|
ÔNG TIÊN VÀ NGƯỜI DIỄN TRÒ
(Sennin, 1915)
Thượng
Không biết truyện xảy ra hồi nào. Chỉ biết lúc đó ở miền
bắc Chi Na (Trung Quốc), có một anh chàng tên Lý Tiểu Nhị.
Anh ta lặn lội từ vùng này qua vùng khác diễn trò ngoài
trời. Anh có nuôi mấy con chuột để đóng kịch. Gia tài của
người diễn trò không có gì ngoài một túi vải chứa bầy
chuột, cái rương nhỏ đựng y trang và mặt nạ dành cho chúng
cũng như một sạp gỗ mà anh sử dụng như cái sân khấu con
con.
Hôm nào trời đẹp, anh ra ngoài ngã tư đường, nơi nhiều người
qua lại. Trước tiên, anh kéo cái sạp gỗ dùng làm sân khấu
lên vai, gõ vào mặt trống và hát dăm câu chiêu khách. Chỗ
thị tứ thường lắm kẻ hiếu kỳ cho nên từ người lớn đến
trẻ em, khi nghe lời mời mọc của anh, không ai mà không dừng
bước. Khi mọi người đã đứng thành vòng rào, Lý mới bắt
đầu đem một con chuột ra, mặc quần áo và mang mặt nạ cho
rồi thả theo con đường hông (kimonmichi) (1) để nó leo
lên sân khấu. Con chuột đã thành thạo nên đi đứng vững vàng
trên ấy . Nó quẩy hai ba lần cái đuôi bóng như giải tơ trên
mông rồi trong chốc lát, tựa vào hai chân sau mà đưa thẳng
người lên. Từ bên trong bộ quần áo diễn trò làm bằng lụa,
gan hai bàn chân trước của nó hiện ra đỏ hỏn. Con chuột này
đang đóng vai trò gọi là giáo đầu (sesshi) (2) của
một vở tạp kịch (3).
Trong đám người đi xem, trước tiên, chỉ có lũ con nít là
thích thú, vỗ tay tán thưởng. Đám người lớn chưa dễ gì
bày tỏ sự quan tâm, chẳng những thế, họ còn làm ngơ, kẻ
phì phà ống điếu, kẻ đưa tay ngắt lông mũi, đưa mắt nhìn
diễn viên chuột đang chạy lòng vòng trên sân khấu với con
mắt khinh thị. Thế nhưng một lúc sau, khi tuồng đã đi vào
màn chính, với sự xuất hiện của con chuột đóng vai đào
chánh (seitan) trong trang phục bằng gấm và anh chàng kép
độc (jô) đeo mặt nạ đen chạy túa ra từ con đường bên hông sân
khấu, theo điệu hát của Lý, bắt đầu bay, nhảy rộn rịp theo
đúng bản tuồng (haku) và làm đủ thứ trò thì người đứng
xem thấy mình không còn cớ gì để giữ mãi vẻ lạnh nhạt
nữa. Trong đám đông đã bắt đầu nghe thấy có tiếng cổ vũ
kiểu “Được lắm! Hay quá!” (Sôshidai). Lý Tiểu Nhị cũng nương
theo đà, phấn khởi gõ trống liên hồi, khéo léo điều khiển
lũ chuột diễn trò. Thế rồi đến khi Lý hát mấy câu:
“Trầm hắc giang, Minh Phi thanh chủng hận,
Nại u mộng, cô nhạn Hán Cung Thu”
(4)
để thông báo nhan đề vở tuồng vừa diễn thì trong cái khay
đặt trước sân khấu, đã thấy một mớ tiền đồng chất cao như
núi.......
Tuy nhiên, làm ăn buôn bán kiểu này không phải dễ, tiền có vào
cũng chả thấm vào đâu. Trước nhất là được mươi hôm thì thời
tiết xấu đi, chuyện kiếm ăn trở thành khó khăn. Mùa hè thì
từ khi lúa mạch chín, mưa lại kéo về, những bộ trang phục
và mặt nạ nhỏ bé kia đã bị mốc xỉn không biết tự hồi
nào. Mùa đông thì gió thổi tuyết rơi, hầu như không cách chi
trình diễn được. Vào những hôm như thế, Lý chỉ còn có
cách thu người vào trong một xó u ám của nhà trọ, đánh
bạn với lũ chuột cho qua thời giờ, mỏi mòn chờ cái ngày
được bận bịu với công việc như xưa. Lũ chuột có tất cả 5
con, chúng đều mang tên cha, mẹ, vợ cũng như hai đứa con của
Lý, giờ đây không biết đã trôi giạt phương nào. Chúng lần
lượt từ cái bị bò ra, co ro bước những bước rụt rè trong
căn phòng không có lấy một ánh lửa, rồi trèo từ mũi giày
leo lên đầu gối Lý, diễn tập cái trò xiếc hiểm nghèo của
chúng. Mấy con mắt đen láy như những hạt thủy tinh
(Nankindama) thao láo dán vào mặt chủ nhân khiến cho một con
người đã quen với cái đắng cay của nhân tình thế cố như Lý
nhiều khi cũng muốn rơi nước mắt. Nói là nói thế chứ thực
tình thì nỗi lo lắng cho cuộc sống ngày mai bấp bênh và sự
cố gắng đè nén nỗi lo ấy cũng đủ làm cho lòng Lý tan
nát, cần chi đến hình ảnh đáng thương của lũ chuột đập
vào mắt mình.
Hơn nữa, dạo này có lẽ vì tuổi tác, cơ thể Lý có gì
không ổn nên anh đâm ra lơ là đến chuyện kiếm ăn. Mỗi khi
phải hát những tiết điệu dài, Lý cảm thấy mình không còn
đủ hơi sức. Cổ họng Lý cũng không thông suốt như ngày xưa
nữa. Kiểu này thì không biết lúc nào, bất cứ chuyện gì
cũng có thể xảy ra. Nỗi bất an ấy cũng như mùa đông của
miền Hoa Bắc đã chắn lối không cho những tia sáng mặt trời
và không khí đi vào trong lồng ngực của người diễn trò
thảm não kia. Cuối cùng thì ngay cả ước vọng sống như một
người bình thường cũng đã khô cạn đi và Lý chẳng còn
thiết tha gì đến nó nữa. Cớ sao con người dù khổ đau mà
vẫn cứ phải tiếp tục sống? Dĩ nhiên, Lý chưa bao giờ thử
tự đặt câu hỏi như thế nhưng anh có lần nghĩ rằng đau khổ
đến với mình quả là điều không công bằng. Thế rồi, tuy
không biết ai là người đã tạo ra cảnh khổ này nhưng trong
thâm tâm, Lý cảm thấy uất hận. Anh không chờ đợi một điều
gì cả nhưng trong người anh tiềm tàng một tình cảm phản
kháng. Nguyên nhân của nó có thể là sự căm ghét vốn đã
nằm trong cõi vô thức của anh chăng?
Tuy vậy, Lý cũng như hầu hết những con người sinh ra ở
phương Đông, khi đứng trước định mệnh, thường không bao giờ
chịu qui hàng. Suốt một ngày nằm trong gian phòng trọ, bụng
đói meo, có lần Lý đã hướng về 5 con chuột nhắt và nói
với chúng: “Kiên nhẫn một chút nghe các con. Bọn mi cũng
đang chịu đói, chịu lạnh như ta. Dù sao, nên biết rằng đã
sống ở đời thì đói, lạnh là cái chuyện đương nhiên. Với
lại, con người có biết bao kẻ còn khổ sở hơn cả loài
chuột các ngươi nữa đấy ....
Trung
Bầu trời nặng mây báo tuyết không biết từ lúc nào đã rải
xuống những trận mưa trộn lẫn hạt nước đá. Đó là một buổi
xế trưa lạnh lẽo mà đúng như người ta mô tả, khách bộ hành
chân ngập trong bùn bước đi trên con đường chật hẹp. Nhằm
lúc đó, Lý Tiểu Nhị vừa diễn trò về, cũng như thường lệ,
vai quảy cái túi đựng chuột, buồn nỗi quên mất cả dù,
toàn thân ướt át, đang bước trên con đường không bóng người
qua ở một nơi xa thị trấn. Bất đồ Lý thấy bên vệ đường
có một ngôi miếu nhỏ. Vừa vặn lúc đó, mưa càng nặng hạt.
Lý thu người lại và dấn bước. Trước đầu mũi anh, những
giọt nước thi nhau chảy xuống. Nước cũng thấm cả vào bên
trong cổ áo. Vì trước mặt trời bắt đầu sập tối nên khi
thấy cái miếu, Lý vội vàng chạy vào dưới hàng hiên rồi đưa
tay lên lau những giọt mưa còn bám trên mặt và vắt hết nước
ống tay áo. Cuối cùng, khi định thần lại được, Lý mới
ngẩng đầu lên nhìn bức hoành phi thì mới thấy có viết ba
chữ “Sơn Thần Miếu”.
Leo được hai ba bước lên khỏi bậc thang bằng đá ở lối vào,
Lý thấy cánh cửa mở toang nên ghé mắt nhìn vào. Bên trong
miếu còn chật chội hơn điều Lý dự tưởng. Chính điện có bày
một bức tượng Kim Giáp Thần (Thần Giáp Vàng), mình mẩy đã
bị màng nhện che phủ, đang đứng bâng quơ như đợi buổi chiều
về. Tay phải nó là một bức tượng Phán Quan mà đầu đã bị
một bàn tay nghịch ngợm nào đó lấy đi đâu mất. Tay trái là
một bức tượng Tiểu Quỉ, mặt xanh tóc đỏ, hình thù thật
kinh hãi nhưng tiếc thay, mũi cũng đã bị tróc mất. Trước
mặt mấy pho tượng là một mặt sàn đầy bụi bặm, bên trên
chồng chất những đống gì giống như vàng mã (shisen). Lý
đoán biết thế là vì trong bóng tối lù mù, những thếp
giấy vàng giấy bạc đôi khi ánh lên một cách mơ hồ.
Vì bên trong miếu lúc đó Lư chỉ thấy được chừng đó nên anh
mới hướng cái nhìn của mình ra phía ngoài. Thì vừa đúng
lúc, một bóng người chợt xuất hiện từ nơi mấy bó vàng mã
đang chất đống. Thực ra con người ấy đã nằm phục ở đấy từ
trước nhưng mãi bây giờ Lý mới nhận ra sau khi mắt đã làm
quen với bóng tối. Thế nhưng đối với anh, con người đó như
bất chợt từ đống vàng mã bước ra làm anh phải giật mình vì
kinh hãi. Làm bộ nửa như nhìn thấy nửa như không, anh đưa
mắt dò xét nhân vật.
Người đó là một lão già tướng khó coi. Ông ta mặc một bộ
áo đạo sĩ đầy cáu ghét, mặt mày đầu tóc giống như tổ
chim (Lý chợt nghĩ có lẽ đây là một đạo sĩ hành khất
cũng không chừng). Lão ta đang vươn tay ra ôm hai cái đầu gối
khẳng khiu. Đầu gối ấy lại đỡ lấy chòm râu bạc buông xuống
từ cằm. Tuy mắt lão đang mở nhưng không biết đang nhìn về
hướng nào. Dù sao Lý vẫn biết lão vừa gặp phải trận mưa
vì nhận ra vai áo đạo sĩ kia cũng ướt đẫm.
Khi nhìn thấy ông lão, Lý nghĩ mình phải lên tiếng để nói
một câu gì đó. Một trong những lý do là anh cảm thấy có
sự đồng tình với lão già mình mẩy đang ướt như chuột lột.
Lý do khác là một người sành việc đời như anh thì khi gặp
trường hợp như thế này, đã có thói quen lên tiếng trước.
Hơn nữa, có thể vì nhân đấy, anh muốn làm một cử chỉ hòng
cố gắng thoát khỏi cái tâm trạng não nề ḿnh có tự nãy
giờ. Lúc đó, Lý mới bảo:
-Thời tiết khó chịu quá, cụ nhỉ?
-Ờ, hờ!
Vẫn ngồi bó gối, ông lão lúc ấy mới nhấc quai hàm, lần
đầu tiên nhìn về hướng Lý. Lão ngẩng cái mũi đang khoằm
xuống như mỏ chim của mình lên, nhếch qua nhếch lại hai ba
bận và nhíu mày để trông cho rõ.
-Người làm nghề như cháu, gặp mưa là không gì chán hơn.
-Hả? Thế cậu làm nghề gì?
-Cháu nuôi ba con chuột để diễn trò ạ.
-Nghề hiếm có đấy chứ!
Cứ như thế mà giữa hai người đã bắt đầu có một sự trao đổi
qua câu chuyện. Ông lão bước khỏi đống vàng mã, cùng với
Lý đến ngồi xuống bên bậc đá nơi cửa ra vào. Bấy giờ, Lý
mới nhận được rõ ràng dung mạo của ông lão. Ông còn gầy
guộc hơn cả hồi nãy khi nhìn trong bóng tối. Tuy vậy, v́
nghĩ mình đã tìm ra được một đối tượng để tâm sự cho nên
Lư cứ thế mà đặt cái đãy đựng chuột xuống trên bậc đá,
nói chuyện ngang tay với ông lão về đủ thứ đề tài.
Có vẻ là người kiệm lời, đạo sĩ chỉ trả lời chậm rãi
kiểu “À ra thế!”, “Vậy sao?” và cùng lúc, há cái miệng
đã khuyết hết răng ra như muốn hớp lấy không khí. Mỗi lần
vận động như vậy, cái hàm với chòm râu mà gốc đã ngả một
màu vàng bẩn thỉu lại đưa lên hạ xuống...Nói chung, dáng
dấp ông lão hết sức hom hem và thê thảm.
Lý nghĩ thầm, so với lão đạo sĩ, trên mọi phương diện,
cuộc sống của mình hãy còn may mắn hơn nhiều. Nhận thức
này dĩ nhiên đă làm cho Lư khoan khoái hơn nhưng cùng lúc, việc
thấy mình là người có nhiều lợi thế so với đạo sĩ hành
khất chỉ khiến cho Lý mang mặc cảm tội lỗi đối với ông ta.
Do đó, Lý bèn đổi đề tài câu chuyện, kể từ lúc ấy, anh chỉ
nói đến những nỗi khổ trong cuộc sống của mình và còn cố
tình tô vẽ thêm cho thật bi đát. Mặc cảm đối với ông lão đă
hoàn toàn trở thành một mối dằn vặt cho Lý:
-Vâng, chuyện của cháu thật đáng rớt nước mắt. Bao nhiêu
lần cả ngày không có hột cơm vào bụng. Gần đây, suy nghĩ
mới thấy thấm thía: Mình nuôi chuột bắt chúng làm việc ḥng
kiếm cái ăn nhưng cũng biết đâu chính lũ chuột kia đang bắt
mình diễn trò để nuôi lấy chúng. Thực tế là như thế đó
cụ!
Sự bực tức đã làm cho Lý phải thở ra giọng điệu như vậy
nhưng ông lão trước sau chẳng nói chẳng rằng. Điều đó làm
cho thần kinh của Lý không sao chịu đựng thêm được nữa. (Ông
ơi, chả lẽ ông không đếm xỉa gì đến lời tôi nói hay sao.
Phải chi tôi cứ câm họng, không thốt ra những lời thừa
thãi!). Trong ḷng, Lý thầm trách mình như vậy. Xong, anh đưa
mắt liếc nhìn thái độ của lão già. Thế nhưng, đạo sĩ lại
đưa mắt nhìn về hướng khác. Ông ta đang ngắm mấy cành liễu
khô ngoài miếu đang bị mưa gió táp, một bàn tay cứ đưa lên
găi tóc. Tuy mắt ông ta không nh́n Lư nhưng Lư nghĩ lăo già đă
thấy rơ ruột gan của ḿnh và không thèm đối đáp. Nghĩ đến đấy, Lư
không khỏi đôi chút khó chịu nhưng anh c̣n bực ḿnh hơn v́ ông cụ
này không thấy được sự đồng t́nh của ḿnh với hoàn cảnh của ông. Anh
bèn đổi đề tài sang chuyện năm nay nạn cào cào xâm hại mùa màng. Từ
tai họa xảy đến cho nhà nông ở địa phương này, anh lái qua cảnh khốn
cùng của nhà nông nói chung và nghĩ rằng như thế sẽ chứng minh được
lư do nào đă gây ra hoàn cảnh bi đát hiện giờ của ông lăo.
Thế nhưng giữa khi Lư mới giải bày được nửa chừng, đạo sĩ đă quay
mặt nh́n về hướng Lư. Giữa những nếp nhăn nheo trên khuôn mặt, đường
gân thớ thịt của ông lăo có ǵ căng thẳng như ông ta đang muốn nén
sự tức cười. Rồi làm như không thể dằn được nữa, ông ta cười thành
tiếng, một giọng cười khàn khàn nhưng lại nhọn sắc như tiếng quạ:
-Cậu có vẻ tỏ ra thông cảm với hoàn cảnh của ta nhưng về chuyện tiền
bạc, ta nào có thiếu.Nếu cậu muốn cải thiện cuộc sống của ḿnh th́
cứ cho ta biết là xong ngay.
Lư bỏ dở câu chuyện, chỉ biết sững sờ nh́n gương mặt của đạo sĩ.
(Lăo già này khùng mất rồi!). Măi một thôi sau khi ngậm miệng và
kinh ngạc nh́n lăo, Lư mới có một câu nói để đánh giá như vậy. Thế
nhưng lời đánh giá ấy đă bị đập tan ngay khi đạo sĩ nói tiếp:
-Nếu cậu cần khoảng một hay hai ngh́n dật (itsu) (5) hoàng
kim th́ ta có thể biếu cậu tức khắc. Thực ra, ta không phải là người
phàm đâu, cậu ạ!
Thế rồi lăo già nói mấy câu ngắn gọn kể chuyện đời ḿnh. Th́ ra xửa
xưa, lăo là một anh đồ tể mỗ thịt ở một cái chợ nào đó, nhờ có cơ
duyên đôi khi gặp Lữ tổ (Lữ ĐộngTân) bèn đi theo học đạo. Kể chuyện
xong, đạo sĩ chậm răi đứng dậy rồi đi vào bên trong miếu. Một tay
lăo ch́a ra vẫy gọi Lư vào, c̣n tay kia th́ thu vén lại đống vàng mă
trên sàn.
Lư như người tê liệt hết ngũ quan, mơ mơ màng màng ḅ vào bên trong
miếu. Người anh nằm phục xuống mặt sàn c̣n hai bàn tay bám đầy phân
chuột và bụi bặm. Lư chỉ c̣n ngóc được mỗi cái đầu, từ bên dưới nh́n
lên khuôn mặt đạo sĩ.
C̣n đạo sĩ th́ cúi cái lưng c̣ng, duỗi hai cánh tay một cách khó
khăn để cào hốt đống giấy vàng mă trên mặt sàn.Thế rồi ông ta đưa
hai bàn tay cầm chúng lên xoa đi xoa lại và bắt đầu bận rộn rắc
xuống dưới chân. Lạ lùng làm sao, khi đống giấy đó rơi trên mặt đất
th́ đột nhiên, nó lại phát ra tiếng kêu loảng xoảng, át cả tiếng mưa
đang đổ bên ngoài cửa miếu. Mấy mớ vàng mă vừa rời khói tay đạo sĩ
đă hóa thành những đồng tiền bằng vàng hay bằng bạc....
Hạ
Lư Tiểu Nhị trở thành giàu có ức vạn như Đào Chu (6). Những
khi nghe ai hoài nghi về câu chuyện gặp tiên mà anh kể cho họ, đă
trưng ra bút tích bốn câu thơ lăo già để lại mà làm bằng chứng.
Người viết có lần đọc câu chuyện về Lư trong một quyển sách nào đó
đă lâu lắm rồi nên rất tiếc không c̣n lưu trong kư ức bài thơ nói
trên một cách chính xác. V́ vậy chỉ c̣n biết dịch đại ư của nó từ
tiếng Tàu sang tiếng Nhật và đặt ở cuối câu chuyện này. Dù sao, có
lẽ nội dung là lời lăo đạo sĩ muốn đáp lại khi Lư Tiểu Nhị hỏi ông
v́ cớ ǵ đă là người tiên mà c̣n muốn sống cuộc sống của một kẻ ăn
mày:
“V́ cuộc đời là đau khổ nên sự sung sướng mới đáng hưởng thụ. Con
người v́ có chết nên mới biết là ḿnh sống. Kẻ nào thoát được cái
chết và sự đau khổ sẽ cảm thấy trống rỗng, không c̣n ǵ thú vị. Do
đó, người tiên không bằng được người phàm v́ người phàm hăy c̣n có
khổ đau, sinh tử”.
Có lẽ v́ thế mà những ông tiên thường nhớ lại thuở làm người và cố
t́nh đi khắp nơi để t́m sự đau khổ hay chăng?
Ngày 23 tháng 7 năm Taishô thứ tư (1915)
(1)
Kimonmichi (quỷ môn đạo): lối bên hông, nơi vai diễn trò tiến
vào sân khấu.
(2)
Sesshi: màn phụ trong một tạp kịch.
(3)
Zatsugeki: hình thức tạp kịch đời Nguyên, còn gọi là
Nguyên khúc.Đã manh nha từ đời Tống và thường có tính cách
phúng thích.
(4)
Có lẽ là vở Hán Cung Thu, tạp kịch nói về tấn bi kịch
của nàng Minh Phi (Vương Chiêu Quân) bị Hán đế gả làm vợ cho
Thiền Vu Hung Nô và chết trong uất hận ở xứ người.
(5)
Dật (itsu): Đơn vị hóa tệ đời xưa, một dật trị giá từ 20 đến 24
lượng vàng.
(6)
Đào Chu tức Phạm Lăi. Tương truyền sau khi bỏ vua nước Việt ra đi,
đă cùng người đẹp Tây Thi phiếm du Ngũ Hồ rồi đổi tên, làm ăn buôn
bán và trở thành một đại phú hào.
Dịch xong ngày 27 tháng 1 năm 2019 (NNT)
Thư Mục Tham Khảo:
Nguyên tác những truyện được dịch bên trên đều được lấy từ
trang mạng Nhật Bản Aozora Bunko (bản mới 2004) trích quyển thứ
nhất trong Toàn Tập của Akutagawa Ryuunosuke do Chikuma Shôbô (Tokyo)
xuất bản.
|