Giới thiệu nhà văn Chin Shun-Shin

Nguyễn Nam Trân

Chin Shun-Shin ( 1924-2015)

Chin Shun-Shin (Trần Thuấn-Thần), như tên cha sinh mẹ đẻ cho thấy, là thần dân vua Thuấn vì tổ tiên vốn từ Hà Nam ra Tuyền Châu (Phúc Kiến), sau vượt biển sang Đài Loan rồi đến Nhật. Tuy nhiên, ông ra đời ở thành phố cảng Kobe vào năm 1924 và mang quốc tịch Nhật. Tốt nghiệp Đại học ngoại ngữ Ôsaka (1943) khoa Ấn Độ, chuyên môn tiếng Hindi và Ba Tư. Là đàn anh một năm trên lớp nhà văn Shiba Ryôtarô (1923-1996), người theo khoa Mông Cổ. Lúc đầu nghiên cứu về vùng Tây Nam Á, soạn từ điển Ấn-Nhật, dạy tiếng Anh bậc trung học rồi đi buôn, mãi sau mới bước vào nghề văn. Sở trường về tiểu thuyết lịch sử và trinh thám. Dĩ nhiên, lãnh vực là thế giới người Trung Quốc từ vương triều lịch đại trên lục địa cho đến những các hàng quán trong khu Chinatown ở Kobe mà ông đều rành rẽ. Điều đặc biệt là sáng tác của ông đều hướng về độc giả đại chúng. Khi nghiên cứu thơ Đường chẳng hạn, ông hay dựa vào những nguồn tư liệu ngoài luồng, ít có người để ý, và suy luận miên man từ chuyện này bắt sang chuyện khác, y hệt một thám tử.

Ông thường đăng bài trên báo chí trước khi in thành sách. Là người duy nhất được tặng 3 giải thưởng lớn nhất về tiểu thuyết trinh thám và đại chúng ở Nhật (Edogawa Ranpo, Naoki và Nihon Suiri Sakka Kyôkai). Tác phẩm tiêu biểu của ông có Karekusa no ne (Rễ cỏ khô, 1961), Shôsetsu Juuhachi Shiryaku (Tiểu thuyết Thập Bát Sử Lược, 1977-83), Hihon Sangokushi (Bí bản Tam Quốc Chí, 1974), Ahen Sensô (Chiến tranh Nha Phiến, 1967), Ryuukyuu no kaze (Gió đảo Lưu Cầu, 1993) vv...

Dù nặng tình với quê cha đất tổ, ông được biết nhiều như người từng cực lực phê phán hành động của chính quyền Bắc Kinh trong biến cố Thiên An Môn.

Chin Shun-Shin mất năm 2015 cũng ở Kobe vì lão suy sau khi đã sống thọ trên 90 tuổi.

 

Khúc hát Lương Châu

(Tạp bút thơ Đường)

Nguyên tác: Chin Shun-Shin

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

Để tránh một số đoạn trùng hợp, bài viết dưới đây được biên dịch lại từ 3 tạp bút của Chin Shun-Shin nhan đề Lương Châu Từ, Bồ Đào, Dạ Quang Bôi in trong hai tập Saiiki Yobun (Tây Vực Dư Văn, 1984) và Tôshi Shinsen (Đường Thi Tân Tuyển, 1989). Khúc hát Lương Châu dĩ nhiên bàn về Lương Châu Từ, một tác phẩm quen thuộc của người yêu thơ Đường.

Lương Châu Từ :

Hoàng đế Huyền Tông nhà Đường (trị vì 712-765) là một người vô cùng yêu âm nhạc, đặc biệt các pháp khúc. Pháp khúc là các bài hát thông tục miền Giang Nam nhưng trong sáng và thanh nhã hơn. Dượng Đế nhà Tùy cho rằng pháp khúc quá đơn điệu nên tìm cách cải biên. Đến đời Huyền Tông, một người sành âm luật, lại gia công lần nữa khiến về sau chúng mang thêm âm hưởng nhạc Tây Vực. Nhà vua tự mình chỉ đạo các nhạc công ở Thái Nhạc Thự và con hát, con múa ở Giáo Phường tập luyện theo. Vì thế, trong ngự uyển, ông đã dành một chỗ làm Âm Nhạc Giáo Tập Sở ở nơi gọi là Lê Viên (Vườn Lê). Ở Nhật thì như chúng ta đều biết, Lê Viên (đọc là Ri.en) là cái tên đẹp đẽ dùng để ám chỉ các kịch đoàn Kabuki.

Thường thì việc chiều chuộng ý chủ là sự thể hiện lòng trung thành nơi bầy tôi. Thời đó, các quan địa phương cũng như những ông đi công cán miền xa, nếu thấy có điệu nhạc nào hay và lạ tai thì thi nhau đem về kinh dâng nhà vua. Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-741) đô đốc phủ Tây Lương là Quách Tri Vận đã dâng lên một ca khúc gọi là Lương Châu Khúc.

Theo nghĩa hẹp, Lương Châu là tên đất để chỉ quận Vũ Uy còn theo nghĩa rộng là cả miền tây bắc tỉnh Cam Túc. Bốn quận của nhà Hán ở đây gọi là Hà Tây tứ quận (gồm Vũ Uy, Trướng Dịch, Tửu Tuyền và Đôn Hoàng) là một nơi đã phảng phất không khí của vùng Tây Vực. Tuy Lương Châu Khúc ngày nay thất truyền như có lẽ nhịp điệu của nó chắc phải nhanh như nhạc Tây Vực. Sách chép rằng trong khoảng năm Trinh Nguyên (785-804), có kẻ tên Khang Côn Luân đã biên tập lại khúc ấy để chơi với đàn tỳ bà, ngoài ra không cho biết thêm chi tiết. Đem đối chiếu với các nguồn tư liệu khác thì thấy khúc ấy khó lòng để lại dấu vết cho đến ngày nay. Đường Thư trong phần Lễ Nhạc Chí có viết rằng: “Hồi Hoàng Sào dấy loạn, bọn nhạc công chạy tứ tán, nhạc phổ cũng mất”. Thế nhưng dầu khúc nhạc không còn, ca từ vẫn có thể. Nhân vì người ta đã đặt ra nhiều lời ca khác nhau cho nó, chắc chắn phải có bài được thiên hạ truyền lại.Trong loại Lương Châu Ca hay Lương Châu Từ, xưa kia vốn đã có những bài của tác giả vô danh. Toàn Đường Thi thấy chép một bài Lương Châu Ca không rõ ai viết, nội dung như sau đây:

Hán gia cung lý liễu như ti,
Thượng uyển đào hoa liên bích trì.
Thánh thọ dĩ truyền thiên tuế tửu,
Thiên văn cánh thưởng bách liêu thi.

Lời bài này ca tụng một dịp vui trong cung, chắc đã được đem ra tấu và hát. Thế nhưng nội dung của nó không dính dáng gì đến Lương Châu cả. Trong khi Lương Châu là vùng biên cảnh, nơi có biết bao nhiêu dân tộc sống chung đụng và chiến tranh xảy ra liên miên thì bài thơ bên trên chỉ là một lời chúc tụng suông ở chốn cung đình.

Chỉ có bài dưới đây thì mới có một chút không khí Lương Châu:

Sóc phong xuy diệp Nhạn Môn thu,
Vạn lý yên trần hôn thú lâu.
Chinh mã trường tư Thanh Hải thượng,
Hồ già dạ thính Lũng Sơn đầu.

Nhạn Môn là tên một hòn núi ở phía bắc huyện Đại tỉnh Sơn Tây. Vẫn biết nó không cùng một phương hướng với Lương Châu vốn ở phía tây tỉnh Cam Túc nhưng là nơi có đặt hệ thống phòng thủ ngăn ngừa các bộ tộc ở ngoài ải. Hơn nữa, bài thơ cũng thấy toát lên không khí biên tái. Đường Thi Tuyển ghi lại nó như một sáng tác của Trương Tử Dung nhưng khi xem Trương Tử Dung Tập trong Toàn Đường Thi thì không thấy dấu vết. Bài ấy chỉ được chép ở một tập khác và không đề tên tác giả. Thấy nói Trương Tử Dung thi đỗ Tiến sĩ năm Khai Nguyên nguyên niên (713), làm chức Úy ở Lạc Thành thuộc Giang Tây, hồi An Lộc Sơn làm loạn phải lưu lạc xuống Giang Nam. Ông là đồng hương Tương Dương và chơi thân với Mạnh Hạo Nhiên. Người như thế thì khó lòng có lần đặt chân tới Nhạn Môn hay Lương Châu cho được. Cũng vậy, Vương Hàn, tác giả Lương Châu Từ, người nổi tiếng nhất trong những nhà thơ nói về Lương Châu, thì tuy đã có lần đến Sơn Tây và Hồ Nam nhưng cũng chưa từng tới tận Lương Châu.

Đoàn lạc đà qua biển cát

Họ Vương có viết 2 bài về Lương Châu nhưng Toàn Đường Thi chỉ giữ lại một:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Còn bài thứ hai là:

Tần trung hoa điểu dĩ ưng lan,
Tái ngoại phong sa do tự hàn.
Dạ thính Hồ già Chiết Dương Liễu,
Giao nhân ý khí ức Trường An.

Ngoài cửa ải, trời hãy còn lạnh với từng cơn gió lớn cuốn bay cát đá nhưng ở Tần Trung (Trường An và phụ cận) thì thời tiết đã vào giữa mùa xuân. Nhà thơ muốn thay lời các chiến sĩ đang xuất chinh nói lên nỗi nhớ Trường An của họ. Hồ già là loại kèn dùng lá lau cuộn lại mà thổi, các dân tộc phương bắc vùng tái ngoại rất yêu chuộng. Âm hưởng nó hết sức bi ai. Hồ già xuất hiện nhiều lần trong những bài thơ mang chủ đề biên tái.Trong làn điệu của Hồ già vốn có bài Chiết Dương Liễu. Đó là một điệu Nhạc phủ với nhiều ca từ khác nhau cùng nói lên nỗi buồn biệt ly. Khi người ta tiễn đưa nhau bên dòng Vị thủy hay Bá thủy (ngoại ô Trường An, NNT) dưới những rặng liễu bên đường thì kẻ tiễn đưa thường bẻ một cành liễu và kết thành vòng (hoàn環) để tượng trưng cho lời ao ước người ra đi chóng trở về (hoàn還) vì hai chữ “hoàn” này đồng âm dị nghĩa. Có nhiều người viết về chủ đề Chiết Dương Liễu, trong đó có một bài tiêu biểu của thi hào Lý Bạch:

Thùy dương phất lục thủy,
Dao diễm đông phong niên.
Hoa mính Ngọc Quan tuyết,
Diệp noãn kim song yên.
Mỹ nhân kết trường hận,
Tương đối tâm thê nhiên.
Phan điều chiết xuân sắc,
Viễn ký Long Đình tiền.

Long Đình là nơi người Hung Nô làm lễ tế Trời, còn có nghĩa là cung điện của chúa Thiền Vu. Theo bài thơ thì thấy những người vợ của chiến sĩ xuất chinh đánh Hung Nô muốn bẻ cành liễu kết vòng (hoàn) để tặng cho chồng, mong sao người ấy chóng về (hoàn).

Một Lương Châu Từ cũng được biết tới nhiều, ngang ngửa với bài “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi” là của Vương Chi Hoán:

Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian,
Nhất phiến cô thành vạn nhận san.
Khương địch hà tu oán dương liễu,
Xuân quang bất độ Ngọc Môn quan.

Khương là tên gọi bộ tộc người hệ Tây Tạng (Tibet), cũng là một sắc dân vùng biên cảnh. Trúc địch của họ giống như Hồ già, tiếng nghe ai oán. Bài thơ như muốn nhắn rằng nếu nhạc khí ấy tấu bài Chiết Dương Liễu là để bày tỏ lòng oán hận nhưng thử hỏi dù oán hận đi nữa nào có ích lợi gì đâu! Bởi vì ánh sáng của mùa xuân (xuân quang) (nhiều nơi viết là xuân phong, NNT) làm gì đến được vùng biên tái xa xôi. Ý nói ở vùng tái ngoại không có mùa xuân.

Vương Chi Hoán là một thi nhân thời Thịnh Đường, sống ngoài triều nội, thế nhưng bản thân ông cũng chưa từng đặt chân tới vùng biên cảnh. Trong số những nhà thơ quan trọng đời Đường, kẻ từng đi đến vùng này tính ra chỉ có mỗi Sầm Tham. Chẳng những thế, ông đã hai lần làm việc ở An Tây Đô Hộ Phủ và dừng gót trong vùng tổng cộng 3 năm. Đương thời, An Tây Đô Hộ Phủ đóng ở Qui Tư, tương ứng với vùng Kucha (Khố Xa) bây giờ. Họ Sầm cũng từng làm việc ở Bắc Đình (phía bắc Urumchi). Dĩ nhiên là ông có rất nhiều thơ đề cập đến Thiên Sơn, Côn Luân Sơn, Hỏa Diệm Sơn cũng như Nhiệt Hải (nay là hồ Ishik của nước Cộng Hòa Kirgystan) nhưng không có bài nào nhan đề Lương Châu Từ. Lúc ấy, làm theo chủ đề này của Nhạc Phủ chỉ có Vương Hàn và Vương Chi Hoán. Thơ của cả hai đều là sản phẩm của trí tưởng tượng. Riêng Sầm Tham thì không cần động viên đến trí tưởng tượng vì vùng tái ngoại từng là môi trường sinh hoạt của ông. Khi tướng Cao Tiên Chi (gốc người Triều Tiên, NNT), Tiết Độ Sứ vùng An Tây tứ trấn, đem binh giao chiến với quân triều đình Hồi giáo của vương quốc Abbâs tại Talas bên bờ hồ Ishik thì Sầm Tham đang đồn trú ở hậu phương Vũ Uy. Vũ Uy chính là Lương Châu. Đối với tầng lớp thi nhân ở Trường An thì Lương Châu là một nơi cuối đất cùng trời. Họ đã dùng trí tưởng tượng khi sáng tác những bài thơ có màu sắc biên tái. Riêng với họ Sầm thì cả Lương Châu cũng chỉ là hậu phương. Tiền tuyến hay biên cảnh phải là hồ Ishiku nơi binh lính nhà Đường đang giao chiến với quân Hồi giáo của triều đình Abbâs dưới quyền chỉ huy của tướng Zuiyad Ibun Sâlif.

Sinh hoạt chợ búa của người Tây Vực (tranh của bà Irie Kazuko)

Nhà thơ Lý Bạch có thể xuất thân từ Suiyab (Toái Diệp). Trong Đại Đường Tây Vực Ký của Huyền Trang thì địa danh đó được phiên âm thành Tố Diệp. Nó nằm ven Thanh Trì (một tên khác của hồ Ishik), 500 dặm (ri) về hướng Tây Bắc. Có giả thuyết cho rằng nơi này hiện nay là vùng phụ cận của thành phố Tokmak thuộc lãnh thổ nước Cộng Hòa Kirgystan. Bảy mươi năm trước khi Lý Bạch sinh ra, Huyền Trang trên đường sang Ấn Độ thỉnh kinh từng đi ngang qua đó. Ông đã ghi lại là ở phía nam thành Talas khoảng mươi dặm (ri), có một thôn xóm với trên dưới 300 nóc gia của người Trung Quốc. Có lẽ Lý Bạch đã sinh ra từ địa điểm này cũng nên. Như vậy thì ngoài Sầm Tham, chỉ có Lý Bạch là nhà thơ thứ hai từng in dấu chân trên mảnh đất Tây Vực. Thế nhưng đến khoảng 5 tuổi thì Lý Bạch đã được cha dắt đi Tứ Xuyên di trú cho nên cũng không nên quá coi trọng kinh nghiệm sống ở Tây Vực của họ Lý.

Vào giữa thế kỷ thứ 8 tức là thời kỳ hoạt động của Lý Bạch và Sầm Tham, bản đồ Trung Quốc còn rộng hơn bây giờ. Như đã nói (trong một bài khác, NNT), lúc đó ở vùng nay là Funza của Pakistan và nay là nước Cộng hòa Kirgystan, đã xảy ra một cuộc tranh chấp biên giới. Thế nhưng từ khi có cuộc đại loạn của An Lộc Sơn mà thi nhân Thịnh Đường từng bị ảnh hưởng, sức mạnh của nhà Đường ngày càng suy thoái, kết cục triều đình phải bỏ mặc đất An Tây.

Sau khi Lý Bạch chết được một năm (763), người Thổ Phồn (Tu-fan) đột nhiên tấn công Trường An. Để đối phó, danh tướng Quách Tử Nghi dùng lối ngoại giao thân thiện, đồng minh với người Hồi Hột (Ouguir) nên đánh bại được Thổ Phồn. Sau đó, giữa nhà Đường và Thổ Phồn có đàm phán, họ ký một hiệp định lấy ải Phượng Lâm Quan phía tây nam Lan Châu làm ranh giới. Theo đó, bốn quận Hà Tây nghĩa là vùng đất từ Lương Châu về hướng Tây sẽ lọt vào vòng ảnh hưởng của người Thổ Phồn. Lương Châu không còn là tiền tuyến hay hậu phương của quân Đường nữa, giờ đây nó chỉ là đất địch. Lương Châu Từ của thời Trung Đường đã làm ra trong bối cảnh chính trị như vậy nên chúng mang bầu không khí khác với những bài cùng tên thời Thịnh Đường. Trương Tịch, tiến sĩ đỗ năm Trinh Nguyên thứ 15 (799), người thân thiết với Hàn Dũ, có cả thảy 3 bài Lương Châu Từ. Bài thứ 3 của nó đã được chép vào Đường Thi Tuyển:

Phượng Lâm Quan lý thủy đông lưu,
Bạch thảo hoàng du lục thập thu.
Biên tướng giai thừa chủ ân trạch,
Vô nhân giải đạo thủ Lương Châu.

Phượng Lâm Quan là biên giới với Thổ Phồn. Từ đó về phía trong có con sông Hoàng Hà chảy về phía Đông. Chỉ hiềm vành ngoài là đất thuộc Thổ Phồn, nơi chỉ có lá cỏ bạc màu và cây du vàng mọc trải dài. Đã 60 năm trôi qua mà các tướng lãnh từng chịu ơn mưa móc của thiên tử đến thừa thãi chẳng thấy một người nghĩ đến việc lấy lại Lương Châu đã mất.”Giải đạo” theo tiếng hiện đại là “tri đạo” có nghĩa là “biết”.

Xin viết ra đây lần lượt hai bài Lương Châu Từ của Trương Tịch mà Đường Thi Tuyển không sao lục:

Biên thành mộ vũ nhạn phi đê,
Lô duẫn sơ sinh tiệm dục tề.
Vô số linh thanh dao quá tích,
Ưng đà bạch luyện đáo An Tê.

Tuy nhà nước đặt ranh giới nhưng có lẽ thương nhân vẫn được phép qua lại. Bởi vì khi đánh thuế thương đội (caravan) Thổ Phồn cũng thu được lợi ích cho nên việc buôn bán này còn được họ khuyến khích. An Tây Đô Hộ Phủ lúc đó đã không còn nữa nhưng người về sau hoài niệm thời Thịnh Đường tiếp tục gọi đất ấy là An Tê (An Tây). Trong số hàng buôn thì tiêu biểu nhất là lụa trắng (bạch luyện, nerikinu). “Tích” 磧 ở đây nghĩa là “cánh đồng lổn nhổn những đá”, hiện là sa mạc Gobi. “Tích” 磧cũng được dùng như “sa” 砂 khi chỉ sa mạc.

Cổ trấn thành môn bạch tích khai,
Hồ binh vãng vãng bàng sa đôi.
Tuần biên sử khách hành ưng tảo,
Mỗi đãi bình an hỏa đáo lai.

Thời Đường có lệ nổi lửa để cho biết tin được vô sự hay không. Lửa đó gọi là “bình an hỏa”. Hồ binh ở cạnh bên, nhiều khi còn nấp ngay sau các đụn cát. Khách đi đường chỉ mong sao đoàn lính tuần tra biên cảnh của triều đình đến nơi càng sớm càng tốt. Thế nhưng những người này lần nào cũng chỉ đến lúc đã xác nhận có tín hiệu của “bình an hỏa” nghĩa là biết thương đội đã bình yên vô sự. Dù phía tây Phượng Lâm Quan đã bị người Thổ Phồn lấy mất mà biên tướng cũng như sứ giả tuần tra đều tiếc tính mệnh nên hành động tiêu cực khiến cho khách đi đường phải kêu than.

Bích họa chân dung một vị vua Hồi Hột (Ouguir)

Cảnh Vi, tuy sinh mất không ai rõ nhưng là một nhà thơ được xếp vào mười tài tử thời Đại Lịch. Như vậy, ông là một thi nhân Trung Đường. Việc người Thổ Phồn xâm nhập vào vùng phía tây Lương Châu là một hiện thực chắc ông đã rõ mười mươi. Ông cũng có bài Lương Châu Từ của mình:

Quốc sứ phiên phiên tùy bái tinh,
Lũng Tây kỳ lộ túc hoang thành.
Chiên cầu mục mã hồ sồ thiểu,
Nhật mộ Phiên ca tam lưỡng thanh.

Quốc sứ phất cờ qua lại nơi đây chắc là để ký kết hiệp định với người Thổ Phồn. Vì có chiến tranh nên suốt vùng Lũng Tây (phía đông Cam Túc), thôn xóm đã trở nên hoang phế thê lương. Chỉ có dăm ba tiếng ca của đám thiếu niên chăn ngựa Thổ Phồn mình khoác áo lông chiên, nghe vọng lại. Ngay những cậu bé kia con như thế còn không kiêng sợ uy vũ của nhà Đường nữa là.

Có người đồng tộc với Liễu Tôn Nguyên tên là Liễu Trung Dung. Ông cũng từng viết một bài Lương Châu Từ:

Quan san vạn lý viễn chinh nhân,
Nhất vọng quan san lệ mãn cân.
Thanh Hải thú đầu không hữu nguyệt,
Hoàng sa tích lý bản vô xuân.

Nhà thơ lập đi lập lại hai chữ “quan san”. Ngoài ra trong bài còn tả cảnh nước mắt đẫm cả áo khăn (lệ mãn cân). Chắc là giọt lệ khóc than cho việc đánh mất Lương Châu. Chỉ có ánh trăng hờ hững chiếu lên Thanh Hải, dĩ nhiên là đất của Thổ Phồn.

Về liên hệ giữa Đường và Thổ Phồn thì buổi đầu có vẻ tốt đẹp. Công chúa Văn Thành, con gái Thái Tông, được gả cho vua Thổ Phồn.Thế nhưng từ đời Cao Tông cho đến đời Vũ Tắc Thiên, trong khoảng hai thập niên thì vì việc Thổ Phồn khai triển hoạt động quân sự trên Con Đường Lụa nên nhà Đường bắt buộc phải tạm dẹp bỏ An Tây Đô Hộ Phủ. Huyền Tông sau khi tức vị liền dùng vũ lực để phong tỏa sức mạnh của Thổ Phồn. Dùng vũ lực kiểu đó thì khi vũ lực ấy suy thoái, nó sẽ không còn có hiệu quả gì đối với kẻ bị phong tỏa nữa. Nhân có loạn An Lộc Sơn, quân nhà Đường đang đồn trú Tây Vực phải rút về miền Đông. Thừa thế, người Thổ Phồn mới dùng cách đột nhập vào Trường An để nắm giữ độc quyền kiểm soát thương mại trên Con Đường Lụa. Như đã nói, sau đó, Phượng Lâm Quan được ấn định như ranh giới giữa hai nước. Bài Lương Châu Từ của Trương Tịch ra đời 60 năm sau sự kiện này, nội dung cho thấy các tướng lãnh không còn ý chí hồi phục đất đai mất mát và sứ giả của triều đình cũng chỉ biết than thở là mình đã bị đánh lừa. Thế nhưng dần dà Thổ Phồn trở thành cô lập, nội bộ tranh giành lẫn nhau, vùng đất vừa chiếm được đã tạo phản nên họ đành bỏ rơi Hà Tây tứ quận. Hào tộc ở Đôn Hoàng là Trương Nghị Triều đuổi được người Thổ Phồn đi vào năm Đại Trung thứ 5 (851). Nhân đó, Trương được nhà Đường phong làm Quy Nghĩa Quân Tiết Độ Sứ. Bằng cách đó, nhà Đường đã thu phục cả phần đất gọi là Lương Châu hiểu theo nghĩa rộng. Tiết Phùng, viên Tiến sĩ thi đỗ trong năm Hội Xương (841-846), sau làm quan tới chức Bí Thư Giám, cũng có viết một bài Lương Châu Từ:

Tạc dạ phiên binh báo quốc cừu,
Sa Châu Đô Hộ phá Lương Châu.
Hoàng Hà cửu khúc kim qui Hán,
Tái ngoại tung hoành chiến huyết lưu.

Sa Châu tức là tên gọi Đôn Hoàng còn Sa Châu Đô Hộ không khác ai hơn là người tên Trương Nghị Triều. Đây là bài thơ họ Tiết vịnh cảnh tượng cuộc chiến thu phục lại Lương Châu. Hoàng hà cửu khúc (nơi Hoàng hà uốn vòng vèo 9 khúc, nước nhiều, cỏ tốt, NNT) ngày nay nằm ở huyện Ba Yên thuộc tỉnh Thanh Hải. Khi Trung Tông gả con gái mình là Kim Thành công chúa cho vua Thổ Phồn, nhà Đường đã cắt nhượng đất ấy ban cho để làm ấp thang mộc (tắm gội) của công chúa. Ở đây có đồng cỏ rất tốt cho việc chăn nuôi nên trong trí tưởng tượng của chinh nhân thì khi nhắc đến Thanh Hải, họ nghĩ ngay quê hương của loài ngựa chiến nổi tiếng.

Đi về hướng tây của Tây Hà hồi lang (hành lang Tây Hà) thì sẽ ra đến Y Ngô (hiện tại là đất Cáp Mật của Tân Cương). Đất này có tên là Y Châu. Tiết Độ Sứ Tây Lương là Cái Gia Vận có dâng lên nhà vua âm khúc của địa phương này, gọi là Y Châu Ca. Tuy nhiên, nó không được nhiều văn nhân ái mộ mà đặt lời cho bằng Lương Châu Từ. Hiện nay chỉ còn giữ được dăm bài Y Châu Ca, tất cả đều là thơ không biết tác giả. Xin đơn cử:

Thu phong minh nguyệt độc ly cư,
Đãng tử tùng nhung thập tải dư.
Chinh nhân khứ nhật ân cần thuộc,
Qui nhạn lai thời sổ ký thư.

“Đãng tử” đây không có nghĩa là người con hoang đàng nhưng là một kẻ đi xa đã lâu mà chưa trở về quê. Binh lính đều là những người được xem như “đãng tử”.

Dĩ nhiên, người dâng lên những khúc hát mới lạ đều được triều đình trọng thưởng. Thời Huyền Tông, có ghi lại chuyện người tử tù kia xin phép sáng tác một khúc nhạc để chuộc tội chết nhưng tiếc thay anh ta không được thỏa nguyện. Khúc ấy có tên là Hà Mãn Tử, về sau nhà thơ Bạch Cư Dị có đặt ca từ cho:

Thế truyền Mãn Tử thị nhân danh,
Lâm tựu hình thì khúc thủy thành.
Nhất khúc tứ từ ca bát điệp,
Tùng đầu cánh thị đoạn trường thanh.

Về những kẻ dâng Lương Châu Từ cũng như Y Châu Ca lên nhà vua đã được ân thưởng như thế nào thì không thấy sử sách chép lại.

(Trích Đường Thi Tân Tuyển (1989), trang 144-156)

.............................

Bồ Đào

Quả bồ đào (tên văn chương của quả nho) xuất phát từ vùng Tây Á nhưng thử hỏi người đầu tiên đem nó vào đất Hán là ai vậy?

Phải chăng đó là Trương Khiên, đã theo lệnh Hán Vũ Đế, lên đường qua Tây Vực do thám, chịu bao tân khổ trong vòng 13 năm trước khi về đến quê nhà. Thuyết này đã được những người như Brett Schneider, học giả về nước Nga, tỏ ra tán đồng. Trong Thái Bình Ngự Lãm, quyển bách khoa từ điển của Trung Quốc thế kỷ thứ 10, lại chép rằng sau khi Nhị Sư tướng quân Lý Quảng Lợi phá được quân Đại Uyển, ông đã lấy được giống bồ đào đem về đất Hán.

Trương Khiên có lẽ là người đầu tiên đi thám thính Tây Vực mà còn sống sót trở về. Thế nhưng nếu nói rằng mọi sự đều khởi đầu từ ông thì chắc khác nào ở Nhật người ta nghĩ rằng mọi sự đều bắt đầu với Hoằng Pháp đại sư Không Hải. Vật nào ở Tây Vực mà đem về được thiên hạ đều gán cho Trương Khiên. Không những bồ đào mà cả cỏ như mục túc, các thứ quả như thạch lựu và hồ đào... được cho là do ông mang về nước. Tuy câu chuyện được kể ra nghe có vẻ thích thú đấy nhưng các sách như Sử Ký không hề xác nhận một cách minh bạch.

Cung điện ăn sâu vào vách núi trên Con Đường Lụa

Trên đường từ Tây Vực trở về, Trương Khiên đã bị Hung Nô bắt giữ và giam cầm hơn một năm. Ông không được phóng thích mà chỉ nhờ đi trốn nên mới thoát thân. Hạt giống là những vật bé xíu nhưng nếu biết dấu ở một nơi nào đó thì dù bị kiểm soát thân thể chặt chẽ, ông vẫn có thể mang đi. Tuy nhiên, hạt bồ đào đâu có phải là mật thư, chắc ông chưa cần đến thủ đoạn ấy. Có thể là khi về đến quê nhà, ông chỉ cần bảo bồ đào là loại cây gì và vẽ hình thù nó ra cho mọi người xem là đủ.

Trương Khiên đặt chân trở lại đất Trường An vào năm 126 trước Công Nguyên. Còn Nhị Sư tướng quân Lý Quảng Lợi đánh tan quân Đại Uyển, hát khúc khải hoàn và về tới đấy vào năm 101 trước Công Nguyên. Giữa hai biến cố, có một khoảng cách 25 năm. Sử sách chép là sau khi Trương Khiên về rồi thì mậu dịch với Tây Vực được khai thông, năm nào đông đảo có đến cả chục đoàn sứ thần qua lại. Những đoàn này đều mang mục đích buôn bán và dưới cặp mắt những thương nhân như họ, trong suốt thời gian trên 20 năm trời, ta thấy họ khó lòng bỏ sót một sản vật như bồ đào.

Khi viết về nguồn gốc bồ đào ở Trung Quốc, Thái Bình Ngự Lãm đã dẫn tư liệu Hán Thư. Thế nhưng Tây Vực Truyện trong Hán Thư chỉ cho biết là sau khi phá xong quân Đại Uyển. Nhị Sư Lý Quảng Lợi đã gửi sứ giả nhà Hán hạt giống bồ đào, mục túc đem về trồng bên ly cung ở Trường An. Như vậy không phải chính bản thân Lý Quảng Lợi mang về vì lúc đó ông còn phải xử lý những vấn đề chiến tranh để lại như con tin, tù binh cũng như phải thị uy người bản xứ. Ông chỉ gửi đoàn sứ giả mang chúng về. Nhưng dù sao, câu chuyện đã bắt nguồn từ cuộc hành binh của họ Lý, do đó người ta mới nhắc đến tên tuổi ông.

Như đã nói bên trên, lúc đó giữa hai vùng đã có hơn 20 năm buôn bán qua lại. Chỉ có thể xem lời thuật sự vừa rồi như là một ký lục chính thức vì đây là lần đầu tiên bồ đào được đem trồng trên đất đai cung điện. Thực ra trong dân chúng thì việc trồng bồ đào hẳn đã bắt đầu từ trước rồi. Bồ đào là loại thực vật ghét ẩm thấp, nhân vì vùng Trường An đất đai khô ráo nên có lẽ đấy mới là nơi thích hợp cho việc trồng giống này.

Bồ đào được mang về thì khả năng đem rượu bồ đào về tất cũng có. Sử Ký và Hán Thư đều có kể lại việc người Đại Uyển biết chế rượu bồ đào. Người nhà giàu tích trữ trên vạn thạch, loại này để lâu cũng không hư hao. Có nơi viết:

Người Đại Uyển có thói uống rượu. Ngựa thì thích cỏ mục túc.

Đem so sánh người với ngựa như vậy có hơn buồn cười. Người viết sử như thế chắc đứng trên lập trường của dân tộc Hán để bình luận. Bảo người Đại Uyển “có thói uống rượu” (tục thị tửu) chỉ có thể hiểu là họ uống rượu nhiều hơn người Hán mà thôi.

Tuy nhiên tập tục là cái biến đổi theo thời gian. Đặc biệt là khi đạo Hồi truyền vào Tây Vực. Giới luật của họ cấm uống rượu nên từ đấy, số người uống và lượng rượu tiêu dùng cũng bớt đi nhiều.

Bảo là giới luật nhưng đằng Đông vẫn khác đằng Tây. Càng đi về phía Đông thì mọi giới luật, kể cả giới luật về việc uống rượu, trở nên lỏng lẻo. Ngày nay, thanh niên các nước Ả Rập sang Âu Mỹ du học nói chung dễ bị say mèm vì họ không có tập quán uống rượu nên thiếu tính miễn dịch.

Tuy cùng là đất khô ráo nhưng thổ nhưỡng có khác. Bồ đào Tây Vực đem về trồng ở Trường An chất lượng không bằng ở tại chỗ. Do đó, từ thuở bồ đào được đem vào Trung Quốc cho đến 700 năm sau nghĩa là đến tận đời Đường, bồ đào Tây Vực vẫn còn được xem là một thứ quả quí.

Đường Cao Tổ (trị vì 618-626) có lần hội yến cùng quần thần. Sau bữa cơm có dọn quả bồ đào. Chức thị trung (cố vấn) là Trần Thúc Đạt nhìn thấy nó mà không dám lấy ăn. Vua mới hỏi lý do thì ông ta tâu:

- Mẹ thần mắc chứng khô miệng, bồ đào là món thích hợp nhất cho chứng ấy mà thần lại không tài nào kiếm ra.

Cao Tổ mới phán:

- Thế nhưng nhà ngươi hãy còn có mẹ để dâng cho món đó.

Nói rồi chảy nước mắt, nghẹn ngào. Chính vì vào thời điểm ấy, mẹ Cao Tổ đã mất.

Thị trung vốn là chức quan cao hầu cận hoàng đế, quen biết nhiều ngỏ nghách mà còn không tìm ra bồ đào thì mới thấy quả đó hiếm hoi như thế nào.

Rượu bồ đào lại còn quí hơn quả bồ đào nữa. Dù bồ đào đã truyền vào Trung Quốc 700 năm mà nhà Đường chưa chế ra được rượu bồ đào thì quả là chuyện hơi lạ. Thực ra rượu bồ đào thời đó đều do Tây Vực tiến cống và không phải ai cũng có quyền nếm. Có thể vì việc chế được rượu cần có phương pháp nhà nghề và các quốc gia ốc đảo ở sa mạc đều cố gắng giữ bí mật. Họ tìm cách không tiết lộ cho người bên ngoài. Có thể vài vườn bồ đào chung quanh thành Trường An đã từng thử chế rượu này nhưng phải nói không thể đem so sánh với rượu Tây Vực.

Nhà Đường chỉ thành công trong việc chế rượu bồ đào quốc nội là từ khi xóa được Cao Xương trên bản đồ.

Nước Cao Xương xưa kia nằm ở vùng Turfan nay thuộc Khu tự trị Tân Cương, nơi người Ouguir sinh sống. Tuy là một bộ phận của Tây Vực nhưng nó nằm tận phía Đông. Còn phía đông của Turfan là Hami, từ Hami đi thêm về phương đông là tới được Đôn Hoàng. Nơi đây gần khu vực người Hán sinh sống, từ xưa đã có một triều đình do tộc Hán lập nên. Đó là Cao Xương Quốc. Quốc vương Cao Xương họ Cúc 麴. Một vị vua họ Cúc đó đã tiếp đón trọng thể Tam Tạng Huyền Trang khi ông đi thỉnh kinh và ghé qua đây.

Có thể suy định là Huyền Trang đã đến đất này vào năm Trinh Quán thứ 2 (628). Vị cao tăng sinh ra khoảng năm 600 hay 602, cho nên vào thời điểm đó, ông chỉ mới trên 25 tuổi, còn trẻ và nổi tiếng có tướng mạo khôi ngô, hình dung kỳ vĩ.

Từ Trường An đi vào đất Thiên Trúc (Ấn Độ) để tìm câu trả lời cho bao điều chưa thấu đáo về Phật pháp và muốn mang về những kinh điển chưa được rao truyền đến Trung Quốc, tăng lữ trẻ trung này còn là một nhân vật đức độ cao vời, học vấn uyên thâm. Vua nước Cao Xương có đem lòng cảm mến ông thì cũng không phải là chuyện lạ. Nhà vua Cúc Văn Thái tiếp đón ông trọng thể, còn muốn ép ông lưu lại Cao Xương bằng mọi cách.

- Nếu hòa thượng không khứng chịu, ta sẽ đem ông trả về Trường An!

Tuy nhiên ý chí sang Thiên Trúc của Huyền Trang quá sắt đá, bất chấp hiếp đáp hay dụ dỗ. Vua Cao Xương biết mình không thắng nổi, đành để ông tiếp tục lên đường với điều kiện phải hứa là trên đường về sẽ lưu lại nước ấy ít nhất 3 năm. Huyền Trang cũng đồng ý như vậy. Thế nhưng ông không thực hiện được lời hứa vì năm Trinh Quán 19 (645) khi ông đi ngang qua đấy để tìm về Trường An thì nhà Đường đã sáp nhập nước Cao Xương trước đó 5 năm rồi.

Trong cuốn Đại Đường Tây Vực Ký, phần nói về đoạn đường hồi hương, Huyền Trang chỉ bắt đầu với nước A Kì Ni (vùng Kashar) và không đả động gì tới nước Cao Xương. Khi trình bày về tình trạng các quốc gia miền Tây của Đại Đường, ông chỉ có câu như:

... ra khỏi nơi là đất cũ của Cao Xương thì gần tới ...

Ngày xưa tuy nhỏ, Cao Xương vẫn là một quốc gia độc lập. Thế nhưng lúc Huyền Trang đặt bút viết quyển sách này thì nó đã trở thành lãnh thổ của nhà Đường cho nên ông không tính nó như ngoại quốc. Tuy vậy cách dùng chữ “đất cũ” (cố địa) khi nói về Cao Xương cho ta thấy cách tình cảm nồng hậu của ông khi nhắc tới tên nó.

Từ khi Thái Tông xâm lăng, vương quốc Cao Xương đã bị thôn tính và trở thành lãnh thổ nhà Đường. Mất độc lập, người Cao Xương không còn giữ nổi bí quyết chế tạo rượu bồ đào. Từ khi ấy, ở Trường An cũng như trên các phần đất khác, nơi nơi đều bắt đầu thử chế thứ rượu đó nhưng dĩ nhiên là vẫn không ngon bằng rượu tiến cống đến từ Tây Vực bởi vì có vấn đề nguyên liệu. Người ta bảo nếu không có giống “mã nhũ bồ đào” thì khó được ngon như vậy.

Một giống mã nhũ bồ đào

Quả “mã nhũ bồ đào” không tròn mà thon dài. Không phải hình cầu mà là hình quả trám. Tháng 9 năm 1973, tôi có ghé thăm Turfan, đất cũ của người Cao Xương và được đưa đi thăm vườn nho. Lúc đó mới lấy làm lạ khi thấy nho trong vườn phần nhiều quả thon dài và không lớn lắm. Nó chỉ bằng phân nửa đầu ngón tay út của một người trung bình.

- Quả “mã nhũ bồ đào” trông như thế này đấy!

Được người hướng dẫn giải thích, tôi mới biết ở đây người ta gọi bồ đào tròn là yuzumu, còn bồ đào dài là saipi. Rõ ràng là họ có tiếng gọi riêng chứ không dùng bốn âm Hán mã-nhũ bồ-đào.

Có phải quả bồ đào này có hình giống như vú ngựa cái nên mới được gọi như thế chăng? Lý Thời Trân trong “Bản Thảo Cương Mục” viết rằng bồ đào quả tròn được gọi là “thảo long châu”, quả dài gọi là “mã nhũ bồ đào”, quả trắng gọi là “thủy tinh bồ đào”, quả đen được mệnh danh là “tử bồ đào” (bồ đào tím). Thế nhưng ông không giải nghĩa về nguồn gốc những cách gọi đó.

Người Tây Vực có thói quen uống sữa ngựa (mã nhũ). Khi tôi được người bộ tộc Kazaf mời vào trong Pao (lều của dân du mục) thì họ đã khoản đãi bằng cách vắt sữa ngựa vào trong một vật đựng rất lớn giống như chậu rửa mặt, rồi bà nội trợ trong nhà, một tay không ngừng quấy cho đều, đổ sữa vào bát chúng tôi. Liền tay khuấy như vậy là để sữa khỏi đông. Vị của thức uống này giống như sữa chua (yogourt) nhưng loãng hơn. Bảo nó hoàn toàn không có vị bồ đào thì không đúng. Nhiều quả bồ đào dài tôi thấy trong vườn ở Turfan có màu vàng nhạt như giống nho muscat. Không biết danh xưng của nó đến từ hình thù, màu sắc hay mùi vị. Vì hình thù của nó giống vú động vật, mà trong sữa ngựa lại có thêm cái vị tương tự như vị bồ đào, còn như về màu sắc thì sữa ngựa không có màu vàng.

Danh xưng của bồ đào dính dáng đến ngựa có phải vì đây là đất sản xuất bồ đào và cũng là nơi sinh sản ra danh mã hay không nhỉ? Bồ đào cùng “hãn huyết mã” đều đã được đem từ đây về miền Đông.

Tôi nghĩ giống bồ đào vào đời Hán chưa chắc đã là mã nhũ bồ đào và chỉ đến khi Đường Thái Tông thôn tính Cao Xương thì giống đó mới được đưa về và đem trồng ở các khu vườn trong cung. Đến khi Cao Xương mất nước và mất cả bí quyết cất rượu thì nó mới được chế tạo rộng rãi và quần thần có dịp chia nhau uống. Đường Thư chép:

Ở chốn kinh sư, lần đầu mới được thưởng thức cái vị này...

Trước kia, việc chia rượu tiến cống cho quần thần uống chỉ giới hạn trong vòng các bầy tôi yêu của nhà vua. Cho đến lúc đó, người kinh sư chưa được nếm một vị ngon như vậy. Tuy rằng nó được phổ biến nhưng giá cả hãy còn cao.

Đối với xã hội phương Đông thì bồ đào xưa nay là sản vật có phong vị hương xa (exotic). Khi vẽ những mẩu hoa văn (design) bồ đào, người phương Đông chắc đang để tâm hồn mình chìm đắm trong một thế giới Tây phương xa xôi.

Trong một luận văn đăng trên Iran, tạp chí của Học hội về Ba Tư (Persia) ấn hành vào năm 1963, Basil Grey, một học giả người Anh đã cho rằng: “Kể từ thế kỷ thứ 8 đến 15, ảnh hưởng của Ba Tư lên mỹ thuật Trung Quốc rất lớn lao”. Một trong những trung tâm về mẫu hoa văn của Á Châu là Ấn Độ nhưng Grey lại không nhắc đến. Chắc ông phải có lý do riêng nào đó hay chỉ muốn nhấn mạnh rằng giao lưu giữa hai văn hóa Ba Tư và Trung Quốc mới thật là gắn bó.

Grey đã cho rằng đến nay người ta chỉ để ý tới ảnh hưởng của phương Đông đối với phương Tây chứ không phải theo hướng ngược lại. Thế nhưng ông chỉ nhìn nó trong phạm vi gốm sứ. Vì vậy, tôi không thể nào hoàn toàn đồng ý với ông. Nhiều học giả Âu châu cho rằng văn minh Trung Quốc hầu như đã bắt nguồn từ phương Tây. Không thiếu chi người ủng hộ thuyết “nguồn gốc phương Tây” này. Thời Meiji, có phong trào ngưỡng mộ Tây Phương thái quá nhưng đây cũng chỉ là một biến thái của khuynh hướng đã có tự lâu đời trong lịch sử nghĩa là văn minh đi từ Tây sang Đông.

Nhân đó, có thể nói chuyện mẫu hoa văn bồ đào (bồ đào Đường thảo mô dạng葡萄唐草模様 = budô karakusa moyô) là một ví dụ cụ thể tượng trưng cho dòng chảy của văn hóa từ Tây sang Đông. Ngoài những hoa văn hình tia chớp (lôi văn), hình đám mây (vân văn) hay hình vòng cuốn (hồi văn) là những mẫu mực có sẵn, Trung Quốc còn có thêm những hoa văn nhành lá hay chùm quả bồ đào. Chúng đã làm cho cách trang trí trong sinh hoạt của họ phong phú hơn. Khi được truyền đến Nhật Bản thì nó được gọi là Đường thảo唐草 (Karakusa) nghĩa là mẫu hình hoa cỏ từ bên nhà Đường nhưng thật ra nó đã đi từ phương Tây sang Trung Quốc. Nhà Đường chỉ làm nhiệm vụ chuyển tiếp.

Hoa văn trang trí có hình bồ đào

Biết là hoa văn bồ đào đã được truyền đến Nhật nhưng còn quả bồ đào cuối cùng có được ai đem vào không? Tượng Dược Sư Như Lai tương truyền do tăng Gyôki (Hành Cơ, 668-749) làm ra, trên tay có cầm chùm bồ đào. Nếu vào thời Gyôki mà bồ đào đã được đem vào Nhật thì phải là do một ai đó trong đám sứ thần gửi sang nhà Đường (Khiển Đường Sứ = Kentôshi).

Việc chức quan tuần tra sản vật ở Amemiya thuộc Kôshuu (Giáp Châu, vùng Yamanasahi) tình cờ tìm thấy giống bồ đào dại, bèn bứng rễ nó lên đi trồng ở chỗ khác và chăm sóc kỹ lưỡng có lẽ là bước đầu của chuyện trồng trọt bồ đào ở Nhật. Việc này đã xảy ra vào năm Bunji thứ 2 (1186). Có phải bồ đào dại mà quan tuần tra Amemiya tìm thấy đã rơi rớt ra từ bọc áo của một viên Khiển Đường Sứ nào đó chăng ?

Tượng Dược Sư Như Lai tay cầm chùm bồ đào

Mấy lúc sau này hay thấy trong các cửa tiệm có giống bồ đào không hạt. Giống này đã có từ lúc nào? Vua Càn Long (trị vì 1735-1795) nhà Thanh từng làm một bài thơ nhan đề “Kỳ Thạch Mật Thực”. Nguyên âm của bốn chữ Hán này là Chisumishi. Nghe nói đây là tên để chỉ một loại lục bồ đào (bồ đào màu xanh) trong tiếng Ouguir. Bài thơ có câu:

Bản lai vô tử hà căn thác,
Kê, noãn, thùy tiên, khởi biện cùng.

Cho nên mới biết giống Kỳ Thạch Mật Thực này là loại bồ đào không hạt (tanenashi budô). Tại sao không hạt mà có thể sinh rễ? Chuyện này cũng giống như câu hỏi giữa trứng và con gà, cái nào có trước, có nghĩa là một câu chuyện không hồi kết thúc.

Phần đất Trung Quốc giáp Tây Vực, xưa kia không có giống bồ đào này. Kể từ lúc đó (thời Càn Long tại vị) nó mới được đem từ Bố Cáp Nhĩ (Buhara) tới. Cũng trong bài thơ ấy có câu:

Uyển trung sơ thục lục bồ đào.

Cho biết giống ấy đã được đem trồng trong cấm uyển ở Bắc Kinh.

Ngày nay thì giống nho không hạt mọc rất nhiều ở Turfan và dân địa phương ở đây khi ăn mã nhũ bồ đào thì đều ăn nguyên vỏ vì vỏ của nó hơi khó bóc. Cách đây một năm, nghe nói người ta có nhập cảng mã nhũ bồ đào vào Nhật Bản nhưng có lẽ vì số lượng quá ít nên không có tiếng vang nào.

(Trích Tây Vực Dư Văn (1984), trang 25-35)

..............................

Dạ Quang Bôi:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Đây là câu đầu bài Lương Châu Từ của Vương Hàn. Bài thơ có chép trong Toàn Đường Thi và ở Nhật người nào cũng nằm lòng.

Rượu bồ đào rót vào chén dạ quang, mới dợm uống thì tiếng tỳ bà trên lưng ngựa đã giục giã khuyên mời. Đừng cười ta say vùi năm lăn trên bãi cát, anh nhé, vì xưa nay chinh chiến đã mấy ai sống sót mà về. Bài thơ đại ý như thế.

Lương Châu là một trong Hà Tây tứ quận cùng với Cam Châu, túc Châu và Sa Châu nay là tỉnh Cam Túc. Gọi một cách khác thì đó là vùng cửa ngỏ để vào Tây Vực và gồm có Vũ Uy, Trướng Dịch, Tửu Tuyền và Đôn Hoàng. Sở dĩ gọi là Lương Châu vì thời Ngũ Hồ Thập Lục Quốc đã có năm tiểu chính quyền thay nhau chiếm giữ đất này. Đó là Ngũ Lương.

Đường Huyền Tông yêu chuộng âm nhạc lạ tai và mới mẻ nên đã khuyến khích việc thâu thập làn điệu Tây Vực. Nhân ca từ của chúng đều là tiếng Ba Tư hay Hồi Hột (Ouguir), không ai hiểu nổi, nên phải thay thế bằng ca từ tiếng Hán. Vì vậy những ca khúc của địa phương Cam Túc khi có ca từ tiếng Hán thì được mệnh danh là Lương Châu Từ. Thường thường, Lương Châu Từ viết theo thể thất ngôn, khác với Y Châu Ca của vùng Tân Cương (của người Hồi Hột) hay xuất hiện dưới dạng thơ ngũ ngôn.

Bài thơ Vương Hàn là một tráng sĩ ca, lời thơ của nó hay nhất trong những ca từ nói về Lương Châu. Nó kết hợp tài tình hình ảnh của chiến tranh với không khí mảnh đất miền biên tái nhưng đặc biệt trong đó, câu mào đầu có nhắc đến rượu bồ đào và chén dạ quang, Bồ đào mỹ tửu thì đã được bàn ở bên trên. Thế còn dạ quang bôi là chén như thế nào?

Chính ra thì có nhiều thuyết nhưng ít nhất có thể phân ra thành hai: thuyết chủ trương chén làm bằng ngọc và chủ trương chén bằng thủy tinh (glass).

Dù là ngọc hay thủy tinh, chúng đều có duyên nợ sâu xa với vùng Tây Vực. Vì vậy, nếu tôi được làm trọng tài thì xin phép không thiên về bên nào cả. Một trận huề vì hai chủ trương đều có khả năng như nhau. Ngọc có thể lấy từ rặng Côn Luân và thủy tinh thì được du nhập từ Tây Phương. Do đó, chúng ta không cần phải đưa ra một định thuyết về điều này.

Xưa nay, lụa được xem là đặc sản của phương Đông và được xuất sang Tây. Do đó con đường giao thương mới được gọi là Con Đường Lụa (Silk Road). Dĩ nhiên đó là một sự giao thương hai chiều vì cũng có những sản vật từ phương Tây được mang về miền Đông.

Sản vật của Tây phương thì vô số, trong đó phải có đủ loại thủy tinh. Do đó, nếu đổi lối nhìn thì chúng ta có phể gọi con đường này là Con đường Thủy tinh (Glass Road).

Thủy tinh có một lịch sử lâu đời. Nó bắt đầu được sản xuất ở Egypt. Vương triều thứ 18 (1500 TCN-1300 TCN) của nước ấy đã chế được những bình thủy tinh đục (stained, frosted glass) và có nhuộm màu. Kỹ thuật chế thủy tinh của Egypt và Mesopotamia sau đó được truyền sang Phenicia và Roma rồi quặt ngược về phương Đông. Đế quốc Saracen (của dân du mục Saraceni theo Hồi giáo vùng Syria, NNT) đã sản xuất thủy tinh với một khối lượng lớn. Có thể nói rằng thời xưa ở vùng Cận Đông, trung tâm chế tạo thủy tinh thường xuyên xê dịch.

Thủy tinh thời xưa không được dùng như chén bát mỗi ngày mà chỉ là những vật đắt tiền dành để trang trí nhà cửa. Có thể nói những kẻ sở hữu các vật ấy phải là quí tộc hay phú hào. Họ trưng bày chúng là để phân biệt mình với các giai cấp khác.

Shôsôin (Chính Thương Viện正倉院) (ở Nara, xem như viện bảo tàng tối cổ của Nhật, NNT) thu thập được 6 món đồ để chứa đựng vốn làm bằng thủy tinh. Tuy được xem là vật do các Khiển Đường Sứ mang về nhưng trong số 6 món đồ này ít nhất đã có 5 không do người nhà Đường chế tạo mà là vật được suy định là được Tây Vực sản xuất và đem vào đất Đường, sau mới từ nhà Đường sang Nhật.

Tuy nhà Đường du nhập phẩm vật từ Tây Vực nhưng họ cũng chế tạo tại chỗ nữa. Dĩ nhiên họ dùng nguyên liệu khác và theo một qui trình chế tạo riêng.

Thủy tinh ở phương Tây được làm từ Alcali (Alcali Glass) còn thủy tinh bên nhà Đường là thủy tinh chì (Lead Glass). Trong số 6 món đồ chứa (dung khí) ở Shôsôin thì chỉ có một món tên là Midori Ruuri Juunikyoku no Nagatsuki緑瑠璃十二曲の長坏 (tạm dịch: cốc uống rượu chân cao bằng lưu ly xanh lục có 12 ngấn) là làm bằng thủy tinh chì là có thể xem như là sản phẩm người đời Đường chế ra.

Chén lưu ly được bảo tàng ở Shôsôin

Cũng ở Shôsôin, Haku Ruri Takatsuki 白瑠璃高坏 (cốc chân cao bằng bạch lưu ly) là làm từ loại thủy tinh Alcali trong suốt. Nó có chân cao khoảng 10 cm, trên đó tỏa ra một cái đĩa đáy cạn đường kính 29 cm, giống như đĩa đựng hoa quả bây giờ. Nó rất thích hợp để bày quả bồ đào nhưng không biết đem về Nhật thì đã được dùng vào việc gì?

Vật chứa đựng gọi là Haku Ruri Bin白瑠璃瓶 (Bình bạch lưu ly) thấy ở Shôsôin có lẽ là một món đồ kiểu Ba Tư và chắc đã được đưa từ Trung Đông sang nhà Đường. Tuy có tay nắm nhưng khó thể nghĩ là vật dùng để chứa rượu hay nước vì nhỡ trượt tay mà vỡ thì khốn. Có lẽ nó chỉ dùng để trưng bày.

Bình kiểu Ba Tư (ở Shôsôin)

Nếu ta suy nghĩ theo lối người hiện đại thì cái chén đựng “bồ đào mỹ tửu” không phải làm bằng ngọc mà phải làm bằng thủy tinh thì mới hợp lý.

Như đã thưa trước, thời Đường người ta đã chế được thủy tinh chì nhưng có thể là thủy tinh làm ra ở quốc nội và chắc giá cả không đắt bằng đồ ngoại. Đối với binh lính khi xuất chinh thì đồ ngoại quá xa xỉ. Thói thường, phải là cái “dạ quang bôi” mà khi thòm thèm muốn uống thì đã có sẵn bên mình.

Đừng tiếc tiền làm chi, cứ uống nhanh lên nào!

Tiếng tỳ bà muốn thúc giục các chiến sĩ như thế!

Rượu bồ đào thời đó cũng là đồ ngoại. Rượu nhập từ bên ngoài hẳn phải đắt. Ít nhất đối với rượu mà người bình dân đã quen uống bằng cốc thủy tinh thô sơ thì giá của nó đắt gấp bội. Thường thì họ làm gì có thể nếm rượu hạng sang nhất. Hơn nữa, uống rượu đắt giá bằng cốc thủy tinh đắt giá lại là một sự cực kỳ xa xỉ.

Biết rằng ra chiến trận mình khó thể sống sót mà về. Vì thế binh lính rắp tâm thưởng thức cho được sự xa xỉ tột cùng ấy. Ở Lương Châu – dù là Vũ Uy hay Tửu Tuyền – đều sát nách Tây Vực. Có lẽ nơi đây cả rượu ngon lẫn chén quí đều không đắt đỏ bằng Trường An. Thế nhưng vốn xuất thân từ đám thường dân, đám binh lính đành phải nhắm mắt làm lơ vì chi phí vẫn còn quá cao.

Vương Hàn chỉ để lại mỗi một bài thơ trong Toàn Đường Thi. Không ai biết ông sinh năm nào mất năm nào, chỉ nghe nói ông tự là Tử Vũ, quê Tấn Dương thuộc tỉnh Sơn Tây. Theo liệt truyện trong Tân Đường Thư thì ông là một nhân vật hết sức thiếu hạnh kiểm nhưng:

Tướng mạo trẻ trung, mạnh mẽ, có tài...

Thi đỗ tiến sĩ rồi mà vẫn ham cờ bạc rượu chè, các chứng ấy không sao bỏ. Được quan địa phương ở Sơn Tây là Trương Duyệt (hay Thuyết 張説667-730) yêu mến cho nên khi Trương được gọi về kinh đô làm chức lớn, Vương cũng được cất nhắc. Thuở có địa vị, Vương thường nhìn người chung quanh một cách rẻ rúng.

Trong nhà chứa con hát, hất cằm đưa mắt để ra lệnh cho người, tự xem mình như bậc vương hầu, không ai là không ghét.

Đương thời, hễ là nhà có chút máu mặt, thường nuôi con hát và con múa. Nếu thế thôi thì chưa sao nhưng họ Vương còn là kẻ thích hất hàm đưa mắt ra lệnh, thái độ rất ngạo mạn, coi mình như con nhà vua chúa cho nên tiếng xấu đồn xa là chuyện tự nhiên.

Chẳng bao lâu người đỡ đầu cho Vương là Tể tướng Trương Duyệt bị địch thủ chính trị tấn công đến mất chức, Vương cũng không còn chỗ trong chính quyền trung ương, bị đuổi ra cõi ngoài, hết Nhữ Châu trưởng sử, Tiên Châu biệt giá, Đạo Châu tư mã, lòng vòng nhận các chức quan địa phương.

Nhữ Châu và Tiên Châu nằm trong tỉnh Hà Nam nên còn tạm được chứ Đạo Châu là vùng biên địa ở mãi Hồ Nam, tiếp giáp với Quảng Tây. Thế nhưng dù bị tả thiên và trong cảnh bất ngộ như thế, thái độ của Vương vẫn không thay đổi. Hình như lúc đó thì Vương:

Mỗi ngày tụ họp hào, hiệp, tài, sĩ, uống rượu săn bắn mua vui.

Theo kinh lịch của Vương thì thấy ông đã để lại dấu chân ở các vùng Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam và Hồ Nam nhưng không đâu ghi chép ông có lần ghé Lương Châu. Hồi làm việc ở Trường An, ông giữ các chức Bí Thư Chính Tự, Thông Sự Xá Nhân, Giá Bộ Viên Ngoại Lang nghĩa là việc coi về sách vở, nghi vệ, xa giá kiệu liễn cho Thiên tử, cho nên chưa có một ngày tòng quân.

Bài Lương Châu Từ của Vương tuy nói về cuộc đời của chiến sĩ ngoài trận mạc nhưng không phải ông mô tả một thực trạng mà chỉ nghe từ đâu đó rồi viết ra nghĩa là tất cả đều đến từ sự tưởng tượng ở trong đầu tác giả.

Còn như các chiến sĩ đang rót đầy rượu bồ đào ngon vào chén dạ quang lấp lánh rồi uống cho đến say vùi trên sa mạc, họ sẽ đi chinh chiến ở miền nào?

Tuy năm sinh năm mất của Vương Hàn thì không ai rõ nhưng ta biết việc Tể tướng Trương Duyệt bị địch thủ chính trị đàn hạch đến nỗi mất chức đã xảy ra vào khoảng năm Khai Nguyên thứ 9 (721). Việc Vương Hàn đổ tiến sĩ thì đã xảy ra 10 năm trước đó. Vì vậy ta có thể hiểu là thời gian Vương Hàn lịch nhiệm ở các địa phương là giai đoạn tuổi tráng niên hoặc sơ lão của nhà thơ. Năm Trương Duyệt mất chức, Lý Bạch 21 tuổi, Đỗ Phủ lên 10. Tuy cùng mang danh thi nhân Thịnh Đường nhưng Vương Hàn có lẽ sống và hoạt động trước hai thi hào kia những một thế hệ.

Lại nói các chiến sĩ say vùi bãi cát thì đối tượng chiến đấu của họ là ai ? Chính ra những cuộc hành quân qui mô ở Tây Vực vào đời Đường chỉ có hai, trước tiên có việc Thái Tông tấn công Cao Xương (Đông bộ Tân Cương) và trận đánh thành Talas (nay thuộc Kirgystan) dưới thời Huyền Tông.

Việc Thái Tông thôn tính Cao Xương xảy ra vào lúc Huyền Trang còn du học ở Ấn Độ. Đó là năm Trinh Quán thứ 14 (640). Nhà Đường lập ngay An Tây Đô Hộ Phủ và sáp nhập phần đất này vào bản đồ nhà Đường. Ở thời điểm đó thì Vương Hàn – tác giả Lương Châu Từ – hãy còn chưa sinh ra.

Trận giao chiến với quân Saracen ở thành Talas mà tướng nhà Đường gốc Triều Tiên là Cao Tiên Chi tham dự đã xảy ra vào năm Thiên Bảo thứ 10 (751). Lúc ấy, Trương Duyệt mất chức (721) đã 30 năm. Khi Vương Hàn ra làm quan ở các địa phương thì ông đã ở tuổi tráng niên hay sơ lão nên khó có khả năng sống đến tận thời ấy.

Trong khoảng thời gian đó, dù không có những trận đánh với qui mô lớn, vẫn có nhiều cuộc đụng độ nhỏ. Ở địa phương Lương Châu, khoảng trước sau năm 721 tức là lúc Vương Hàn đang ở tuổi tráng niên và cũng là năm Trương Duyệt mất chức, chẳc tình hình đang ở trong giai đoạn khẩn trương. Đối thủ của quân nhà Đường thời đó là người Thổ Phồn (Tibet).

Quách Tri Vận, người dâng khúc Lương Châu Từ lên Huyền Tông và An Tây Phó Đại Đô Hộ là Thang Gia Huệ mới phá xong liên quân Saracen- Thổ Phồn trước đó mới có mấy năm.

Việc bất hòa với nhà Đường cũng làm Thổ Phồn khốn khổ không ít. Trước kia việc buôn bán với Đường là cơ sở kinh tế của họ. Thổ Phồn gửi sứ giả xin ký kết hòa hiếu nhưng Đường làm ngơ vì lúc ấy Đường đang ở vào thời toàn thịnh, tự ái cao, không thể nào dung thứ việc Thổ Phồn lâu lâu lại gửi quân du kích sang quấy nhiễu, tuy đối với sứ giả thì vẫn cư xử tử tế.

Sau khi Trương Duyệt mất chức được một năm, người Thổ Phồn đem quân bao vây Tiểu Bột Luật trên cao nguyên Pamir (nay thuộc Tadzhikistan), giao chiến với quân tiếp viện của Phó Sứ Sơ Lặc (Kashgar) là Trương Tư Lễ. Quân Thổ Phồn bị đánh lui, từ đó sức tấn công của họ yếu đi.

Chiến sự Pamir chắc không ảnh hưởng Lương Châu - vốn nằm trong tỉnh Cam Túc - cho lắm. Một trận đánh cỡ đó chỉ cần huy động binh lính tại chỗ. Nếu là một căn cứ địa thuộc vùng Lương Châu mà Vương Hàn vịnh thì chỉ có thể là từ Vũ Uy cho đến Tửu Tuyền mà thôi. Thời điểm ấy có lẽ là vào năm Khai Nguyên thứ 15 (727) bởi vì tháng giêng năm đó, Đô Đốc Lương Châu của nhà Đường đã phá được quân Thổ Phồn ở Thanh Hải và đoạt được rất nhiều ngựa và dê. Cũng vào tháng 9 cùng năm, người Thổ Phồn đánh phá Qua Châu để trả thù, bắt đi một số quan lại và thường dân, cướp bóc lương thực. Qua Châu là phần đất nằm giữa Tửu Tuyền và Đôn Hoàng, hiện tại có tên là huyện An Tây.

Thấy tình hình có vẻ rắc rối, nhà Đường mới gửi đại quân tới Cam Túc.

Theo nguồn của Tư Trị Thông Giám thì tháng chạp năm ấy, ngoài 5 vạn binh của các quân đoàn thuộc đạo Lũng Hữu và 4 vạn binh thuộc đạo Hà Tây, còn có thêm 1 vạn binh Quan Trung tụ họp ở Lâm Đào, 1 vạn binh Sóc Phương tụ họp ở Hội Châu, cùng chuẩn bị tiến đánh Thổ Phồn.

Rót rượu bồ đào vào chén dạ quang, uống đến túy lúy rồi say vùi trên bãi cát ... chắc là chuyện của những binh tướng trong lần điều binh này.

Lúc đó Vương Hàn đang ở Hà Nam hay Hồ Nam, nghe tin có cuộc động viên lực lượng lớn đến như vậy, trong lòng nhiệt huyết hẳn trào sôi. Thế nhưng ông ta không còn trẻ nữa, muốn trở lại thời thiếu tráng thì chỉ có thể là qua thơ.

Vốn người thích phóng ngựa đi săn với các bạn hào du ở địa phương nên tuy là văn nhân ông cũng yêu mến sự dũng cảm. Ông chẳng đã đặt mình vào vị thế của người quân nhân mà viết nên bài Lương Châu Từ hùng tráng kia là gì?

Tập họp đến hơn 10 vạn binh nhưng sau đó chỉ xảy ra những cuộc thảo phạt có tính cục bộ chống lại quân du kích ở Qua Châu, thành Kỳ Liên, thành Thạch Bao mà thôi. Đến năm Khai Nguyên thứ 18 (730) thì nhà Đường đã lập được hòa ước với người Thổ Phồn.

Thật đáng kinh ngạc với con số quân lính nhà Đường tụ họp ở Cam Túc. Mới biết cuộc chiến tranh này rất bi tráng và không phải đã xảy ra một cách dễ dàng đối với họ họ.

Về Tể tướng Trương Duyệt - người che chở Vương Hàn – thì sau khi mất chức một thời gian đã được phục quyền. Trên thực tế ông không còn dính vào chính trị mà chỉ ngồi biên soạn sử sách.

Giữa khi có cuộc chiến tranh khốc liệt ở Qua Châu thì Trương Duyệt đã đem dê chọi (đấu dương) dâng lên Huyền Tông. Dê là giống thú được tiếng là hiền lành nhưng trong số đó cũng có những con dũng mãnh. Tỉnh Tứ Xuyên là nơi sinh sản ra giống dê chọi hoang dã ấy. Trương Duyệt vì đau chân không vào triều được, chỉ cho con trai đem dâng biểu, đại ý nói:

- Dê là giống không biết nói năng. Nếu không khiến cho những con dê này nói được thì chúng sẽ chiến đấu tới cùng đến khi có một bên phải chết.

Khi dê giương sừng và thở phì phò, hai chân dậm đồm độp là như muốn báo cho địch thủ rằng: “Một là ta giết ngươi, hai là bị ngươi giết. Tới đây xem nào !”,.

Nhìn cảnh chọi trâu hay chọi chó, ta thấy hai giống vật này thật dũng mãnh. Lạ lùng thay, dê thì khác, dù là một con dê mạnh bạo đến đâu, nó không thể dũng mãnh như trâu hay chó. Nhưng giờ đây nó phải chứng minh rằng mình lúc nào cũng là kẻ mạnh nhất thế giới. Có cái là dù giết ai hay bị ai giết, cái chết của nó cũng không có ý nghĩa.

Có thể xem việc dâng dê chọi như là lời can gián của Trương Duyệt đối với nhà vua. Ông muốn nói: -

Xin ngài đừng thí mạng quân sĩ một cách vô nghĩa.

Huyền Tông nhận được dê chọi dâng lên, mới ban cho họ Trương một nghìn tấm vóc (ayakinu) như đã hiểu được ý nghĩa sâu sắc của cử chỉ ấy.

Thế nhưng nếu cuộc chiến tranh với Thổ Phồn ở Cam Túc không phát triển ra thêm không phải vì chỉ có lời khuyên can bằng cách dâng dê chọi của Trương Duyệt mà thôi. Các trọng thần khác trong triều đều can gián một cách tương tự như thế. Riêng Huyền Tông thì từ khi cuộc chiến bắt đầu, không rõ bản tâm ông nghĩ như thế nào? Ông có làm như thế chỉ vì muốn giữ thể diện Đế quốc Đại Đường và trừng phạt chiến tranh du kích của người Thổ Phồn hay không? Từ hoàng đế cho đến các yếu nhân chính phủ, họ chắc chỉ muốn thị uy chứ không có tinh thần quyết chiến.

Tuy vậy đám binh sĩ đang đồn binh đâu thể nào hiểu như vậy. Triệu tập đại binh từ các nơi đến như thế ắt là để tổ chức một cuộc chiến tranh qui mô. Một bầu không khí bi tráng tràn ngập lên chiến trường phương Tây và một thi nhân ở cõi ngoài là Vương Hàn đã cảm được điều đó nên đem vào thơ mình:

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Nghe như một câu tuyệt xướng. Giống cảnh Kinh Kha, khi vào đất Tần 1.000 năm trước thời Thịnh Đường, từng ngâm nga:

Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Binh lính xuất thân thường dân đâu biết gì đến đại cuộc. Ý chí của hoàng đế hay đường lối nhà nước ra sao, họ không màng. Chỉ là con tốt trên bàn cờ, được đem đặt ở đâu và cho mục đích gì, họ đều không rõ.

Tất cả thế giới của họ chỉ nhuốm một màu. Đó là tình cảm bi tráng và lòng khảng khái.

Cá nhân Vương Hàn cũng không toàn bích. Ông là một cái chén ngọc đáng quí nhưng có tỳ vết. Cả trong đời sống cũng như trong thơ. Riêng “dạ quang bôi” trong Lương Châu Từ có thuyết cho đấy là ngọc chứ không phải thủy tinh.

Hai chữ “dạ quang” khiến ta liên tưởng đến sự lấp lánh. Có chữ “dạ quang châu” để nói về một loại ngọc ở vùng Nam Hải, ánh lên dưới nước. Có nơi cho là mắt của kình ngư nhưng cũng có thể là một thứ ngọc trai tuyệt đẹp. Dĩ nhiên thủy tinh cũng lấp lánh, đặt biệt là loại thủy tinh được chạm khắc (cut glass, crystal glass). Nó hút ánh sáng rồi lại phóng ra.

Ở Shôsôin, có một cái chén làm theo kỹ thuật chạm khắc lên thủy tinh, gọi là chén Haku Ruri-wan 白瑠璃碗 (Bạch Lưu Ly oản). Kỹ thuật chạm khắc này khá phổ thông vào thời Đường. Nếu ta tưởng tượng kiểu đó thì sẽ xem dạ quang bôi làm từ thủy tinh được chạm khắc (cut glass). Trái lại, ngọc thì không lấp lánh như thủy tinh nhưng tỏa ánh sáng dịu dàng và thanh nhã hơn. Điều này làm nên giá trị của ngọc. Cho nên nếu là chén bằng ngọc trong suốt thì vẫn mệnh danh được là “dạ quang bôi”. Ngay khi ngọc không có độ trong suốt hoàn toàn cũng có thể gọi như thế. Bởi vì đặt một bộ phận trong suốt bên cạnh một bộ phận không trong suốt thì bộ phận trong suốt sẽ nổi bật lên.

Tửu Tuyền huyện Dạ Quang Bôi xưởng

Đó là tên công xưởng tôi đến thăm năm 1975 trong chuyến đi Đôn Hoàng. Người địa phương Tửu Tuyền trong tỉnh Cam Túc cho rằng dạ quang bôi làm ra từ dạ quang ngọc, một nguyên liệu tìm thấy ở Tửu Tuyền. Người sở tại gọi nơi đó là Nam Sơn. Từ Tửu Tuyền mà nhìn thì thấy ngọn núi này ở phía nam nên mới có tên như thế. Núi ấy là rặng Kỳ Liên Sơn vậy.

Dạ quang ngọc còn có tên là “ngọc thạch”. Thực ra giá trị của nó không bằng ngọc núi Côn Luân . Như cái tên ngọc thạch của nó, ấy là một loại ngọc hỗn tạp, trung gian giữa ngọc và đá. Nó đứng bên dưới ngọc nhưng đứng bên trên đá.

Về màu sắc, ngọc thạch có nhiều loại: trắng, xanh nhạt, xanh đậm, đen tuyền vv...Tuy có nhiều loại khác nhau nhưng điểm chung của nó là ở đây đó có đôi chỗ trong suốt.

Vì vậy, nếu cầm chén (oản) hay cốc uống rượu (bôi) làm bằng ngọc thạch ở Nam Sơn đưa lên xem thì những bộ phận trong suốt sẽ lấp la lấp lánh.

Ở nơi vật làm bằng ngọc màu sậm thấy phát ra ánh sáng nhiều hơn là nơi vật làm bằng ngọc màu nhạt. Lúc tôi đến thăm công xưởng chế chén ngọc nhằm buổi sáng chứ nếu là ban đêm thì đã thử đem soi chúng dưới ánh trăng rồi. Chắc chắn là dưới ánh trăng, dạ quang bôi của Vương Hàn phải là vật làm từ ngọc dạ quang, biệt danh là ngọc thạch, của địa phương này!

Tên công xưởng Dạ Quang Bôi có lẽ đến từ câu thơ quá nổi tiếng của Vương Hàn. Không những ở đây họ chế tạo cốc uống rượu mà còn làm chén bát hay các vật dụng trưng bày có chạm khắc nữa.

Bởi vì giá rẻ hơn ngọc nên loại cốc dạ quang ngọc đã được người đương thời dùng như vật dụng trong nhà chăng? Có lẽ vì nghĩ thế mà tôi đã mua vài cái để dùng hằng ngày và đến nay vẫn còn dùng.

Có phải Vương Hàn đã biết đến loại dạ quang bôi của đất Tửu Tuyền vì ai đấy đã đem biếu cho mình và trở thành yêu thích nó hay không? Họ Vương vốn là một nhân vật thích uống rượu kia mà!

Thế rồi biết đâu chẳng vì thế nên khi trong đầu bật ra hình ảnh cái chén làm bằng ngọc dạ quang này, ông đã đưa nó vào áng danh thi. Truyền thuyết về chữ “dạ quang bôi” đã có từ đời Chu Mục Vương. Nghe nói người Tây Vực có dâng lên nhà vua “Dạ Quang Thường Mãn Bôi”. Chén này có thể đựng được 3 thăng bạch ngọc tinh chất. Một thăng đương thời ngang với một hợp (gô) của Nhật bây giờ. Trút hết ngọc đi rồi, ban đêm chỉ cần đem nó ra để sẵn đấy thì đến sáng hôm sau, sẽ tràn đầy lại. Đó là chuyện chỉ nghe từ trong truyền thuyết nhưng nếu chén ấy là vật tiến cống đến từ Tây Vực thì dù có xuất hiện trong Lương Châu Từ, cũng có thể gọi là điều phù hợp.

(Trích Tây Vực Dư Văn (1984), trang 153-169)

Biên dịch xong ở Tokyo ngày 18 /12/2017.

NNT

Thư mục tham khảo:

1) Chin Shun-Shin (Trần Thuấn Thần), Saiiki Yobun (Tây Vực Dư Văn), Asahi Bunko, Asahi Shinbunsha xuất bản, Tokyo, 1984.

2) Chin Shun-Shin (Trần Thuấn Thần), Tôshi Shinsen (Đường Thi Tân Tuyển) Shinchô Bunko, Shinchôsha xuất bản, Tokyo, 1989.

3) Hình ảnh Internet.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com