứ để bộc bạch một cách không ngượng ngùng mọi thứ nhơ bẩn đang tích tụ trong tâm hồn của gă. “Con đă sống trong một thời gian dài với những kẻ ngoại đạo (gentio)[5]. Để cho ông chủ nhà trọ lẫn xóm giềng không biết con đi đạo nên nhiều khi con đă theo họ đến chùa chiền và bắt chước họ tụng niệm kinh kệ. C̣n đến khi họ ca tụng, tán dương Thần Phật th́ con cũng gật gà gật gù và ăn nói kiểu toa rập với họ. Đại khái con đă làm khoảng hai mươi hay ba mươi lần như vậy nhưng chắc chắn là phải trên hai mươi”. “Rồi khi ông chủ nhà trọ và kẻ ngoại đạo xúm lại nói những câu phạm thượng với Đức Chúa Trời (Deus) và tỏ ra xách mé trước những người theo Ki-Tô Giáo, con đă có mặt ở đó nhưng không hề ngăn cản hay phản bác họ”. “Mới gần đây thôi, các quan đă vâng mệnh Shôgun về địa phương của con, quyết tâm bắt tất cả con chiên phải cải tông. Mọi người dân đều bị thẩm vấn và ép buộc đưa ra bằng cớ ḿnh đă bỏ đạo, cho dù chỉ trên h́nh thức. Rốt cuộc, để cứu mạng sống của ḿnh và vợ con, con đă thưa với họ là con chịu bỏ đạo”. Nose không biết người đàn ông kia là dân vùng nào và mặt mũi ra sao. Anh chỉ đoán ṃ rằng có lẽ nhân vật này phải sinh ra trong một gia đ́nh samurai nhưng c̣n như ông ta theo hầu một vị chủ nhân nào th́ anh không thể nào điều tra ra. Những lời gọi là xưng tội của anh, sau khi đă được in ra ở nước ngoài, nay lại được đưa về cố quốc cho đồng bào anh xem và được những người như Nose ghé mắt, thật là một câu chuyện khó mấy ai tưởng tượng nổi! Quả t́nh Nose biết mặt người đàn ông trong cuộc nhưng anh nghĩ rằng riêng về cách biểu hiện t́nh cảm và động tác của ông ta th́ anh có thể h́nh dung ra. Nếu ḿnh ngược được ḍng thời gian để sinh vào cùng một thời đại với ông ấy, có lẽ ḿnh cũng chỉ là một tín đồ Ki-Tô kiểu ông ấy thôi. Điều đó có nghĩa là nếu được các Phật tử mời mọc, ḿnh cũng có thể thoải mái đi chùa với họ và cũng sẽ cúi gầm mặt không dám phản đối khi nghe ai đó lên tiếng thóa mạ đạo Chúa, và giả tảng xem đó như chuyện không can dự đến ḿnh. C̣n việc cải tông ư, ḿnh cũng có thể là người v́ sự an nguy của vợ con, sẵn sàng kư tên vào một văn bản nh́n nhận ḿnh đă bỏ đạo. *** Những đám mây trùm trên đỉnh Unzen tự năy giờ đă hé lộ vài tia nắng nhỏ. Suguro thầm nghĩ có lẽ từ đây trời sẽ bắt đầu sáng sủa ra chăng? Trên con đường hai bên là phố xá này- nếu là mùa hè th́ đă tấp nập những đoàn xe nối đuôi nhau xuôi ngược - nhưng nay chỉ có mỗi chuyến buưt của anh đang hổn hển leo lên con dốc. Sau đó, những cánh rừng cây tạp héo khô và lạnh lẽo mỗi lúc lại trải rộng ra trước mắt. Trong những khu rừng ấy, lâu lâu anh thấy thấp thoáng những tụ điểm với nhiều băng-ga-lô (bungalow) cửa đóng kín, nằm thành cụm sát vào nhau dưới màn mưa. -Này cậu! Mấy người chịu tử đạo chẳng qua v́ háo danh thôi!. Nose nhớ anh đă nghe câu nói này ở một quán nhậu trong khu Shinjuku. Nơi đó, người ta bán một món lẩu cá mặn của vùng Akita, cái nồi được bắc ngay chính giữa và có những giọt rượu vấy bẩn trên mặt bàn. Một ông đàn anh khi ngồi trước cái nồi lẩu ninh sắp sửa cạn nước ấy đă lên tiếng phê b́nh về nhân vật trong cuốn tiểu thuyết mà Nose vừa mới in ra. Đó là cuốn tiểu thuyết anh viết dựa trên những tư liệu vào đầu đời Minh Trị nói về người tử đạo. Thế nhưng ông đàn anh ấy đă cho biết là ḿnh không thể nào nuốt trôi lập luận về tâm lư của kẻ tử đạo được Suguro tŕnh bày trong đó. -Nhất định là trong tâm lư của những kẻ muốn chết v́ đạo đă có sẵn cái ḷng háo danh! -Ḷng háo danh tích cực cũng có nữa chứ anh. Trường hợp những kẻ muốn làm những hành động anh hùng th́ trong đầu họ phải có cái ǵ điên điên một chút. Tuy nhiên... Nói đến đây, Nose im bặt và đưa tay nắm chặt lấy cái cốc. T́m thấy cái ḷng hư danh hay tâm lư muốn làm anh hùng trong những động cơ khiến cho con người chịu chết cho lẽ đạo là việc quá dễ. Thế nhưng đằng sau chúng tất hăy c̣n nhiều động cơ khác nữa. Và những động cơ khác đó có thể rất quan trọng trong hành vi của con người. -Hơn thế, nếu cứ chủ trương như anh th́ đằng sau lưng mọi hành vi dù đến từ thiện chí, lúc nào ta cũng có thể t́m ra những động cơ xấu xa như háo danh hay ích kỷ. Suốt mười năm trời, kể từ ngày bắt đầu viết tiểu thuyết, Nose đă nhận ra rằng trong văn học cận đại, càng ngày càng có khuynh hướng muốn khám phá cái tính háo danh cũng như ḷng ích kỷ trong tất cả hành vi của con người và đó là điều anh không thích. Cách nh́n về con người mà chỉ chú ư đến những giọt nước rịn xuống từ một cái rổ ướt đă khiến cho chúng ta bỏ trôi đi những điều c̣n quan trọng hơn nhiều. Trên con đường ngoằn ngoèo xen giữa những khu rừng cỏ cây vàng vơ đưa lên đỉnh núi, ngày xưa đă có một đoàn người được buộc vào nhau như xâu chuỗi, lầm lũi bước đi. Bọn họ có háo danh và có sống trong một trạng thái tâm lư bất b́nh thường hay không? Việc này Nose không dám khẳng định nhưng anh biết chắc là trong ḷng họ hăy c̣n chất chứa biết bao điều khác nữa. -Chẳng hạn như trong giai đoạn chiến tranh vừa qua, đám thanh niên cực hữu cũng đă có ư tưởng muốn được chết v́ nước. Thái độ đó khiến chúng ta cảm thấy họ như đang đắm ch́m trong một cơn say, nên không hiểu họ có thiếu thành thực hay không. Nhưng t́nh cảm say sưa đó chỉ có thể thấy nơi những kẻ đang sống giữa bầu không khí chiến tranh. Người đàn anh của Nose đưa cốc rượu đă lạnh lên miệng nhấp và cất một tiếng cười trong khi anh cảm thấy giữa lối suy nghĩ của ḿnh và của ông ta đang có một độ chênh lệch lớn. Như một dấu hiệu buông xuôi, anh chỉ mỉm cười lại với ông ta chứ chẳng nói ǵ thêm. Cuối cùng th́ Nose đă nhận ra những vầng hơi nước màu trắng đang bốc lên trên lưng chừng ngọn núi. Tuy cửa kính trên xe đă đóng kỹ nhưng anh vẫn ngửi thấy mùi diêm sinh hăng nồng. Nơi hơi nước đang bốc lên ấy, anh c̣n thấy rơ ràng là những tảng đá và sỏi cát cũng cùng có một màu trắng. -Có phải “Thung lũng địa ngục” (Jigokudani) đó không cô? -Không phải ạ! Cô hướng dẫn trên xe lắc đầu và nói tiếp: “Thung lũng địa ngục c̣n nằm trong sâu hơn chút nữa cơ!” Bây giờ tầng mây đă tách ra đôi chút để Nose có thể nh́n thấy một mảng trời xanh. Chiếc buưt từ năy giờ vẫn phát ra tiếng máy hổn hển như người hen suyển để cố gắng leo con dốc bất chợt bắt đầu chạy nhanh hơn v́ con đường đă bằng phẳng ra và đang đến chỗ xuống dốc. Trên những thân cây trong khu rừng đổ lá đă bắt đầu thấy những tấm bảng với mũi tên có lẽ dùng để chỉ cho những người leo núi (hikers) biết đâu là phương hướng đưa về “Thung lũng địa ngục”. Cái mái màu đỏ của trạm dừng chân (rest house) cuối cùng cũng đă lộ ra trước mắt. Nose không rơ gă đàn ông trong tập “Sám hối lục” kia có thực sự được đưa đến cái “Thung lũng địa ngục” này chăng? Thế nhưng bây giờ th́ trước mắt anh lại hiện ra h́nh ảnh một người đàn ông khác. Anh này đang gập lưng lại bước đi và bóng h́nh ấy đă in trùng lên h́nh ảnh của gă đàn ông trước đây. Trong tṛng mắt của Nose, h́nh ảnh mới mẻ của anh ta mỗi lúc càng rơ rệt thêm và đậm nét hơn h́nh ảnh của người con chiên vừa xưng tội kia một chút. Đó là một người đàn ông đă có mặt ở “Thung lũng địa ngục” này vào đúng ngày 5 tháng 12 năm 1631 khi 7 người, cả giáo sĩ và giáo dân, được đưa đến đây để chịu cảnh tra tấn. Tên của anh ta là Kichijiro và anh đă đến tận nơi để chứng kiến định mệnh nào sẽ xảy cho vị giáo phụ từng chăn dắt anh. Phần anh th́ đă chối Chúa từ lâu nên hôm đó anh mới có thể trà trộn vào đám quần chúng đang tụ tập để xem được cảnh tượng này. Thế rồi, Kichijiro đă nhón chân và vươn người lên khỏi đám đông để mục kích cuộc trừng phạt thảm khốc do sai nha gây ra. T́nh huống cuộc tra khảo xảy ra vào ngày hôm đó đă được một nhân chứng là vị giáo sĩ Christoforo Ferreira - người sau này sẽ trở thành một vết nhơ trong lịch sử truyền giáo ở Nhật Bản v́ ông đă không chịu nỗi nhục h́nh trong thời cấm đạo – kể lại một cách sống động và rành rọt trong một bản phúc tŕnh gửi về bản quốc. Theo đó, bảy tín hữu kia, khi cập bến Obama vào buổi tối ngày 2 tháng 12, suốt ngày hôm sau đă bị bắt phải leo lên núi. Ngọn núi ấy vốn có vài túp lều nhỏ và đến đêm, bảy người đều bị xích tay c̣ng chân y nguyên rồi tống cả vào đấy. Và họ cứ như thế mà đợi cho đến sáng hôm sau. “Vào ngày 5 tháng 12, cuộc tra khảo đă bắt đầu như thế này: Bảy người được đem đến bên bờ một cái ao nước khoáng để họ thấy cảnh nước nóng đang sục sôi và bắn bọt lên tung tóe. Họ nhận được mệnh lệnh là phải từ bỏ ḷng tin tôn giáo của ḿnh. Dưới bầu trời lạnh giá và đứng trước ao nước nóng đang sôi sùng sục lại tỏa ra hơi nóng như thế, nếu không có sự gia hộ của thần thánh, thử hỏi người phàm nào mà không lăn ra bất tỉnh? Thế mà bảy tín hữu kia vẫn la lên rằng các ông cứ việc tra tấn đi chứ chúng tôi sẽ không bao giờ chịu bỏ đạo. Trước câu trả lời kiên quyết đó, sai nha lính tráng bèn cho lột tất cả quần áo và cột chặt hết chân tay để họ không thể động đậy. Thế rồi những kẻ bức hại đă dùng gáo với dung lượng khoảng một phần tư lít, múc nước đang sôi đến bốc khói dưới ao rồi từ từ xối lên thân thể tù nhân mỗi người độ ba gáo như vậy. Trong số bảy người, có một nữ tín hữu tên gọi Maria, v́ không chịu đựng được sự thống khổ nên đă ngă xuống bất tỉnh. Trong khoảng thời gian tổng cộng 33 ngày, các tín hữu đă phải chịu 6 lần tra tấn.” Chiếc buưt dừng lại. Khi Nose, người cuối cùng trong đoàn khách, ra khỏi xe th́ đă thấy trong bầu không khí lạnh lẽo của vùng núi non, có mùi tanh nồng của một cái ǵ đă thối rữa đang ập vào mũi ḿnh. C̣n như làn khói nước nóng trắng toát kia th́ sau khi trùm lên những cánh rừng của thung lũng, đă nương theo gió, từ phía dưới trũng mà tràn lên cả đường cái. -Thế nào? Các ông các bà có muốn chụp ảnh không ạ? Một anh thanh niên đứng đằng sau một cái máy ảnh thật to gác trên ba chân đứng, lên tiếng mời mọc Nose. -Bọn em sẽ chịu tiền bưu điện gửi đến tận nơi các ông bà muốn. Bên bờ đường, Nose thấy rải rác vài cô đám con gái mang theo rổ đựng trứng để bán. Bên thành rổ có gắn một manh giấy đề mấy chữ “Trứng luộc” với nét bút nguệch ngoạc. Họ cũng đang cao giọng mời mọc người mua. Đi xuyên qua đám người đó, Nose và đoàn của anh bước về hướng “Thung lũng địa ngục”. Trừ vài lùm bụi đang phủ lên nó, hầu như mặt đất ở đó chỉ có mỗi một màu trắng bệch, cái màu của làn da đang trải lên trên lớp thịt. Luồng hơi nóng vẫn giống như năy giờ, từ cánh rừng bên kia mang theo một cái mùi hôi thối nồng nặc và tỏa về phía này. Con đường ṃn th́ chạy cong queo và đứt nối cạnh những con suối đang sủi tăm và bốc hơi nhiệt. Cũng có những cái ao sau khi đă tung một cột nước cao như bức tường trắng lại trở về với tĩnh lặng và chỉ c̣n nghe tiếng những bong bóng nước rất đáng lo ngại đang lục sục bên trong. Trên mấy cái g̣ do diêm sinh tạo ra, đôi chỗ có những thân tùng hăy c̣n đứng vững nhưng đều đă bị cháy nám. Đám khách hồi năy đă lấy mấy quả trứng luộc từ trong bọc giấy, phồng mồm ngốn ngáo và sắp hàng tiến về phía trước, chẳng khác nào một đàn kiến. -Tới đây mà xem! Có con chim nhỏ bị chết nằm kia ḱa! -Thật đó ta ơi! Có lẽ nó bị hơi ga (gaz) làm cho ngạt thở. Riêng Nose th́ anh chỉ chắc có một điều là gă đàn ông tên gọi Kichijiro đă chứng kiến quang cảnh tra khảo tù nhân ở đây. Nhưng thế sao anh ta lại cất công t́m đến xem? Có phải anh đă đến với ư định giúp đỡ những giáo sĩ và con chiên đang thụ h́nh hay là định làm ǵ khác? Điều này Nose hoàn toàn không nắm được. Về Kichijiro th́ anh chỉ nhớ đến một câu duy nhất mà gă đă nói trước mặt những kẻ chấp pháp khi thề thốt là ḿnh sẽ cải tông: “Tôi làm như thế là để cứu sinh mạng của vợ con tôi!” . Ấy thế mà gă vẫn không rời nhóm bảy người Kirishitan, cố t́nh lẽo đẽo đi bộ theo họ từ Nagasaki đến Obama rồi cứ thế mà cùng họ thất thểu lên tới đỉnh Unzen giá rét. Nose lúc đó thấy như vẽ ra trong đầu ḿnh h́nh ảnh của Kichijiro với cặp mắt một con chó sợ sệt đi sau lưng đoàn người, lâu lâu lại lấm lét nh́n về phía những kẻ ngày xưa từng là bạn cùng chung cảnh ngộ, rồi sụp đôi mi xuống v́ cảm thấy xấu hổ. Cách thể hiện trên khuôn mặt gă, Nose lại thấy sao mà nó giống như là h́nh ảnh của ḿnh. Ít nhất anh cho rằng ḿnh không tài nào có thể khoành hai tay ra sau lưng và đến đứng mấp mé cái ao đang sủi lên sùng sục những cái bọt nước đáng sợ kia. Luồng hơi nước trắng xóa lúc mới đầu chỉ như phả rộng ra thôi, giờ đây c̣n đâm thốc vào mũi mọi người một cái mùi nồng nặc đến kinh hoàng do chất ga (khí đốt) cô đọng lại. Một bà mẹ đang đứng đằng trước chợt giật bắn người, vội vă ôm đứa con nhỏ và bước giật lùi. Trong vũng nước, rơ ràng là có một tấm bảng yết thị đang cắm sâu, cảnh báo khách là từ chỗ này sẽ rất nguy hiểm. Bên cạnh bảng yết thị ấy lại có ba cái xác chim se sẻ trông giống như xác ướp đang nổi lềnh bềnh. Nose nghĩ nơi đây đúng là chỗ người Kirishitan ngày ấy bị tra khảo. Nh́n qua kẽ hở giữa một vùng hơi nước mịt mờ như sương mù, anh thấy ở phía bờ đối diện hiện ra h́nh ảnh một cây thập tự giá đen ng̣m. Lấy khăn mùi-soa đưa lên che cả miệng lẫn mũi, anh tiến đến và đứng ngay sát bên tấm bảng yết thị rồi đưa mắt nh́n xuống dưới chân th́ thấy ngay là ḍng nước nóng trắng đục ở đó đang sôi lên sùng sục, làm bắn tung những bọt nước nóng hổi và thật to ngay trước mũi ḿnh. V́ không thấy bên cạnh có một chỗ nào khác để đặt chân, Nose cho rằng, nhất định là các giáo dân thuở xưa đă chịu cảnh tra tấn ngay ở địa điểm giờ đây anh đang đứng. Thế rồi, biết đâu gă đàn ông tên Kichijiro kia cũng đă đứng cách đó một khoảng khá xa - bởi v́ anh ta chắc phải sợ hăi giống như đứa trẻ cũng như người mẹ vừa bồng nó đến chỗ này lúc năy - để cùng đám đông có mặt theo dơi cảnh tượng khủng khiếp đang xảy ra trước mắt. Phải chăng lúc ấy từ ḷng Kichijiro đă vọng ra lời cầu xin những kẻ đang thụ nạn tha thứ. Nếu Nose đặt ḿnh vào trường hợp của Kichijiro, chắc anh cũng không thể làm ǵ khác hơn là lập đi lập lại trong đầu mỗi một câu: “Xin tha thứ cho tôi! Xin tha thứ cho tôi!”. “Xin quí vị hăy tha thứ cho tôi v́ tôi không có đủ dũng cảm để dám tử v́ đạo như quư vị. Nội sự sợ hăi và sự tự trách thi nhau xâu xé đă đủ làm cho tôi cảm thấy lồng ngực ḿnh như vỡ toang rồi”. Dĩ nhiên, Kichijiro cũng có cái cớ để biện minh. Ví như gă sinh ra vào một thời đại có tự do tôn giáo, nhất định gă sẽ không bao giờ trở thành một kẻ bội đạo. Có lẽ gă không phải là một vị thánh nhưng vẫn biết tuân thủ các giáo luật như mọi tín hữu b́nh thường. Duy có điều bất hạnh là gă đă sinh ra vào một thời đại mà người ta bức hại tôn giáo, và v́ quá sợ hăi nên gă đă cam tâm kư vào một tờ giao ước để từ bỏ tôn giáo của ḿnh. Con người nào phải ai cũng là thánh hiền hay kẻ dám tử đạo! Thế nhưng, không thể v́ lẽ đó mà bắt những kẻ không dám tử đạo suốt đời phải chịu cảnh bị khắc cái ấn “kẻ phản bội” lên người! Có lẽ Kichijiro mang h́nh ảnh một lớp tín đồ tuy có tự trách nhưng đồng thời cũng muốn lên tiếng bào chữa cho thái độ của ḿnh. Tuy vậy, dù lập luận thế nào đi nữa, cuối cùng th́ Kichijiro vẫn cảm thấy khổ tâm và căm thù sự yếu hèn của bản thân. “Nơi một con chiên sa ngă như tôi, vẫn có những nỗi khổ tâm riêng mà quí vị không thể nào hiểu được!” Lời than thở ấy, như tiếng kêu của con chim nhỏ bị thương, đă đi xuyên suốt ba trăm năm, để hôm nay vọng đến bên tai Nose. Hàng chữ bên trên từng thấy trong quyển “Sám Hối Lục của người Cơ Đốc” (Kirishitan Sangeroku) có tác dụng như một lưỡi dao bén đang rạch lên trái tim anh. Nose dám chắc rằng chắc câu nói đó cũng là tiếng gào thét dậy lên từ đáy ḷng của Kichijiro khi gă nh́n thấy cảnh tượng những người đồng đạo cũ bị tra khảo trên đỉnh núi Unzen. *** Đoàn người lại leo lên xe buưt. Thời gian đi từ đỉnh Unzen đến Shimabara chỉ mất chưa đến một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, bầu trời cũng đă chịu hé cho họ thấy một mảng màu xanh nho nhỏ nhưng cái rét mướt vẫn không có ǵ thay đổi. Trên môi cô hướng dẫn hăy c̣n nguyên nụ cười giả tạo cố hữu, với cái giọng thánh thót như là hát, đang giải thích thêm cho đám khách nghe. Bảy giáo dân bị tra khảo ở Unzen v́ không chịu khuất phục đă bị giải xuống Shimabara. Họ phải bước từng bước một theo cùng một đoạn đường hiện anh đang di chuyển bằng xe buưt. Trên quăng đường này, Suguro có thể mường tượng ra trước mắt cảnh đám tù nhân kéo lê đôi chân đă bị cháy bỏng v́ nước sôi, phải tựa cả vào gậy mà bước, trong khi vẫn bị bọn nha lại xô đẩy, hối thúc từ phía sau lưng. Kichijirô đă cố giữ một khoảng cách nhất định với đoàn tù, thận trọng đi sau lưng họ. Khi những người này kiệt sức phải đứng lại th́ cách đó một khoảng xa, ngạc nhiên làm sao, Kichijirô cũng dừng bước như thế. Để cho đám nha lại khỏi nghi ngờ, gă đă tức tốc chui vào bên trong một bụi rậm, ẩn ḿnh như một con thỏ và chỉ đứng dậy khi đoàn tù bắt đầu lên đường trở lại.Cảnh tượng ấy giống như hành động của một người đàn bà bị ruồng bỏ mà vẫn muốn bám theo chân t́nh nhân. Từ lưng chừng núi có thể nh́n thấy màu đen của biển. Những đám mây trắng như sữa phủ đến tận phía bên kia mặt biển đen. Giữa những đám mây, anh thấy lưa thưa vài chùm nắng yếu đang chiếu lên trên. Suguro chợt nghĩ: nếu là một ngày đẹp trời khi mặt biển kia phải xanh biết là bao? -Quí vị hăy nh́n xem! Cái chấm đằng xa kia trông như vết nám là một ḥn đảo đấy ạ! Rất tiếc là với thời tiết hôm nay, chúng ta không thể nh́n được rơ. Nơi đó là Dangojima (Đảo hội nghị), ngày xưa, vào thời có cuộc nổi dậy ở Shimabara, được dùng làm chỗ thảo luận của thủ lĩnh giáo dân Amakusa Shirô[6] với các đồng minh của ông ấy đấy! Lời giải thích của cô hướng dẫn có vẻ không lôi cuốn đám khách trên xe bao nhiêu nên họ chỉ đưa mắt liếc một cái thật nhanh về hướng ḥn đảo. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc, những lùm cây tạp đă nối đuôi nhau để che khuất mặt biển vừa hiện ra cho đến lúc đó. Mặt biển đó cũng từng hiện ra trước mắt bảy giáo dân nọ. Chẳng hay lúc đó họ đă suy nghĩ thế nào? Bọn họ đều biết một khi đặt chân đến Shimabara, tất cả sẽ bị đem ra ngoài pháp trường để xử tử. Vào thời đó th́ thân xác của những kẻ tử đạo như họ sẽ được hỏa thiêu ngay và tro cốt bị đổ xuống biển. Bởi v́ nếu nhà đương cục không làm như vậy, những di tích như quần áo hay tóc tai của họ sẽ được người nhà lén đem đi và ǵn giữ như những thánh tích để phụng thờ. Do đó mà ngay giờ phút từ chỗ này nh́n ra ngoài biển xa, có lẽ bảy người tù đă ư thức rằng nơi kia sẽ là mồ chôn của họ. Kichijirô cũng đă ngắm mặt biển ấy nhưng trong gă hẵn có một nỗi bi thương khác. Đó là trong thế giới của tín ngưỡng cũng có người mạnh và kẻ yếu. Có lẽ gă nghĩ rằng kẻ mạnh sẽ luôn được bao bọc bằng những ánh hào quang và vinh dự nhưng kẻ yếu th́ trong suốt quăng đời c̣n lại, chắc chỉ biết vác trên lưng nỗi buồn của một kẻ chiến bại. Khi đến được Shimabara, cả đoàn bảy người đă bị tống ngay vào nhà lao. Một buồng giam cao khoảng 3 xích (shaku) là đụng trần, rộng chỉ đủ để trải một tấm chiếu tatami. Bốn người đầu tiên được tống ngay vào căn buồng đó, c̣n ba người sau được họ dồn vào một căn buồng hẹp tương tự. Trong lúc chờ giờ hành quyết, đám tù nhân đă không ngừng khuyến khích, an ủi nhau cũng như cầu kinh. Thế nhưng, cũng vào giờ phút đó, không ai biết Kichijirô đang làm ǵ và ở đâu trong cái thị trấn này. Phố xá Shimabara tối tăm và vắng vẻ. Nơi xe buưt đậu nằm trước cầu tàu của một bến cảng nhỏ. Đang có một chiếc thuyền kiểu xưa, loại thuyền từng dùng để ra đảo Amakusa, nằm trơ trọi và buộc neo ở đó. Bên trên những đợt sóng nhỏ đang tấp nhẹ vào bờ kè là những mảnh gỗ và rác bẩn trôi nổi bồng bềnh. Giữa mớ rác ấy nổi lên một cái xác mèo chết thấy như được bọc nguyên con trong một tấm giấy nhật tŕnh cũ. Những khu phố của thị trấn th́ hẹp và dài, nằm song song với bờ biển. Bờ tường của những ngôi nhà - có lẽ là công xưởng nằm trong khu vực - thấy như kéo dài ra măi. Từ nơi đó, mùi thơm của dược liệu phả ra đến tận đường phố. Nose bước đi về phía ngôi thành Shimabara[7] vốn đă được trùng tu theo dáng cũ nhưng dọc đường anh không gặp ai mà chỉ đụng đầu hai ba cô nữ sinh cấp ba đang đạp xe đạp đi tới. -Này, các em có biết chỗ xưa kia người ta xử h́nh dân Kirishitan không hở? Vừa hỏi thế các cô đă đỏ mặt v́ bối rối. -Ôi chà! Chuyện đó th́...tụi con chịu thôi. Ê mày, mày có biết không? Chắc làm ǵ biết được, phải không? Các cô chỉ lắc đầu quầy quậy. Nose ra đến một khu vực hăy c̣n di tích nhà ở của các samurai. Khu này ở ngay sau lưng ngôi thành và có một con đường nhỏ nằm vắt ngang. Khi đi dọc theo nó, đôi khi anh bắt gặp nhiều bờ tường cũ đứng sát bên nhau. Trên con đường này cũng hăy c̣n nguyên vẹn một số hào rănh đă có từ thưở ấy. Nhờ có ánh nắng buổi chiều soi xuống mà anh nhác thấy màu đỏ của những quả cam vừa chín tới nằm dưới bóng các bờ tường. Hầu như nhà ở đây, cái nào cái nấy đều cũ kỹ, tối tăm và ẩm thấp. Dĩ nhiên đó là loại nhà vốn được xây cất vào cuối thời Tokugawa dành cho những samurai địa vị thấp kém. Nose biết ở Shimabara[8], số người Kirishitan bị xử h́nh lên rất nhiều nhưng vẫn chưa có dịp đọc các sử liệu để xem địa điểm nào là lao ngục từng giam giữ họ. Anh bèn rẽ qua một con đường khác và sau khi đi bộ được một đỗi đă ra đến một khu phố đang vọng ra lê thê tiếng ca nhạc cải cách (enka, ryuukôka). Tuy chiều ngang con đường ấy chỉ hẹp thôi nhưng anh thấy ở đó có đủ mọi thứ tiệm quán đang sắp thành hàng bên nhau, ngay cả những tiệm bản sản vật địa phương. C̣n như nước chảy trong các con rảnh hai bên đường, chỗ nào thấy đều trong vắt. -Muốn xem cảnh pháp trường à? Tôi biết chỗ đấy!. Ông lăo bán thuốc lá cho Nose hay là nếu đi tiếp một chút, anh sẽ gặp một cái hồ. Từ nơi đó mà tiến thẳng về phía trước, sẽ thấy có một ngôi trường mẫu giáo. Ngang bên hông trường là địa điểm mà ngày xưa, các người Kirishitan đă bị hành h́nh. Vào hôm trước ngày bảy tội nhân bị xử h́nh, không biết nhờ cách nào mà Kichijirô lại được phép đến gặp họ. Kư lục về sự việc này hăy c̣n được lưu giữ. Có lẽ là gă đàn ông đă đem tiền bạc đút lót cho bọn nha lại để được chúng ban ân huệ ấy cũng nên. Kichijirô chỉ muốn đến thăm và trao cho những người tù đă bị tra tấn đến kiệt sức này một chút thức ăn. -Này, Kichijirô-san, cậu đă phản cung (iimodoshi) hay sao mà lại đến được đây? Một tù nhân nói với anh bằng một giọng đầy thương cảm. Phản cung (iimodoshi) có nghĩa là t́nh trạng của kẻ đă một lần sa ngă (koronda) nhưng sau thấy ḿnh không thể nào bỏ đạo nên t́m gặp nha lại để báo cho họ biết là đă đổi ư. -Có phải v́ nhờ phản cung, người ta mới tống cậu vào đây không? Kichijirô chỉ biết ngước đôi mắt sợ sệt lên nh́n họ và lặng lẽ lắc đầu. -Dù sao đi nữa, Kichijirô ạ, chúng tôi cũng không thể nào nhận những món ăn của cậu đâu. -Sao lại thế? -Bởi v́ chúng tôi đă quyết tâm chịu chết. Kichijirô sụp đôi mi xuống và không nói được câu nào. Anh tự biết ḿnh không phải là những con người dũng cảm như họ để có thể chịu đựng được cuộc tra khảo tàn khốc mà mới hôm trước anh đă chứng kiến trên đỉnh Unzen. -Phải chịu khổ đến mức đó th́ tôi mới lên được Thiên Đàng (Paraiso, Haraiso) hay sao? Lẽ nào Đức Chúa Trời (Deus) ngài lại đành ḷng bỏ rơi những kẻ như tôi? Kichijirô vừa khóc vừa lẩm bẩm câu nói đó. Đúng như lời chỉ dặn, sau khi đi hết khu phố thương mại, Nose ra được bờ hồ. Nước trong hồ sau khi được chắn bởi một cái đập, đă theo cống ngầm để đổ vào những rănh trong đường phố. Nose thấy ngay đó có một tấm bảng yết thị giải thích rằng sở dĩ nước của các cái rănh ở thị trấn Shimabara trong leo lẻo là nhờ được chia nước đến từ hồ này. Nose nghe có tiếng trẻ con đang cười đùa. Th́ ra trong cái sân của ngôi trường mẫu giáo nơi ông già bán thuốc lá vừa chỉ cho anh, có bốn năm em học sinh tiểu học đang chơi tṛ ném bóng. Ánh nắng chiều c̣n le lói chiếu lên trên mấy cây xích đu và băi cát nằm trong sân trường mẫu giáo. Khi ra đằng sau cái hàng rào kết bằng những rặng hoa hồng đă rụng hết lá, anh đă gặp được khu đất ngày xưa dùng làm nơi hành h́nh nhưng nay dấu vết của nó chỉ c̣n lại một khoảnh rừng cây khô. Tiếng gọi là pháp trường nhưng khu vực này chỉ là một vùng đất bỏ hoang, rộng chừng 70 đến 80 tsubo (đơn vị 3,3m2) với những thân tùng mọc bên trên một vùng đất nâu đầy lùm bụi và rác rưởi. Nếu Nose cố t́nh đi xuống tận đảo Kyushu này đây là cũng v́ anh muốn nh́n tận mắt dù chỉ một lần quang cảnh pháp trường này! Nhưng thực ra, không riêng ǵ việc nh́n cho được quang cảnh pháp trường này đâu. V́ đây cũng là nơi Kichijirô có lần xuất hiện nên mục đích của Nose c̣n là hiểu được một cách rơ ràng mọi tâm sự thầm kín của gă đàn ông đó. Sáng hôm sau, bảy tội nhân kia đă được cho ngồi lên những thớt ngựa không yên và đưa đi bêu diếu khắp các đường phố của thị trấn Shimabara rồi đưa đến pháp trường. “Sau khi đă bị dắt đi một ṿng, những tử tội được đưa đến bên trong chỗ xử h́nh vốn đă được quây bằng một hàng rào làm bằng thanh tre. Người ta đưa họ xuống ngựa và đặt họ đứng bên nhau thành hàng đằng trước những cây trụ cách nhau khoảng 3 mét một. Dưới chân họ đă chất sẵn những đống củi, bên trên đó có phủ một tấm mái làm bằng rơm rạ có rưới nước biển. Chủ đích là pḥng khi lửa cháy quá mạnh khiến cho kẻ bị xử h́nh vừa chưa chịu được bao nhiêu thống khổ đă vội chết ngay. Lại nữa, khi trói họ vào trụ th́ cũng phải trói sao cho không chặt quá để trước khi chết, họ c̣n có thể xoay qua trở lại và trong trường hợp thay đổi đức tin và muốn bỏ đạo, họ hăy c̣n có thể tự do la hét”. Đó là cảnh tượng mà những người từng mục kích những cuộc hành h́nh đă báo cáo lại. “Có một lúc, khi lửa đă được châm vào đống củi, bỗng có một gă đàn ông bất chấp sự khống chế của đám nha lại, đă chạy xô về phía những cây trụ hành h́nh. Không biết gă ta đang la lối những ǵ v́ tiếng kêu của gă đă bị tiếng nổ lốp đốp của củi và tiếng cháy phần phật của lửa che lấp. Hơn thế nữa, làn khói nóng của đám lửa đă ngăn gă không thể nào tiến sát đến bên những kẻ đang thụ h́nh. Nha lại bèn tức tốc ào tới túm lấy và hỏi gă mầy có phải là Kirishitan hay không? Nghe thế gă đă sợ hăi đứng khựng lại một chỗ và trả lời ḿnh không phải Kirishitan và cũng không hề dính dấp ǵ với lũ người ấy. Chỉ v́ cảnh tượng quá khiếp đảm đă làm cho ḿnh mất hết lư trí. Sau khi th́ thào như vậy, hắn đă rời chỗ đó và bỏ đi đâu mất.Thế nhưng trong đám người dự khán có kẻ đă từng thấy hắn đứng đằng sau ḿnh, chắp hai tay và nói luôn miệng:“Xin tha thứ cho tôi! Xin tha thứ cho tôi!”. Bảy người thụ h́nh c̣n cất tiếng hát tận đến khi mấy cây trụ hoàn toàn bị ngọn lửa bao trùm. Tiếng hát của những người thụ h́nh ấy thật thanh thoát, không tương xứng chút nào với cảnh tượng thảm khốc mà họ hiện phải đối đầu. Cuối cùng, tiếng hát ấy bỗng nhiên tắt ngấm và chỉ c̣n có tiếng củi cháy khô khan. Gă đàn ông khi năy th́ đă khom người và bước loạng quạng rời khỏi hỏa trường như một kẻ mất hồn. Nghe có ai đó th́ thầm cho nhau nghe rằng hắn ta trước đây là một Kirishitan. Nose vẫn đứng ngay trong pháp trường và giờ đây mới nhận ra là ở chính giữa nơi đó, hăy c̣n có một vạt đất cháy đen. Nh́n cho thật kỹ, anh thấy có vài ba ḥn đá bị cháy mà phân nửa dưới c̣n ghim trong ḷng đất. Có phải đây là một phần của những ḥn đá mà ba trăm năm trước đây đă được dùng vào việc đưa 7 con chiên tử đạo lên giàn hỏa hay không? Anh không biết và cũng không dám chắc. Dù vậy, anh đă vội vă nhặt lấy một ḥn đá nhỏ trong số đó và cho vào túi. Thế rồi, cũng như Kichijirô ba trăm năm về trước, anh đă gục đầu, lom khom bước ra khỏi băi hành h́nh và bước về phía con đường lớn.
Dịch ngày 2/5/2024
Bên lề tác phẩm: Pierre Dunoyer, một tu sĩ ngoại quốc sống nhiều năm ở Nhật đă cho biết trong tác phẩm của ông viết năm 2011 (xem thư mục tham khảo) là lịch sử truyền giáo của đạo Cơ Đốc tại đây đă bắt đầu từ năm 1543 (khi một chiếc tàu Bồ Đào Nha bị dạt vào đảo Tanegashima) dù nhiều người khác cho rằng đó phải là ngày 15/8/1549, lúc giáo sĩ Francesco Xavier, nhà truyền giáo lỗi lạc ở phương Đông và đoàn tùy tùng của ông đặt chân lên đất nước này. Thế nhưng do hoàn cảnh lịch sử và những yếu tố phức tạp kể cả địa chính trị, quân sự và kinh tế...bên ngoài tôn giáo, sau một thời gian trăng mật ngắn ngủi, một cuộc đàn áp đạo Ki-Tô có qui mô đă được nhà nước Nhật Bản ban bố và thực hiện một cách khốc liệt trong hai thế kỷ rưỡi, qua các chính quyền Toyotomi (kể từ sắc lệnh cấm đạo năm 1587), Tokugawa (1603-1868) và kéo tận đến sau cả thời Meiji. Năm 1873, v́ t́nh h́nh ngoại giao đối với các cường quốc phương Tây, chính quyền Meiji buộc ḷng phải băi bỏ lệnh cấm đạo dù họ không mấy thực tâm. Tuy nhiên, đỉnh điểm của cuộc đàn áp Ki-Tô Giáo ở Nhật có lẽ là chiến dịch quân sự nhằm đập tan một cuộc khởi nghĩa của nông dân và giáo dân xảy ra vào năm 1637 và 1638 tại bán đảo Shimabara (nay thuộc Nagasaki) trong niên hiệu Khoan Vĩnh (Kan-ei, 1624-1643) dưới thời Shôgun Tokugawa đời thứ 3 là Iemitsu (Gia Quang) trong bối cảnh của một vùng đất từng có nhiều lănh chúa đi đạo. Với sự hiệp lực của chiến hạm Hà Lan (trong quan hệ ḱnh địch với các lực lương Tây Bồ, đă nổ đại pháo vào đám loạn quân), sau mấy lần hao binh tổn tướng, Mạc Phủ đă dẹp tan những người nổi loạn đang tử thủ sau chiến hào. Không những chỉ có 37.000 nông dân và giáo dân bị tàn sát lúc đó mà hậu quả của cuộc đàn áp c̣n kéo dài măi về sau, ngay cả thời quân phiệt nắm quyền. Phải đợi đến mấy trăm năm những người Kirishitan mới từ từ ngóc đầu lên nổi. Dù vậy, hiện nay (2011), con số tín hữu Cơ-Đốc ở Nhật chỉ có trên 1 triệu người (kể cả 60% Tin Lành lẫn 40% Thiên Chúa), nghĩa là chưa được 1% dân số. May thay, thêm vào đó, trong số 2 triệu lao động nhập cư không được kể vào thống kê này cũng có rất nhiều tín hữu nên không thể nào kết luận Cơ Đốc Giáo Nhật Bản là một tôn giáo dành cho giai tầng khá giả như theo một số đánh giá. Với một bối cảnh lịch sử tôn giáo đẫm máu như vậy, mới thấy những ḍng chữ trên đây trong tác phẩm “Địa ngục Unzen” của Endo Shusaku có một trọng lượng cỡ nào. Chúng ta c̣n t́m gặp nơi đây một quan điểm độc đáo của nhà văn, khi ông chọn đứng ở vị trí của những kẻ “bạc nhược, hèn nhát và yếu đuối” nhưng gần gũi với ḿnh chứ không phải là những con người gan ĺ và bất khuất, không sợ chết mà chỉ sợ đánh mất linh hồn.
Thư mục tham khảo: -Endo Shusaku, Unzen, trong Toàn tập Endo Shusaku (Endo Shusaku Zenshu), Nhà xuất bản Shincho, quyển 7, trang 215-226. Ấn bản năm 1999. Nguyên tác Nhật ngữ. -Endo Shusaku, Unzen, Van C. Gessel dịch sang tiếng Anh là Unzen, trong Stained Glass Elegies, A New Editions Book, 1984. Bản ngoại văn tham chiếu. -Piere Dunoyer, Histoire du Catholicisme au Japon 1543-1945, Les Editions du Cerf xuất bản, 2011, Paris, France. Tư liệu lịch sử. [1] Thói quen của người Nhật sau khi tắm nước khoáng (onsen) để hồi phục lượng nước mất đi. [2] Một bán đảo nằm ở phía Tây Nam thành phố Nagasaki. Unzen là cao nguyên có núi lửa nằm ở chính giữa khu vực này. [3] Cuộc nổi loạn với thế lực hai vạn mấy ngh́n người của giáo dân Kirishitan trong năm Khoan Vĩnh (1637-38) trên đảo Kyushu, c̣n gọi là Amakusa Ikki, từng làm hao binh tổn tướng cho Mạc phủ Tokugawa. [4] Diego de Callado, (1589-1641), giáo sĩ người Tây Ban Nha ḍng Dominico,, từng cư trú ở Nhật từ năm 1619 đến 1623. [5] Thời ấy, từ này dùng để ám chỉ người theo Phật giáo hay Thần đạo. [6] Biệt hiệu của Masuda Tokisada, một giáo dân ḍng dơi samurai, tổng chỉ huy lực lượng nổi dậy trong cuộc chiến Shimabara -Amakusa (1637-38). Tên thánh của ông là Jeromino (Jerôme). [7] Thành này đă bị quân Mạc phủ hủy hoại hoàn toàn cùng với cuộc trấn áp và tàn sát giáo dân. [8] Có thể hiểu là sau khi cuộc nổi dậy của giáo dân ở đây bị trấn áp, thị trấn này và tỉnh Nagasaki đă trở thành biểu tượng cho việc đàn áp người Ki-Tô giáo ở Nhật.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |