CON RẮN

(Hebi, 1911)

Nguyên tác: Mori Ôgai

Dịch: Nguyễn Nam Trân

Mori Ôgai ở tuổi trung niên

Dẫn Nhập:

Đây là một truyện ngắn mà Mori Ôgai viết vào tháng 1 năm 1911 nghĩa là vào giai đoạn giữa của một văn nghiệp bắt đầu khi ông du học trở về cho đến ngày qua đời (1889-1922). Truyện có một đoạn mở đầu mang tính cách kinh dị nhưng tác giả đã biết lái qua một bên để đưa ra kết luận hợp lý.

Ở đây, Ôgai mượn một câu chuyện nhỏ không biết thực hay hư để trình bày nhiều ý kiến riêng tư qua hình thức đối thoại, về sự mê tín, về vai trò của y học, về tâm lý của người phụ nữ tân học, về quan hệ mẹ chồng nàng dâu...trong bối cảnh thời Minh Trị Duy Tân. Ý kiến của ông có cái nay đã lạc hậu, cũng có cái hãy còn hợp thời nhưng nói chung, ông vẫn viết với tư thế không dấn thân của một “quan sát viên đứng bên lề” hay kẻ bàng quan (bôkansha).

Nhà văn Higashi Masao (xem thư mục tham khảo) – khi bình luận về ông – có nhắc đến sự “dồn nén tình dục” của tác giả tiềm ẩn trong tiểu phẩm này. Riêng người dịch thì chỉ thấy đôi chút tình cảm “thù ghét đàn bà” (mysogyny) của Ôgai đã len vào trong tác phẩm và có lẽ nó đã bắt nguồn từ cuộc hôn nhân bất hạnh với Akamatsu Toshiko, bà vợ đầu, đã dẫn tới ly hôn trong đời ông.

Văn Mori Ôgai khó đọc. Một lần nữa, ông đã chứng minh rằng mình là “nhà văn của những nhà văn” chứ không phải “nhà văn của đại chúng độc giả” như Natsume Sôseki.

* * *

Đêm hè ngắn, trời chóng sáng khiến tôi bực bội vì không hiểu tại sao mình đến trọ trong ngôi nhà đầy tiếng động như thế này , lại cứ phải xua đuổi mấy con muỗi không ngừng vo ve bên má. Mới chợt nhận ra là ở cái hành lang hẹp có che mái đi sang gian thứ hai, có một khu vườn nhỏ nằm ngay bên trong, nơi đó sắp đầy những đống đá cũng như trồng đủ loại cây cỏ.

Tôi mới đặt sát cạnh tấm nệm con mình đang ngồi một cái thố đất nung đốt hương xông muỗi.Từ lỗ khoét ra ở bên trên, một làn khói xanh bốc lên từ từ và tỏa thành những vòng tròn, luẩn quẩn bên trong phía hàng hiên vì nơi đây không có gió. Dù được che chắn kỹ càng như vậy, lũ muỗi vẫn tiếp tục tìm đến vo ve bên mặt tôi. Nhân là trong bữa cơm chiều, tôi có uống hai ba chung sake hạng tồi nên không hiểu có phải mùi men nồng trong hơi thở của mình đã gọi đàn muỗi đến hay không. Đáng lẽ tôi không nên uống nhưng vì thấy khô cổ, đã nhấp một chút và bây giờ có hơi hối.

Khi được đưa vào đây, tôi phải đi ngang qua nhiều phòng ốc và nghiệm ra ra rằng nơi đây phải là nhà một gia đình cố cựu. Xuyên qua những gian phòng của ngôi nhà lớn không mấy ai ở này bỗng vọng đến bên tai tôi tiếng léo nhéo không đứt đoạn của một người đàn bà nào đó.

Tốc độ nói chuyện của bà ấy nhanh đến khiếp làm tôi không phân biệt được câu chữ. Chỉ có một chỗ mà tôi nghe được rành rọt là hư tự nii ở cuối câu, đặc điểm của phương ngữ vùng này. Nó là bộ phận duy nhất tách rời được chuỗi âm thanh đều đặn ấy. Nii là tiếng nhấn giống như nêê mà người dân vùng Tôkyô dùng để chấm câu. Phải thưa ngay là lúc đó tôi đang ở trong ngôi nhà trạm trên một tuyến đường núi vùng Shinshuu (Nagano).

Trong phút chốc, tôi đã lắng tai để chực trả lời nhưng không còn nghe thấy gì nữa. Có lẽ người đàn bà ấy đang lảm nhảm một mình.

Khi đón tôi tới, người quản gia lớn tuổi đã báo trước khi xin lỗi: “Trong nhà có người ốm, chắc sẽ làm phiền ông”. Thế nhưng tôi đâu ngờ người ốm đó lại là một người nói dai không mỏi mồm như thế.

Chả lẽ bà ta điên?

Tôi không hiểu bà ấy nói gì nhưng nếu nghe giọng, có vẻ bà đang van vỉ điều gì đó với ai.

Có tiếng đồng hồ treo tường gióng lên từ xa. Tôi móc cái đồng hồ quả quýt của mình ra và kiểm tra xem. Đúng là đã 10 giờ tối.

Khu vườn có ánh trăng soi. Đó là một thứ ánh sáng đục, xanh xao và huyền ảo. Cơn mưa tôi phải hứng khi qua đèo ngày hôm trước nay đã được mặt trời ban ngày làm cho khô se nên đường sá rất tốt tuy ở đây, lớp rêu trong khu vườn nhỏ vẫn còn ẩm ướt.

“Chỗ này có mát hơn một tí!”. Người quản gia tháp tùng tôi thăm nhà vào đầu hôm đã nói như thế về khu vườn và lúc ấy tôi nhận ra có một chú cóc đang ngồi bất động, lâu lâu lại há miệng để đớp mấy con muỗi đáng ghét. Chợt nhớ đến chuyện đó, tôi đưa mắt nhìn về phía sau cái hõm đá chứa nước rửa tay thì không còn thấy gì cả.

Gian phòng 8 chiếu nhìn ra cái hành lang lợp mái mà tôi đang ở, có một khám thờ sơn mài màu đen nằm trong hốc tường, được trang trí bằng tranh sơn thủy kiểu bunjinga (văn nhân họa) (1) nhưng đã sẫm màu. Trên cánh cửa cuốn đằng trước và hoàn toàn sập kín, có thấy chép một bài thơ Đỗ Thiếu Lăng (Đỗ Phủ) bằng đại tự với nét bút rắn rỏi.

Tôi cảm thấy như có tiếng động bên tai và ngoảnh lại nhìn về phía sâu cuối căn phòng. Dưới ánh sáng vàng vọt của cái đèn đế bằng tre, tôi đọc được mấy chữ:”Hòa Khí Nhật Dung Dung” (Ngày ngày thanh thản bình an). Lúc đó, người quản gia mở cánh cửa kéo để vào phòng. Ông mặc trên người một cái hakama (quần rộng, thẳng nếp kiểu Nhật) và furukatabira (kimono kiểu xưa).

-Tôi đã trải đệm làm giường cho ông đằng đó rồi. Khi nào ông muốn nghỉ thì cứ sang đó nghỉ ạ.

-Tốt quá. Tôi chưa đi nằm ngay đâu. Tôi thấy giọng ông không phải của địa phương này?

-Vâng, đúng. Hồi còn trẻ, tôi có lên Tôkyô học nghề cho nên giọng nói của tôi hơi đổi.

Ông vừa trả lời tôi, vừa đưa tay gãi cái trán hói.

Sự yên lặng dần dần trùm lên căn phòng nhưng lại làm cho tôi nghe rõ hơn cái giọng nheo nhéo của người đàn bà. Thấy tôi tuy không cố tình mà vẫn phải vểnh tai lên, người lão bộc mới phân bua:

-Tôi thật không biết nói sao. Để ông bị quấy rầy quá thể.

Cách diễn tả và thái độ của ông không phải đãi bôi: ông có bối rối thật sự. Nhưng điều đó, ngược lại, đã làm tôi ngượng nghịu.Tuy vậy, càng nghe tiếng nói của người đàn bà kia, tôi càng thấy bên trong những lời than vãn ấy có cái gì kỳ lạ. Thế rồi không ngại mình bị xem là indiscret (2), tôi quyết định xin ông ấy cho biết người đàn bà đó là ai.

Tuy vậy, ông quản gia không biết gì về cái quyết định đang nẩy ra trong đầu của tôi nên chống bàn tay phải lên mặt chiếu để đứng dậy. Rồi quay mặt về phía tôi, ông lên tiếng:

-Ông có cần gì đặc biệt không ạ?

-Không, tôi không cần gì cả. Thế nhưng nếu không làm phiền ông thì cho phép tôi hỏi một câu.

-Xin ông chớ ngại. Muốn hỏi tôi điều chi cũng được.

Ông trả lời tôi và nán lại, ngồi xuống chiếu.

-Này ông ạ, tôi nghĩ ở vùng này, các ông các bà không có thói quen thức khuya vào mùa hè. Tôi không dám giữ ông để nói chuyện lâu đâu.

-Vâng, đây không phải là một quán trọ bình thường nên chúng tôi đi ngủ sớm. Thế nhưng đêm nay tôi phải thức suốt đêm để dự một “đêm tiễn đưa” người chết (thông dạ) (3).

-Thế à? “Đêm tiễn đưa” à? Trong nhà có người vừa mới mất không lâu ư?

-Vâng, đúng. Mai đây đúng 27 ngày bà cụ mẹ ông chủ tôi qua đời.

-Chết chửa? Lại có thêm một người ốm trong nhà như ông nói thì việc phải tiếp khách trọ hẳn là cực nhọc cho ông. Tôi thành thực xin lỗi. Nhưng giờ đây đã đến nơi rồi, tôi không biết làm gì khác hơn là xin phép ông cho tôi tiếp tục tá túc. Bên ngoài hành lang mát hơn, mình ra ngoài kia nói chuyện chắc tiện, ông nhỉ?

-Cảm ơn ông. Ông đến đây theo lời giới thiệu của quan tỉnh trưởng (4), đối với chúng tôi là một vinh dự lớn. Thực ra chỗ của chúng tôi không đủ tiện nghi để tiếp rước ông. Nhưng chúng tôi chỉ muốn nhân cơ hội này bày tỏ lòng tri ân về lòng ưu ái mà chính phủ xưa nay vẫn dành cho chúng tôi.

Vừa nói chuyện, người quản gia nhận ra là hương xông muỗi trong thố đất nung sắp tàn, bèn mở tủ lấy một thỏi hương mới. Để trả lời câu hỏi tôi đặt ra, ông bắt đầu kể câu chuyện sau đây.

* * *

Gia đình họ Hozumi xưa kia được xem như một trong ba gia đình giàu có nhất vùng.

Người cha đã quá cố của ông chủ nhà là một trong những kẻ đóng thuế nhiều nhất ở đây, đáng lẽ cụ đã được cử làm nghị viên của Quí Tộc Viện (5) nhưng vì lâm bệnh nên đã sớm lánh xa công chúng để sống một cuộc đời ẩn dật. Cụ ngưỡng mộ những người như Sakuma Shôzan (6), do đó mà cho đến khi nhắm mắt, cụ luôn giữ bên mình Seikenroku (Tỉnh Khiên Lục), tác phẩm của nhà chí sĩ. Người quản gia diễn tả như thế này: “đó là cuốn sách gồm những bài thơ viết toàn bằng một thứ chữ hình vuông” (chữ Nho).

Chí sĩ duy tân Sakuma Shôzan (1811-1864)

Tuy cụ thân sinh ông chủ là một Phật tử nhưng theo ý cụ thì từ rày trở đi, người Nhật bắt buộc phải tìm hiểu phương Tây tuy không đến nỗi cải hẳn sang đạo Gia-tô. Cụ đã đọc nhiều sách vở Gia-tô giáo nhưng lại cho rằng chúng đều hời hợt và không thể đọ được với sự thâm sâu của kinh điển nhà Phật. Ngay đối với người quản gia, lúc nào cụ chủ cũng nhắc đi nhắc lại tính ưu việt của đạo Phật. Cụ từng bảo không có gì đáng gọi là phức tạp. Cái quan trọng là đừng bao giờ quên “tứ ân” (aprmâna) (7). Tôi tự nhủ, à ra thế, chắc ông quản gia nhà ta xem “ơn chính quyền” – cũng là một nằm trong “bốn cái ơn” đó.

Bà cụ vợ ông chủ vốn là một người đàn bà hết sức dịu dàng, không bao giờ làm điều gì trái lời chồng. Cụ bà lúc nào cũng tử tế với kẻ ăn người ở và trước tiên đối với ông quản gia. Chính cụ là người vừa mất cách đây 27 ngày. Cụ bà sống dai, qua đời ở tuổi 80 và cho đến lúc chết, mỗi ngày đều bố thí 25 sen (tiền đồng) mỗi suất cho mười người ăn xin. Trong mấy năm gần đây, chính quyền hàng tổng đã có chính sách đi tìm những người ăn mày để gửi họ thay phiên nhau tới xin tiền cụ. Bọn người làm trong nhà, có kẻ vẫn nói lén, gọi họ là “những khách mời của bà cụ chủ nhà mình” tuy không cố tình cư xử làm tổn thương danh dự của người đến ăn xin.

Hai ông bà cụ xưa vẫn khổ sở than vãn là họ không được một mống con nào nhưng đến năm đầu thời Minh Trị (1868), bà có thai ở tuổi 40. Hai vợ chồng hết sức vui mừng. Còn ông thầy thuốc khoa sản được mời từ Nagano đến thì lại cuống lên vì ông chưa đở đẻ cho một người đàn bà nào có con lần đầu ở số tuổi ấy.

Tuy nhiên ông chủ trẻ bây giờ đã ra đời một cách suôn sẻ. Thời đó, người ta bắt đầu lập ra vài trường tiểu học và ông chủ trẻ được kể là một trong những người học trò ưu tú trên tỉnh mà ai cũng biết. Ông quản gia cho biết thêm là hồi đó, mình cũng còn trẻ và muốn học nghề buôn để giao dịch cho nhà chủ nên đã lên Tokyo và vào học việc ở một tiệm bán sỉ ở khu Nihonbashi. Đây là một cửa hàng mà nhà chủ của ông bấy giờ vẫn hay đi lại. Nói chung, trong nghề này, chẳng có ai chịu nhận một người học việc quá nhỏ tuổi nhưng nhờ có sự bảo lãnh của nhà chủ bây giờ, người ta đã chấp thuận cho ông vào thực tập.

Hồi đó là thời Chiến tranh Tây Nam (1877) (8), hãng ông giúp việc giàu có lên nhờ bán ba thứ lương thực cho quân đội của chính phủ. Cụ chủ định bụng một thời gian khoảng 4, 5 năm khi thấy đã thành thạo công việc, sẽ kiếm hộ ông người vợ rồi giúp mở tiệm con cho làm ăn riêng. Vừa lúc đó, cụ lại đột ngột qua đời ở tuổi 65 sau một cơn tai biến não. Khi sắp nhắm mắt cụ còn thì thào được một câu khó hiểu mà cụ bà đoán già đoán non là: “Gọi thằng Seikichi về giúp việc cho nhà mình”.

Không chút lưỡng lự, Seikichi đã về lại quê hương. Bà góa phụ của cụ chủ nhà lúc đó khoảng 50 tuổi nhưng cậu con trai đã lên học trung học ở Nagano. Từ ấy, Seikichi dành hết thời giờ công sức để phục vụ cho gia đình Hozumi và tiếp tục sống đời độc thân.

Cậu chủ hiện tại hồi trẻ có vẻ là người có tương lai nhưng khi lớn lên thì biểu lộ bản tính nhu nhược. Tuy vậy, thành tích học hành của cậu tốt và mẹ của cậu cũng cố gắng thỏa nguyện ước mong của chồng mình là làm sao để con trai học xong cử nhân. Cậu đến trọ ở ngôi chùa mà thày trụ trì là người quen biết với bố mình ngày xưa. Thời trung học, cứ mỗi dịp nghĩ hè hay tết nhất, cậu lại về nhà chơi và mỗi lần như thế, người mẹ rất đỗi vui mừng.

Thế nhưng cũng vào khoảng đó, nơi cậu chủ trẻ bắt đầu lộ ra nhiều vấn đề sức khỏe. Mỗi lần gắng học một chút là cậu bị chóng mặt kinh khủng, suýt ngất đến nơi. Chuyện đó có khi xảy đến ngay giữa giảng đường và một bạn học phải tháp tùng cậu về tận cửa chùa.

Nhưng rồi cậu cũng xong được bậc trung học dù có khó nhọc đôi chút. Sau đó cậu lên Tokyo nhưng trượt mấy lần khi thi vào bậc cao đẳng các trường công lập, thành ra tính tình càng ngày càng dễ cáu kỉnh. Để khỏi mất thời giờ vô ích, người ta khuyên cậu ghi danh ở tư thục Waseda (9). Cậu đồng ý ghi danh vào trường này nhưng học hành không mấy nhiệt tình.

Ít lâu sau, đến tuổi quân dịch, cậu định tình nguyện đăng lính một năm nhưng bị từ khước khi khám sức khỏe vì không đủ tiêu chuẩn. Cậu lãnh bằng tốt nghiệp Waseda đúng cái năm cuộc chiến tranhTrung Nhật bùng nổ (1937) và lên đường về quê.

Cậu bắt đầu được Seikichi đánh giá như một người đàn ông trưởng thành. Người quản gia muốn bàn với cậu chuyện nhà chuyện cửa, điều mà xưa nay ông chỉ thưa với mẹ của cậu và hầu như chỉ cho có lệ. Theo lời người quản gia, cậu đã bảo ông:

- Chú Seikichi ạ! Tôi tin tưởng chú. Chú đã quen việc cho đến nay thì cứ thế mà tiếp tục.

Seikichi muốn tìm hiểu cậu chủ của mình có đam mê gì đặc biệt hay chăng nhưng dù để ý quan sát, ông vẫn không thấy. Cậu chỉ có vẻ lo chăm sóc người mẹ nay đã ngoài 60 và để Seikichi quản lý việc trong nhà theo ý ông ta. Seikichi nghĩ rằng nếu cậu chủ tin cậy mà phó mặc cho mình điều hành mọi việc thì quả là tốt nhưng thái độ đó đã khiến cho công việc mình làm chẳng còn gì gọi là hứng thú.

Có điều đáng ngạc nhiên là một năm sau khi về nhà, ở cái tuổi 24, cậu chủ đã lập gia đình với một người con gái mà nay vẫn là vợ của mình. Cô ấy xuất thân từ một gia đình cố cựu, tuy không giàu có bằng nhà Hozumi nhưng cũng thuộc hạng danh giá trong vùng. Cô theo học ở một trường cao đẳng nữ học trên Tôkyô và đã tốt nghiệp. Một người dân Echigo (10) có dịp gặp cô, cho biết là con gái trong vùng của họ đều nổi tiếng xinh đẹp nhưng chưa thấy ai đẹp qua mặt được O-toyo, tên cô gái ấy. Khi cô còn bé, cậu chủ nhà Hozumi có lần gặp cô trong vài kỳ lễ hội. Người ta thường trêu, xem cậu Chitaru và cô O-toyo như một cặp đôi hoàn hảo. Gia đình hai bên lúc đó chưa tính toán chuyện gì nhưng khi thấy O-toyo lên Tôkyô, thiên hạ đồn thổi rằng cô lên thủ đô học là vì không chịu thua, muốn mình phải xứng đáng với địa vị vợ tương lai của người con trai như cậu Chitaru. Năm 18 tuổi, cô về quê gần như đồng thời với chuyến hồi hương của cậu con trai .Thành thử việc họ trở thành vợ chồng được xem như là không tránh khỏi, nó là kết quả của sự thúc đẩy bởi dư luận bao chung quanh họ. Khi được mẹ hỏi nghĩ thế nào về đám này thì cậu chủ trả lời là “Sao cũng được !”. Phần bà mẹ, bà cứ nghĩ con mình là người từng sống nơi đô hội ăn chơi mà chưa hề có chuyện tình ái với một phụ nữ nào nên vui mừng xem câu trả lời “Sao cũng được !” của một con người kỹ tính như cậu là một sự đồng ý. Sau đó, bà bắt đầu tiến hành mọi việc. Bên nhà gái đang chờ đợi và không ao ước chi hơn. Ngoài ra, những người mai mối đã báo lại cho gia đình Hozumi biết là cô gái cũng trông mong điều đó. Khi việc đi coi mắt giữa hai họ được dàn xếp thì trên báo chí ở vùng Nagano, sự kết hợp này được xem như là một mối lương duyên. Cánh nhà Hozumi đã đành nhưng cả thiên hạ dù chẳng dính líu gì đến cũng chộn rộn ầm ĩ, kẻ chúc mừng, người ganh tỵ với đôi tân hôn. Riêng lão quản gia Seikichi là người duy nhất đang lo lắng vì ông nhận ra trong phản ứng của cậu chủ trẻ có cái gì không ổn. Có lẽ vì ông nhớ lại thời còn ở Tôkyô, cụ chủ trước cũng từng nghĩ đến chuyện kiếm vợ cho ông. Lúc đó, Seikichi đã 35 tuổi. Nhân vì đang cật lực làm việc kiếm ăn, nghe nói tới đàn bà là trống ngực đập thình thình, chỉ đến khi mọi việc qua rồi mới lấy lại bình tĩnh. Đó là mới nghe nói đến chuyện họ sẽ kiếm vợ cho mình thôi đấy. Trong khi chưa biết người đàn bà ấy là ai và từ đâu đến, ông đã hốt hoảng như vậy suốt hai ba bữa, chẳng làm được gì nên hồn. Nay bà mẹ của cậu chủ nghe con nói “Sao cũng được” đã vội nghĩ là con mình đã kín đáo bằng lòng. Tuy nhiên, theo cách nhìn của Seikichi thì cậu chủ muốn trình bày một sự thực khác: “Việc nhà đối với tôi ra sao cũng được. Chuyện vợ con đối với tôi thế nào cũng xong!”. Tuy Seikichi không mong nó sẽ xảy ra nhưng nghĩ chắc mỗi mình là thấy được ý nghĩa đó đằng sau lời cậu chủ phát biểu.

Đám cưới đã diễn ra êm thắm nhưng một chuyện lạ đã xảy ra vào sáng hôm sau, khi người trong nhà dọn bữa điểm tâm. Cho đến hôm đó, bà chủ và cậu chủ trẻ thường được sắp ngồi ở hai chỗ bên trên. Seikichi cũng ăn một lượt trong cùng một gian với họ nhưng ông ngồi ở bên dưới. Đây là một nghi thức cố hữu đã có từ thời ông chủ trước. Với lời dặn dò trước khi nhắm mắt, ông đã nâng cao vai trò của Seikichi, không coi như hàng tôi tớ và người vợ góa của ông cứ thế mà theo. Vì là đàn bà góa và đã ngoại 60 nên bà không ngại ngùng chi chuyện đó. Trong thân tộc cũng có kẻ lắm mồm nhưng không thấy ai dám mở miệng dị nghị. Sáng hôm ấy, cậu chủ trẻ ngồi ở chính giữa mẹ và vợ, còn hai người thì mỗi người một góc. Như bằng lòng vì tìm được một cô dâu xinh đẹp, bà chủ vui vẻ nói chuyện với con trai. Cậu ta cũng đáp lại. Duy cô dâu mới là cứ cúi mặt ngồi nghe, thế rồi, sau khi gắp qua loa vài miếng, đã lặng lẽ rời khỏi chỗ trước mọi người. Seikichi nhìn thấy thế mới nghĩ rằng cô ta muốn rời căn phòng vì ngại ngùng một chuyện gì. Và chắc bà mẹ lẫn chồng cô đều chia sẻ cảm giác ấy.

Trong bữa trưa và bữa chiều, cảnh tượng nói trên lại tiếp tục xảy ra: cô dâu rời phòng ăn trước mọi người. Thế rồi sang ngày hôm sau, lấy cớ phải làm nốt việc gì đó, cô ra ăn cơm trễ. Khi cậu chủ đích thân hỏi lý do, cô mới cho biết mình không thích đối thoại với mẹ chồng. Tuy nhiên, nói chuyện trong bữa ăn là một tập quán của gia đình Hozumi. Giữa bữa cơm, họ phải kể cho nhau nghe những điều tốt đẹp hoặc những câu nói hay ho nghe thấy trong chòm xóm. Chính ông chủ trước là người đã đề xướng nghi thức này. Nó đi ngược lại với những tin lặt vặt kiểu “từ thành đến tỉnh” thường thấy trong mấy tờ báo lá cải. Những khi không có một sự kiện nào lạ lùng xảy ra thì họ sẽ kể cho nhau nghe về một câu chuyện được chép lại trong sách vở. Vì thế mỗi khi nghe ai kể lại một câu chuyện hay được đọc nó từ trong quyển sách nào hôm trước, họ đều mở mắt giương tai để nhớ cho kỹ, chuẩn bị đề tài trình bày trong bữa cơm.

Cậu chủ cũng lấy làm lạ về thái độ của người vợ. Vẫn biết là có những người không bị lôi cuốn bởi những điều hay, cái đẹp. Nhưng đây lại là thái độ đơn thuần không muốn nghe nói tới nó! Những câu chuyện kia nào đến nỗi khó chịu để mà không chấp nhận. Rốt cuộc cậu chủ đã hỏi thẳng vợ mình lý do của sự thiếu sự bao dung này. Hình như nàng trả lời rằng mình đã không thể nào chịu được tính cách ngụy thiện toát ra từ những câu chuyện đó.

Sau khi nghe được cái chữ cuối cùng nàng dâu đã dùng, bà chủ bèn trở nên ít lời và giữ khoảng cách. Khi người ta không có quyền nói thì ham muốn được bày tỏ sẽ tăng thêm và đấy là bản chất của con người. Thế nhưng bà chủ đã dồn nén cái khuynh hướng thông thường này. Dần dần sự dồn nén trở thành thói quen và bà không còn muốn trò chuyện nữa.

Từ đó, ngôi nhà của họ Hozumi trở thành một nơi câm lặng.

* * *

Khi lão quản gia Seikichi vừa kể đến đây thì bỗng có ai mở cánh cửa kéo – mà từ lúc nãy, ông ấy cũng từ bên trong bước ra và là nơi có treo mấy chữ “Hòa Khí Nhật Dung Dung” - rồi một người đi vào phòng.

Trước mắt tôi lúc đó là một người đàn ông ở tuổi trên 40, dáng dấp thanh lịch. Ông mặt một chiếc kimono kiểu Satsuma-gasuri xanh đậm có đính hoa văn và một cái áo khoác nhẹ bằng lụa đen. Ông ta bắt đầu nói chuyện với một cái giọng lên xuống bất chợt của một người tinh thần không được ổn định.

“Tôi tên là Hozumi Chitari, chủ nhân của ngôi nhà này. Xin lỗi giáo sư (11), tôi đã không đến chào dù ông là thượng khách của chúng tôi. Tôi lại đường đột bước vào phòng ông giữa lúc này. Chắc ông không khỏi cảm thấy có gì quái lạ. Nhưng vì từ hai tuần nay, cuộc sống của tôi bị xáo trộn, tôi phải tĩnh dưỡng. Khi trên quận chuyển thông tri của tòa tỉnh hỏi chúng tôi có thể tiếp rước ông không, chúng tôi đã định thoái thác vì nhà đang có tang. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, nhiều chuyện không may dồn dập đến với gia đình chúng tôi, ngay chú Seikichi đây cũng bị lao đao nên chú ấy mới khuyên tôi nên lợi dụng sự có mặt của ông để được nghe lời chỉ dạy. Vì vậy tôi mới chấp nhận lời đề nghị ấy cho dù tôi chỉ e nó sẽ làm nhọc lòng ông. Chú Seikichi chắc đã quấy rầy tai ông với câu chuyện của gia đình chúng tôi rồi thì phải. Gia đình chúng tôi đang lâm vào một tình huống bi thảm. Nãy giờ tôi tạm lánh mặt ở phòng bên cạnh. Một người có giáo dục không nghe lén ngoài cửa, ông nhỉ. Nhưng vì tôi đã không ra đón khi ông vừa tới nên tôi sợ mình xuất hiện bất chợt sẽ thiếu lịch sự nên đã chần chờ. Chú Seikichi chắc đã kể ông nghe là từ hồi nhỏ, mẹ tôi đã tận tụy, lao khổ vì tôi. Thế mà tôi đã để bà chết mòn trong căn nhà u ám này. Nói về mặt vật chất thì tôi đã hết lòng phụng dưỡng bà nhưng dù sao trong ngày cuối đời, mẹ tôi đã phải buồn khổ vì vợ tôi và tôi. Người chung quanh có thể nói tại sao tôi không bỏ vợ cho xong nhưng thật ra điều ấy đâu dễ gì thực hiện. Dĩ nhiên tôi có thể viện cớ là vợ tôi không hề sinh đẻ trong ngần ấy năm. Tuy nhiên, trong thời đại này, có muốn gì cũng phải dựa vào bộ Dân Luật chứ đâu thể làm càn. Vợ tôi không làm gì đáng tội. Cô ấy chỉ không thuận thảo với mẹ tôi thôi nhưng đó không phải là một lý do đặc biệt để dẫn tới ly hôn. Hơn nữa, dù tôi có đòi ly hôn, chưa chắc cô ấy đã đồng ý. Theo cô ấy, hãy để thời gian làm việc, mọi sự sẽ an bài thôi. Khi cô ấy còn giữ lập trường như vậy thì gia đình ông bà nhạc tôi cũng sẽ từ chối đề nghị của tôi dù tôi năn nỉ họ đến đâu đi nữa. Và tại sao tôi lại phải thúc bách họ ? Tôi không tìm ra lý do chính đáng nào khác. Tòa án cũng sẽ không nghe tôi. Rồi còn cái gọi là tai tiếng nữa chứ. Gia đình chúng tôi là một gia đình cố cựu, danh giá trong toàn cõi Shinshuu này. Tôi không muốn tên tuổi chúng tôi bị bêu trên mặt báo. Cuối cùng, chuyện này đã kéo dài từ 15 năm nay rồi. Chú Seikichi, tuy già yếu nhưng đã cáng đáng công việc nhà chúng tôi, không hé môi nửa lời, cho dù trong thâm tâm, có lẽ chú nghĩ rằng tôi bị vợ mê hoặc. Thế nhưng điều đó là sai vì cô ấy không có quyền lực gì trên tôi cả. Điều người ta chỉ trích mà tôi có thể chấp nhận là việc tôi thiếu ý chí và sự quyết đoán. Có lẽ vì tôi không lập ra được kế hoạch cho cuộc đời mình. Tôi đã quá đau yếu để có sức ghi danh vào Đại Học nhưng tôi cũng đã theo được một số môn. Ví bằng tôi tìm được một đường lối nhất quán để xây đắp một cơ sở cho cuộc sống, nếu tôi dám hy sinh tất cả để thực hiện cho được nó thì có lẽ tôi đã tìm ra giải pháp khắc phục được những khó khăn của đời mình rồi. Do đó, tôi phải bỏ ngoài tai những lời bàn tán của thiên hạ, dù oan hay ưng.Tôi phải làm ngơ trước cái chết của người khác và ngay của chính tôi. Chắc chỉ lúc đó tôi mới tìm được một giải pháp đúng đắn. Nếu không như thế, tôi còn phải lòng vòng, không thấy lối ra. Rốt cuộc là mẹ tôi chết. Và vì cứ kéo dài mãi vấn đề, vợ tôi cũng đã hóa điên. Riêng tôi thì không biết từ đây mình sẽ ra sao!”

Ông chủ nhìn tôi đăm đăm với đôi mắt đỏ ngầu. Tôi rợn người. Còn ông lão Seikichi thì chỉ biết khoanh tay, cúi đầu. Đồng hồ lúc đó đổ 11 tiếng.

Tôi hỏi ông:

-Thế thì tiếng nói tôi nghe nãy giờ là tiếng của bà nhà đấy à?

-Vâng, ngày nào cô ấy cũng lảm nhảm như thế đến 11 giờ đêm. Cô ta nói không ngừng như một người đang thuyết minh về một cảnh tượng gì hay một huyễn ảnh nào đó. Cô ấy nói không nghỉ cho đến khi kiệt sức.

-Thế à? Theo lời bác Seikichi thì lý do của sự việc đó đã bắt đầu từ khi bà nhà cho rằng việc kể lại những câu chuyện hay, những lời nói đẹp chỉ là vô nghĩa. Nhưng tại sao bà nhà lại có ý tưởng đó chứ?

-Chuyện hết sức vô lý, ông ạ. Thế nhưng theo vợ tôi thì cả nhân loại không có lấy một con người chân chính. Nếu có ai được như thế thì người đó sẽ bị mất hút trong đám đông, hay chỉ xuất hiện một lần trong một trăm năm, hoặc một nghìn năm. Chúng ta khó lòng gặp gỡ người ấy trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Con người khi nói hay làm một điều tốt đều là để phục vụ cho tư lợi. Họ bần tiện lắm. Trong thực tế, thiên hạ chỉ chạy theo cái ác. Không có gì để tự đắc và tốt nhất mọi người nên câm mồm. Bởi vì con người ta chỉ thành thật khi nói lên một điều ác: chỉ có lúc đó họ mới không ngụy thiện và không ti tiện. Khi nghe cô ấy và nhìn cô ấy trình bày những điều nói trên với cái giọng nhỏ nhẹ và vẻ mặt xinh xắn, tôi thấy những gì cô nói tuy ngờ nghệch nhưng ít nhất có gì hết sức là đúng. Trong khoảng thời gian ấy, đã xảy ra một sự việc lạ lùng. Năm ngoái, một người bạn thân tôi quen ở Tôkyô hồi còn đi học, đi nghỉ mát ở suối nước nóng gần nơi tôi ở và nhân đó, ghé qua nhà tôi ngủ lại. Anh đã kể câu chuyện như thế này. Số là anh đã lập gia đình và có nhiều con. Thế nhưng vợ anh là người không chấp nhận một thứ authority (quyền uy) nào cả và không chịu nghe theo những điều anh bảo cô ta. Anh ta nhiều lần cho rằng thái độ của cô là thất kính với bố mẹ anh, với thiên hoàng, với thần thánh và Trời Phật, nhưng anh không làm sao để cô thay đổi dù chỉ là một dấu phẩy. Anh ấy nghĩ các cô tân thời theo học trong nhà trường đã nhiễm phải đầu óc bất phục tùng của bọn chủ trương vô chính phủ và bọn theo khuynh hướng xã hội. Khi nghe anh nói, tôi tự nhủ anh này chưa chi đã vội rút ra những kết luận quá cực đoan nhưng sau khi suy nghĩ, tôi cho là vợ của tôi, cũng như cô vợ người bạn là loại người từ chối mọi thứ quyền uy. Phải chăng ngày nay, như các loài động vật, giới phụ nữ cũng phải tranh đấu chống lại bất cứ cái gì để sống còn? Làm sao họ đã phải đi đến nước này?

-Nếu chúng mình buông xuôi thì chuyện đó sẽ xảy ra thôi. Bản chất của bọn trẻ con khi vừa mới lọt lòng, nếu không egoiste (ích kỷ) thì là gì nào ?

-Thế nhưng tại sao họ lại khác đàn ông nhỉ?

-Dù nói gì đi nữa, theo tôi thì ở nơi người đàn ông, lý trí bao giờ cũng thắng. Có đúng không ạ? Ông vừa mới nói là ông không có một nhân sinh quan nhưng cho dù ông bảo là mình không có nó thì trong cuộc sống, ông vẫn biết phân biệt điều hơn lẽ thiệt chứ. Ông biết là nếu mình để cho sự ích kỷ dẫn đường thì sẽ đánh mất lập trường. Không chấp nhận dogma (giáo điều) và cũng không cần tuân thủ bất cứ sự ngăn cấm nào nhưng một khi đã biết tính toán hơn thiệt thì con người sẽ không làm chuyện xằng bậy. Đối với những người đàn bà thiên về lý trí, mọi sự cũng sẽ xảy ra một cách tương tự. Chỉ có điều là con số đàn bà như vậy không nhiều. Nếu người đời biết tính toán hơn thiệt họ sẽ không làm những chuyện xằng bậy. Người ta đã nói ầm lên về Bài Giảng Trên Núi (12) của Chúa Ki-tô nhưng thử hỏi bài giảng ấy muốn nói lên điều gì nếu không là dạy con người phải biết cân nhắc hơn thiệt hay sao?

-Có thể lắm. Một đứa bé bị những vật có màu đỏ kích thích, có khi cho tay chụp lấy lửa. Cũng giống như bọn trẻ con, phải chăng đàn bà thường bị những ham muốn ích kỷ của họ lôi kéo đến nỗi tự hũy diệt?

-Vâng, đại khái là thế. Mình đành phải để mặc trẻ con khóc và làm sao cho nó đừng đưa tay sờ vào lửa. Chúng ta không thể xử lý chuyện trẻ con cùng một kiểu với chuyện người lớn. Người theo chủ nghĩa vô chính phủ hay chủ nghĩa xã hội đã nhầm khi đánh đồng những kẻ nằm tận dưới đáy xã hội với những kẻ thông minh và có lý trí. Do đó, việc phổ thông đầu phiếu hãy còn lắm vấn đề. Nguyên tắc chính trị dựa trên đa số có thể bị bãi bỏ nếu người ta tìm được một giải pháp tốt hơn để thế vào chỗ nó. Lý tưởng égalité (bình đẳng) cũng sai lầm từ căn bản. Cần phải dùng đến võ lực để ngăn ngừa không cho đám đàn bà kia tự hũy hoại bởi vì họ là những người không biết nhìn xa hơn đầu mũi của mình!

-Giáo sư thật bụng nghĩ như thế sao? Tôi nghe nói ở bên Đức, thày giáo có quyền phét đít học trò và tôi lại được biết thêm là các ông chồng có quyền đánh vợ. Nếu suy nghĩ kiểu như giáo sư thì chắc giáo sư cũng không chống đối việc đó?

Tôi bất giác mỉm cười:

-Tôi không ăn nói quá khích đến mức độ như vậy. Tôi nghe là trong một tờ báo Pháp, có ai từng ca tụng hình phạt bằng roi của người Anh đem đến hiệu quả tốt. Thấy thế, Bernard Shaw (13) đã sử dụng quyền trả lời để phản bác ngay. Thể phạt hay cách dạy bằng roi vọt là một giải pháp bất bình thường và không thể nào đem chuyện đó thảo thành luật lệ chỉ vì lý do mình đang ở trong cương vị một ông thày hay người chồng!

-Tôi hiểu chứ! Thế nhưng trong trường hợp của tôi, nếu tôi có quyết tâm vững chắc là tẩn cho nhà tôi một trận mỗi khi cần thiết thì chắc cô ấy không trở thành con người đáng thương như bây giờ đâu. Than ôi, cái chết của mẹ tôi đã làm tôi khổ tâm nhưng tình trạng hiện tại của vợ tôi thì... tôi biết nói thế nào đây?

Ông chủ im lặng suy tư. Tôi bạo dạn hỏi:

-Những diễn tiến nào đã đưa bà nhà đến tình cảnh này vậy, thưa ông chủ?

Ông lão Seikichi nãy giờ cứ khoanh tay, chống tay xuống chiếu và lết bằng đầu gối đến gần tôi và bảo:

-Chúng tôi phải thưa thực là khi biết được ông là giáo sư y khoa, chúng tôi nghĩ mình có thể nhờ ông cố vấn cho một vấn đề trong thời gian ông ghé qua đây. Chuyện ấy đã xảy ra vào ngày thứ bảy sau khi cụ bà nhà chúng tôi tạ thế. Khi cô chủ tôi đến gần bàn thờ để thắp hương, bỗng thấy có một con rắn đang cuộn tròn, đầu hướng về phía cô và nhìn thẳng vào mắt. Cô chủ hô hoán lên và ngã lăn ra, rồi từ đó, cô đã ở trong tình trạng như ông vừa thấy. Chúng tôi kinh hãi nhưng may có kẻ trong đám giúp việc mời được một người biết bắt rắn. Ông ta đến nắm lấy nó và ném ra ngoài cánh đồng. Cậu chủ tôi có học môn khoa học tự nhiên nên cho biết rằng loài rắn vốn nhạy cảm với sự thay đổi của áp suất không khí. Có lẽ nhân lúc đó một cơn bão sắp kéo tới nên nó đã rời hang ổ mà vào ẩn bên trong nhà dân. Hoàn toàn là chuyện ngẫu nhiên nếu như nó xuất hiện trên bàn thờ người chết. Thế nhưng hôm sau buổi lễ, khi xem xét bàn thờ, chúng tôi đã thấy nó đã trở lại nằm đúng ngay chỗ cũ. Lần thứ hai này, phải nói là tôi vô cùng kinh ngạc. Chúng tôi không muốn cho kẻ ăn người ở đem việc này tiết lộ ra ngoài. Hình như từ mấy hôm trước, họ đã thì thầm với nhau rằng cô chủ tôi có vấn đề tâm thần vì đã bị trời phạt về thái độ ăn ở không tốt đối với mẹ chồng. Nếu chuyện này vỡ lỡ và vào tai người ngoài, không biết họ còn đặt điều đến đâu! Do đó tôi muốn chắn cái lối đi vào căn phòng có bàn thờ. Tôi đem chuyện này bàn ngay với cậu chủ nhưng cậu cho biết là không muốn đụng vào con vật gớm ghiếc đó và nghĩ rằng bề gì trước sau nó sẽ tự bỏ đi thôi. Tôi lo mình sẽ bị đánh giá là mê tín và phần khác, có hơi mắc cỡ vì lạm dụng lòng tốt của giáo sư, nhưng tôi xin phép ông cho nghe ý kiến của ông, giáo sư ạ.

Cậu chủ vẫn giữ im lặng, mặt mày có vẻ khổ sở. Tôi mới hỏi ông quản gia:

-Con vật vẫn còn nằm nguyên ở đó?

-Thưa vâng, nó còn nằm đấy, không động đậy.

-Thế à...?

Tôi vứt điếu xì gà đang hút trong suốt buổi nói chuyện và đứng dậy:

-Để tôi đến xem thử.

Ông ta đưa tôi đến nơi. Khi vào bên trong gian thờ Phật ấy, tôi nhận ra một cái bàn thờ thật hoành tráng, chiều dài hơn 3,5m, trên đó có thắp vài ngọn nến sáng lung linh và một lò hương bằng đồng đang tỏa khói. Ở giữa bàn thờ là tấm linh vị màu trắng của người vừa khuất. Nhìn ra đằng sau chỗ cắm hương, tôi thấy đúng là có một con rắn.

Ấy là một con aodaishô (mà tên khoa học là) elaphe climacophora (14). Người nó thật béo tốt nếu không nói là phì nộn. Thân mình dù đã cuộn tròn mà vẫn còn kéo lê ra một cái đuôi dài khoảng 15 cm.

Tôi đưa mắt nhìn lên trần nhà phía trên bàn thờ. Bàn thờ này rất rộng, được đóng bằng những thanh gỗ hinoki (15) thật đẹp. Tuy vậy, vì dùng mãi lâu ngày, nó đã đổi sang màu đen sậm.

Ông lão quản gia ngồi xuống và lẩm nhẩm niệm Phật. Ông chủ nhà bước đi như somnambule (kẻ mộng du) vào trong phòng và đứng sau lưng chúng tôi, thần trí như để đâu đâu.

-Trong nhà này có kho gạo nào không nhỉ?

-Có ạ, nó nằm ở cuối hành lang, chỗ nhìn sang phòng bên cạnh đấy, thưa ông.

Aodaishô

-Thế thì con rắn đã đến từ chỗ đó. Các loài động vật hay hành động theo thói quen. Khi đã từng ở một chỗ nào rồi, chúng thường trở lại nơi đó. Có đuổi bao nhiêu lượt, con rắn cũng sẽ trở lại “ngôi nhà”, nơi nó đã quen thuộc. Chẳng có gì đáng gọi là lạ lùng.Tôi sẽ bứng nó đi cho các ông coi.

Ông lão quản gia tròn xoe đôi mắt, kinh ngạc:

-Nếu vậy, cho phép tôi gọi đứa nhỏ nào đó tới.

-Không, các ông đã xử sự đúng đắn khi không cho những em trẻ nhìn lại con rắn. Tôi thừa sức bắt nó mà! Nếu như nó có nọc độc, tôi phải dùng một cây gậy đầu nhọn. Tôi sẽ dùng đầu gậy để chận cần cổ rồi từ đó, cuộn lấy thân nó chung quanh gậy, lấy tay bóp ngay dưới cổ mà bắt. Nhưng con rắn này chẳng qua là một con aodaishô hiền lành, vô hại, tay không thôi cũng đủ. Này, ở chỗ để hành lý của tôi, có một cái xách tay của dân đi câu. Trong đó tôi có cái giỏ con người ta mới cho hôm qua để đựng cá. Cảm phiền ông đi lấy nó đến đây, được không ạ?

Ông lão bèn đi lấy ngay và đem về cho tôi.

Tôi nắm lấy con rắn, đưa lên cao và chìa nó ra cho hai người thấy. Con vật ngỏng đầu , thân hình vặn vẹo như một sợi giây thừng bị xoắn lại nhưng không cách gì mà cắn được tôi. Tôi bèn bỏ con rắn vào trong giỏ và đóng lại.

Thì vừa lúc đó, có tiếng đồng hồ đánh mười hai tiếng, báo hiệu nửa đêm.

* * *

Ngày hôm sau, trước khi ra đi, tôi có nghĩ đến việc hỏi thăm ai là người thày thuốc đang chữa trị cho bà vợ ông chủ. Họ bảo đó là một bác sĩ từ Nagano, thế nhưng chuyên môn của ông không phải là khoa tâm thần. Nhân gia đình chủ nhân khá giả, tôi mới khuyên họ phải mời ngay một bác sĩ chuyên khoa từ Tôkyô lên.

Tháng 1/ 1911

M.O.

Dịch xong tại Tôkyô ngày 21 tháng 8 năm 2018 (NNT)

Chú Thích:

(1) Bunjinga: Văn nhân họa, còn gọi là Nam (tông) họa, một thú tiêu khiển của văn nhân, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Thường là loại tranh thủy mặc. Chú trọng đến thần khí, sự phong nhã hơn là kỹ xảo. Cuối đời Minh có Đổng Kỳ Xương là người nổi tiếng.

(2) Indiscret: Nguyên văn tiếng Pháp trong tác phẩm, có nghĩa là tò mò, thiếu tế nhị. Kể từ đây, các chữ có nguồn gốc Pháp, Anh, Đức...đều viết bằng nguyên văn và chua âm katakana như thế cả.

(3) Thông dạ: Thức trắng đêm để ở bên cạnh và tiễn đưa người mới chết. Một tập tục Nhật Bản (tsuuya)

(4) Tỉnh trưởng: Ôgai được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương vì bấy giờ ông đã đóng một vai trò lãnh đạo trong ngành quân y.

(5) Quí Tộc Viện: Giống như Tham nghị viện (Senate) tức viện trên, không do dân bầu (như Mỹ) nhưng được tuyển từ những nhà quí tộc hay người đóng thuế nhiều. Dĩ nhiên định chế này ngày nay đã bị thay thế.

(6) Sakuma Shôzan (1811-1864):Một chí sĩ duy tân tên tuổi, một nhà khoa học, rành về binh pháp, quốc phòng, người vùng Shinshuu, đồng hương với nhân vật trong truyện. Chết vì bị ám sát. Ông có tác phẩm Seikenroku (Tỉnh Khiên Lục), ghi chép những điều ông phản tỉnh.

(7) Tứ ân: Chữ nhà Phật nói về 4 cái ơn lớn mà con người thụ hưởng: ơn cha mẹ, ơn vua, ơn chúng sinh (xã hội), ơn tam bảo.

(8) Chiến tranh Tây Nam:Trận chiến tranh đánh dẹp cuộc nổi dậy của giới sĩ tộc vùng Kagoshima năm 1877, lãnh đạo bởi một cựu công thần thời Duy Tân, Saigô Takamori (1827-1877). Saigô thua quân triều đình và phải tự sát.

(9) Waseda: Đại học nổi tiếng ở Tôkyô ngày nay. Trước 1902 thì nó chưa được gọi là đại học.

(10) Echigo: Tên cũ của vùng Niigata, tiếp giáp với phía bắc Shinshuu (tên cũ của Nagano).Như thế, vợ của cậu chủ là người vùng bên.

(11) Sensei trong nguyên tác có nghĩa là Tiên sinh / Giáo sư./ Bác sĩ, nói chung là một người đáng kính trọng. Hình như Ôgai đã được trên tỉnh giới thiệu với nhà chủ như một giáo sư hay người có thẩm quyền về ngành y.

(12) Bài Giảng Trên Núi (Sermon on the Mount): Bài giảng dài về luân lý cơ bản trong sinh hoạt của người tín hữu bởi Đức Chúa Jesus trên một ngọn núi trước đoàn dân đông. Được nói đến trong Kinh Thánh Tân Ước (Tin lành theo Thánh Ma-thi-ơ, các đoạn 5, 6 và 7).

(13) Bernard Shaw (1856-1950): Nhà văn, kịch tác gia, phê bình gia gốc Ái Nhĩ Lan, giải Nobel văn chương, một bộ óc khôi hài và tinh tế.

(14) Aodaishô: (Japanese rat snake). Một loại rắn có thể dài từ 1,5m đến 2 m và không nọc độc. Chủ yếu là màu đen nhưng đôi khi pha thêm vằn xanh hay vàng. Nuôi sống bằng ếch, nhái, trứng chim, chuột. Thường chui vào nhà dân. Một giống rắn quen thuộc đối với người dân Nhật.

(15) Hinoki: cây bách Nhật Bản, một thứ gỗ quí có hương thơm thoang thoảng, dùng vào việc xây cất, lát sàn và đóng đồ dùng trong nhà.

Thư mục tham khảo:

1) Mori Ôgai, Mori Ôgai-shuu - Bungô kaidan kessakusen - (Tuyển tập truyện kinh dị của văn hào Mori Ôgai), Higashi Masao chọn lọc, Nxb Chikuma (Tokyo, 2006) từ trang 261 đến trang 280.

2) Mori Ôgai, Chimères (Vọng tưởng), tuyển tập 5 truyện ngắn Mori Ôgai dịch sang tiếng Pháp bởi Ryôji Nakamura và René de Ceccaty, Collection Rivage Poche, Petite Bibliothèque, Paris 2012. Le Serpent (Con Rắn) từ trang 119 đến trang 148.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com