Tâm sự nữ thi nhân

(Tạp bút thơ Đường)

Nguyên tác: Chin Shun-Shin

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân  

Hình ảnh Tiết Đào qua tranh cổ

Trong số những nhà thơ phái nữ đời Đường thì Tiết Đào (768-831) và Ngư Huyền Cơ (843-868) nổi tiếng hơn cả. Toàn Đường Thi có sao lục lại hơn 150 bài của một người tên Hoa Nhụy phu nhân. Hai ông Vi Trang và Hàn Ốc dù có sống một số năm sau khi nhà Đường đã bị diệt vong nhưng vì thời kỳ hoạt động của họ là dưới thời Đường nên có tính vào danh sách thi nhân đời Đường chắc cũng không sao. Duy Hoa Nhụy phu nhân chắc chắn là đã sinh ra sau khi nhà Đường mất. Không chừng những người soạn ra sách ấy xem đời Ngũ Đại tức  buổi giao thời ngắn ngủi khoảng nửa thế kỷ nằm giữa hai thời Đường và Tống - hai thời đại lớn trong lịch sử Trung Quốc - như là nhà Đường kéo dài nên mới xử lý như vậy.

Ở Nhật ngày xưa cũng giống như bên đó, hễ là đàn bà thì chỉ được gọi là “con gái ông nào” hay là “vợ của ai”, “mẹ của ai” mà thôi cho nên danh tính các bà không mấy khi được biết. Những bà giúp việc trong cung, nhiều người rất có tài thơ văn nhưng cũng không ai rõ tên thực của họ là gì. Người ta chỉ dùng miếu hiệu của hoàng đế trị vì thời họ sống như “cung nhân đời Khai Nguyên”, “cung nhân thời Thiên Bảo” hay “cung nhân của Đức Tông” để gọi thôi.

Có một tác phẩm nổi tiếng xưa nay là bài Bào Trung Thi 袍中詩 (Thơ luồn trong áo bào) của một bà tên là “Cung nhân thời Khai Nguyên (712-741)”. Vào thời Khai Nguyên, lâu lâu lại có một cuộc viễn chinh đánh nước ngoài. Lúc ấy thì cung nhân đang phải khâu những chiếc áo gấm để ban thưởng cho quân sĩ trên chiến trường. Có một người lính nhận ra rằng tấm áo tặng cho anh có luồn một mảnh giấy chép bài thơ dấu bên trong:

Sa trường chinh thú khách,

沙場征戍客

Hàn khổ nhược vi miên.

寒苦若為眠

Chiến bào kinh thủ tác,

戦袍経手作

Tri lạc a thùy biên.

知落阿誰邊

Súc ý đa thiêm tuyến,

蓄意多添線

Hàm tình cánh trước miên.

含情更著綿

Kim sinh dĩ quá dã,

今生已過也

Nguyện kết hậu sinh duyên.

願結後生縁

Nàng cung nhân không biết mảnh chiến bào nàng đã đem hết tâm huyết ra khâu này sẽ được khoác lên mình ai. Thường thì con gái phục vụ trong cung không có người nào dám nghĩ đến chuyện hôn nhân.”Kiếp này duyên đã lỡ, Xin hẹn kiếp mai sau!”. Người được mặc tấm áo gấm đó chắc phải là một chinh nhân trẻ tuổi. Và trong tấm áo, chàng đã bắt gặp bài thơ nàng cung nữ giải bày tâm sự.

Người lính trẻ kia bèn trình bày thơ ấy cho cấp trên của mình và viên sĩ quan đã tâu lên triều đình. Nghe nói rằng vua Huyền Tông đã đưa nó ra cho cả triều thần xem. Trong tấm áo ban thưởng cho quân sĩ mà dám dấu thư tình như thế là phạm vào tử tội. Từ đám cung nữ, có một nàng bước ra tự thú và nhận tội. Huyền Tông bèn bảo nàng giải bày lý do rồi cho phép người quân nhân nhận được bức thư lấy nàng làm vợ. Tương truyền nhà vua đã phán: “Vậy thì để trẫm tác thành cái duyên nội trong kiếp này cho nhà ngươi!”.

Lời than thở của vợ người đi tùng quân cũng là một đề tài thường xuyên thấy trong thơ văn. Bài Tý Dạ Ngô Ca 子夜呉歌 bắt đầu với câu thơ “Trường An nhất phiến nguyệt” của Lý Bạch chẳng hạn là một bài thơ than thở thay cho người vợ lính. Còn như thơ của phụ nữ tự than thở thì đã có bài Ký phu 寄夫của nàng Trần Ngọc Lan陳玉蘭, trong đó có câu “Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ” được nhiều người biết tiếng.:

Phu thú biên quan, thiếp tại Ngô,

夫戍邊関妾在呉

Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu.

西風吹妾妾憂夫

Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ,

一行書信千行涙

Hàn đáo quân biên, y đáo vô.

寒到君邊衣到無

Thơ thất ngôn tuyệt cú tất cả chỉ có 28 chữ, nguyên tắc mỗi chữ viết ra lại không được trùng phức. Thế nhưng trong bài này chữ “thiếp” đã được dùng đến 3 lần, các chữ “phu”, “biên”, “hàng”, “đáo” đều được dùng đến 2 lần. Cách dùng chữ lập đi lập lại như vậy đã làm toát ra cái ý “triền miên” trong bài. Toàn Đường Thi cho biết Trần Ngọc Lan người đất Ngô và vợ của Vương Giá 王駕. Cũng trong Toàn Đường Thi, mục nói về Vương Giá, có đăng bài thơ nhan đề là Cổ Ý của ông. Tác phẩm của Vương Giá, cũng như Tý Dạ Ngô Ca của Lý Bạch, nội dung đều nói lên nỗi lòng của vợ người quân nhân đang tùng chinh. Nhưng nếu đúng là Vương Giá người Hà Trung, Sơn Tây và bạn của hai nhà thơ Vãn Đường là Trịnh Cốc và Tư Không Đồ thì không phải là người đất Ngô. Chồng của Trần Ngọc Lan tuy đồng tính đồng danh nhưng là một nhân vật khác. Không hiểu lúc thu thập thơ, các nhà biên tập Toàn Đường Thi có bị lẫn lộn hay không?

Đối với người vợ thì không gì cay đắng hơn là việc chồng mình bị gửi ra chiến trường. Thế nhưng ngoài điều đó ra còn lắm thứ lao khổ khác. Trường hợp những bà vợ trẻ các nho sĩ thì đó là việc thi cử của chồng mình. Bạch Cư Dị đỗ Tiến sĩ lúc 29 tuổi, Hàn Dũ năm 25. Sau khi đã đỗ Tiến sĩ rồi, các ông còn phải chuẩn bị và dự một kỳ thi có trình độ cao hơn là Bác học hoằng từ, nếu không đỗ khoa này thì hoạn lộ sẽ gặp khó khăn.Ngay người như Hàn Dũ, dù đậu Tiến sĩ xong nhưng sau đó đã trượt Bác học hoằng từ liên tiếp 3 năm.

Bà họ Triệu 趙 (có nơi cho là họ Lưu) , vợ Đỗ Cao杜羔, có bài thơ nhan đề “Phu Lạc Đệ”夫落第:

Lương nhân đích đích hữu kỳ tài,

良人的的有奇才

Hà sự niên niên bị phóng hồi.

何事年年被放回

Như kim thiếp diện tu quân diện,

如今妾面羞君面

Quân nhược lai thời cận dạ lai.

君若来時近夜来

Ý bà nói nếu như anh thi trượt thì chớ có về nhà giữa ban ngày ban mặt. Bị vợ răn đe ngày một, rốt cuộc Đỗ Cao đã đậu được Tiến sĩ. Phu nhân Triệu thị lúc đó mới viết bài thất ngôn tuyệt cú “Văn phu Đỗ Cao đăng đệ”聞夫杜羔登第:

Trường An thử khứ vô đa địa,

長安此去無多地

Uất uất thông thông giai khí phù.   

鬱鬱葱葱佳気浮

Lương nhân đắc ý chính niên thiếu,

良人得意正年少

Kim dạ túy miên hà xứ thê.

今夜酔眠何処棲

Nay chồng thi đỗ, chẳng những không hết lo mà còn đeo theo một mối lo khác. E rằng chồng mình xem Trường An không còn là chốn đáng lo nữa, ý khí dương dương như một anh trai tráng sau khi đã say men chiến thắng. Đêm nay bà lo rằng không biết ông ta ngủ lại thanh lâu kỹ viện nào?

Đỗ Cao là Tiến sĩ khoa Trinh Nguyên sơ niên, làm quan từ Chấn Vũ Tiết Độ Sứ lên đến Công Bộ Thượng Thư (tương đương Tổng trưởng ngành Xây Dựng). Có thể nhờ công lao nội trợ của bà vợ bên trong cũng nên. Bà họ Triệu, vợ ông, còn có bài thơ như sau:

Thượng Lâm viên trung thanh thanh quế,

上林園中青青桂

Triết đắc nhất chi hảo phu tế.

折得一枝好夫壻

Hạnh hoa như tuyết liễu thùy ti,

杏花如雪柳如絲

Xuân phong đãng dương bất đồng chi.

春風蕩颺不同枝

Nhan đề của bài là Tạp Ngôn. Thơ tạp ngôn là một thể thơ không qui định số chữ. Tuy vậy, hình thức của bài thơ trên lại là thất ngôn tuyệt cú, cho nên có lẽ tác giả muốn nói là mình đang trình bày (ngôn) loanh quanh đủ thứ chuyện (tạp) trong bài ấy. Thượng Lâm là tên một khu vườn của Thiên tử, nơi đây cây quế mọc xanh um, ý nói là có đông đảo gia thần của Thiên tử. Ở Nhật, quế đọc là katsura (quế), còn ở Trung Quốc thì quế là mokusei (mộc tê). Đời Tấn, có người tên là Khích Chân khi đã đỗ Tiến sĩ và lên đường phó nhậm, khi Thiên tử muốn hỏi xem tâm tình của ông hiện như thế nào thì Khích trả lời là “Thần thấy như vừa mới bẻ được một cành trong rừng quế”, Do đó cách nói “bẻ cành quế” là để ám chỉ việc đỗ Tiến sĩ vậy. Bà họ Triệu muốn bày tỏ lòng tự hào có một người chồng đạt được danh hiệu ấy. Hạnh cũng như liễu đều là những loại cây quí nhưng cành lá không thể sánh được với quế. Bà muốn minh định rằng người chồng của mình vẫn có phẩm chất cao hơn. 

Trần Ngọc Lan cũng như Triệu thị đều được xếp vào loại “danh viện” 名媛 (con gái lương gia nổi tiếng) trong Toàn Đường Thi. Trong khi đó, Tiết Đào bị liệt vào hàng “kỹ nữ” để phân biệt với họ. Thế nhưng ở phường Bình Khang trong thành Trường An, dường như có rất nhiều kỹ nữ học thức, đa tài đa nghệ, biết xướng họa thi phú với khách và đó là điều kiện để trở thành danh kỹ.

Thoạt tiên, Tiết Đào 薛涛sinh ra trong một gia đình gia giáo ở Trường An. Khi cha nàng được bổ làm một chức quan nhỏ trong đất Thục, gia đình nàng đã đồng hành. Cha mất nơi nhiệm sở, nàng phải trở thành kỹ nữ. Kiếm Nam Tây Xuyên Tiết Độ Sứ Vi Cao và Giám Sát Ngự Sử Nguyên Chẩn đều yêu mến tài thơ của nàng. Nàng được ban tặng danh hiệu là “Nữ hiệu thư”. Hiệu thư tức lược xưng của Hiệu thư lang. Đó là chức quan có phận sự hiệu đính văn thư mà nhà nước đặt ở Môn Hạ Tỉnh và Bí Thư Tỉnh. Tuy chỉ là một chức quan cửu phẩm nhưng phải là người có tư cách và văn tài. Tương truyền Nguyên Chẩn thường nhờ nàng sửa chữa văn thư. Về sau, “hiệu thư” trở thành tên gọi đặc biệt dành cho kỹ nữ.

Tiết Đào phụng sự hết thảy 11 đời Tiết Độ Sứ ở Thành Đô. Nói cách khác, nàng là một “quan kỹ”.Thường thường kỹ nữ là người phải khom mình uốn gối để chiều chuộng khách, còn trường hợp danh kỹ thì chỉ khi biểu lộ được cá tính, họ mới trở thành hấp dẫn. Duy việc bộc lộ cá tính quá rõ có thể làm khách mất lòng. Dưới thời phong kiến, khi làm cho giai cấp cai trị tức giận là chuốc họa vào thân và có thể mất mạng. Khéo léo làm sao để sự thể ấy không xảy ra cũng là một kỹ năng để trở thành danh kỹ. Tuy Tiết Đào có lần làm cho Nguyên Chẩn nổi cơn thịnh nộ nhưng nàng đã viết Thập Ly Thi để dâng lên ông và được tha tội. Thập Ly Thi là thơ nói lên sự cay đắng khi phải chia ly với kẻ mình tin tưởng và trông cậy. Tất cả có 10 thiên: Khuyển ly chủ, Bút ly thủ, Trúc ly đình, Kính ly đài, Mã ly xí, Anh vũ ly lung, Yến ly sào, Chu ly chưởng, Ngư ly trì, Ưng ly câu. Bài Bút ly thủ 筆離手 (Bút rời tay) trong đó như sau:

Việt quản Tuyên hào thủy xứng tình,

越菅宣毫始称情

Hồng tiên chỉ thượng tát hoa quỳnh.

紅箋紙上撒花瓊

Đô duyên dụng cửu phong đầu tận,

都縁用久鋒頭盡

Bất đắc Hy Chi thủ lý kình.

不得羲之手裏擎

Ý nói lúc đầu đó là một quản bút tốt vì làm bằng trúc Chiết Giang (Việt) và lông mịn của Tuyên Châu (Tuyên), vẽ được những hàng chữ đẹp như rắc hoa lên những mảnh hoa tiên màu hồng.Thế nhưng vì dùng lâu, mũi bút đã hao mòn, không còn được bàn tay của đại gia thư đạo Vương Hy Chi nắm lấy nữa.

Tuyên Châu (nay là Tuyên thành thuộc tỉnh An Huy) là nơi sản xuất giấy và bút có chất lượng tốt nên ngay cả người Nhật cũng biết đến cái tên Họa Tuyên Chỉ. Nghe nói giống thỏ ở đây vì ăn trúc và uống nước suối nên có bộ lông màu tím rất mịn. Nó là một nguyên liệu hiếm có để làm nên quản bút Tuyên Châu cao giá.

Theo khảo chứng của học giả Văn Nhất Đa thì Tiết Đào sinh vào năm Đại Lịch thứ 3 (768), lớn hơn Nguyên Chẩn 11 tuổi. Lúc họ Nguyên vào đất Thục lãnh chức Giám Sát Ngự Sử năm Nguyên Hòa thứ 4 (809) thì Tiết Đào đã 42 tuổi. So với nàng thì ông đại quan này hãy là một người trẻ tuổi chưa thạo đời nên nàng có lẽ hơi coi thường và điều ấy đã tỏ ra qua thái độ. Tuy nhiên , khi biết được người đối diện cáu lên thì nàng đã làm ngay Thập Ly Thi (Mười bài thơ nói về ly biệt) để làm lành. Đúng là cách xử sự khéo léo của một danh kỹ. Thời còn trẻ hơn, nàng có lần đã làm Tiết Độ Sứ Vi Cao nổi giận khiến ông ra lệnh trừng phạt bằng cách gửi nàng ra quân doanh để ủy lạo các chiến sĩ biên phòng. Khi đó, nàng đang được Vi Cao sũng ái, những người nào muốn xin xỏ Tiết Độ Sứ điều gì đều đến cầu cạnh nàng nên hay đem vàng bạc tặng biếu. Cơn giận của Vi Cao có thể đến từ đó và nàng phải nhận sự trừng phạt. Tuy nhiên vì quá nặng tình nên khi nàng đi được đến nửa đường, Tiết Độ Sứ đã cho người gọi về. Ngay lúc dầu có lẽ ông không có chủ ý đưa nàng ra ngoài biên cảnh mà chỉ muốn làm một hành động cảnh cáo nghiêm trọng thôi.

Văn đạo biên thành khổ,

聞道邊城苦

Kim lai đáo thủy tri.

今来到始知

Tu tương Môn Hạ khúc,

羞将門下曲

Xướng dữ Lũng Đầu nhi.

唱與隴頭児

Môn Hạ khúc là khúc hát thanh nhã ở chốn kinh đô, còn Lũng Đầu là biên cảnh tỉnh Cam Túc. Lũng Đầu nhi là những tướng binh đang giữ cửa ải. Ý Tiết Đào muốn nói là nếu đem những khúc hát thanh nhã ở chốn kinh đô mà hát cho những chiến sĩ đang lao khổ phòng biên là một việc mình cảm thấy thẹn thùa. Chỉ cần đến nơi đây mình đã hiểu được điều ấy rồi, lọ là đi mãi đến Tùng Châu, nơi họ đóng binh. Đó là nội dung của bài thơ nàng viết nhan dề “Phạt phó biên hữu hoài, thướng Vi lệnh công”. Ngoài ra, Tiết Đào còn có hai bài thất ngôn tuyệt cú nhan đề “Phạt phó biên, thướng Vũ tướng công” nữa.

Người nói trên là một vị Tiết Độ Sứ khác, đóng tại Thành Đô, tên Vũ Nguyên Hành. Ông này sau làm đến Tể tướng nhưng bị ám sát chết. Tuy nhiên, không lẽ một danh kỹ như Tiết Đào có thể sai phạm đến hai lần cùng một việc như vậy cho nên nhiều nhà nghiên cứu mới cho rằng đây là một sự nhầm nhẫn về tự dạng giữa Vũ và Vi mà thôi.

Huỳnh tại hoang vu, nguyệt tại thiên,

蛍在荒蕪月在天

Huỳnh phi khởi đáo nguyệt luân biên.

蛍飛豈到月輪邊

Trùng quang vạn lý ưng tương chiếu,

重光萬里応相照

Mục đoạn vân tiêu tín bất truyền.

目断雲霄信不傳

Đối tượng là trăng (nguyệt), mình chỉ là đom đóm (huỳnh). Nàng muốn tỏ bày là không thể làm cho ai kia hiểu dược nỗi lòng. Nâng giá trị người đối thoại lên cao cũng là một ngón nghề của danh kỹ.

Án bí lãnh đầu hàn phục hàn,

按轡嶺頭寒復寒

Vi phong tế vũ triệt tâm can.

微風細雨徹心肝

Đản đắc phóng nhi qui xá khứ,

但得放児帰舎去

Sơn thủy bình phong vĩnh bất kiên (kiến).

山水屏風永不見

Được ngài cho phép được nhìn cảnh sơn thủy đến mãn nhãn thì về sau vĩnh viễn thiếp sẽ không cần nhìn sơn thủy vẽ trên bình phong nữa. Thiếp xin chừa, từ nay sẽ không dám tái phạm. Trong bài thơ có hàm chứa một lời xin lỗi khéo léo như thế.

Buổi vãn niên, ở Thành Đô, Tiết Đào có chế ra một loại giấy hoa tiên màu đỏ (hồng tiên chỉ), được mọi người yêu chuộng, gọi là “Tiết Đào chỉ”. Nàng bán được nhiều và thu nhập tiền bạc cũng khá. Người ta cho rằng sở dĩ nàng làm được giấy tốt là vì biết dùng loại nước tốt. Ngày nay ở Công viên Vọng Giang (Thành Đô) vẫn còn có dấu tích “Tiết Đào tỉnh” tức cái giếng nơi nàng từng lấy nước. Nàng qua đời năm 64 tuổi (tuy có thuyết khác cho rằng đã sống thọ đến 75). Nếu là 75 tuổi thì có nghĩa là nàng đã mất vào năm Hội Xương thứ 2 (842), trước khi Ngư Huyền Cơ sinh ra một năm.

Hình ảnh Ngư Huyền Cơ qua tranh cổ       

Ngư Huyền Cơ sinh trong một nhà theo nghiệp ca xướng ở Trường An, lớn lên trong làng hương phấn. Tự buổi đầu, nàng đã được dạy dỗ để trở thành kỹ nữ nhưng phải là một kỹ nữ hàng đầu, có tài thi văn đủ sức xướng họa với khách.

Độc giả nhiều người cũng đã biết về nàng qua truyện ngắn nhan đề Gyokenki (Ngư Huyền Cơ) của nhà văn Mori Ôgai. Nàng trở thành thiếp của một văn quan tên là Lý Ức nhưng tình ái phôi pha, phải vào làm nữ đạo sĩ trong Hàm Nghi Quán. Thế nhưng cuộc đời tình ái của nàng không ngừng lại ở đó, cuối cùng phạm tội giết người vì phạt roi một nữ tỳ đến tử thương nên lãnh án tử hình. Có thuyết cho biết năm ấy nàng mới 25 tuổi. Nữ tỳ bị chết tên Lục Kiều, cũng được mô tả là một thiếu nữ thông minh và có nhan sắc. Hình như Ngư Huyền Cơ phạt roi cô ta vì giữa họ, có liên hệ tay ba với một người đàn ông.

Tác phẩm tiêu biểu của Ngư Huyền Cơ là bài “Tặng Lân Nữ” 贈鄰女 (Tặng người con gái láng giềng) nhưng có nơi khác cho rằng nó có nhan đề là Ký Lý Ức viên ngoại 寄李億員外(Gửi viên ngoại Lý Ức). Hình như họ Lý, người đã bỏ rơi nàng, là một Viên Ngoại Lang, chức quan hàng lục phẩm. Nếu theo nội dung bài thơ mà xét thì nhan đề thứ hai này có vẻ thích hợp hơn.

Tu nhật già la tụ,

羞日遮羅袖,

Sầu xuân lại khởi sàng.

愁春懶起妝。

Dị cầu vô giá bảo,

易求無價寶,

Nan đắc hữu tâm lang.

難得有心郎。

Chẩm thượng tiềm thùy lệ,

枕上潛垂淚,

Hoa gian ám đoạn trường.

花間暗斷腸。

Tự năng khuy Tống Ngọc,

自能窺宋玉,

Hà tất hận Vương Xương.

何必恨王昌。

Tống Ngọc vừa là một nhà thơ vừa là một người đàn ông dung mạo khôi ngô ở nước Sở vào thời Chiến Quốc, vì quá điển trai nên con gái bên hàng xóm tìm cách nhìn lén. Vương Xương tương truyền là người bạn thời thơ ấu của mỹ nữ Mạc Sầu. Mạc Sầu thành vợ của phú hào họ Lư và sống một cuộc đời giàu có nhưng vẫn thường tiếc nuối,  cho rằng nếu mình lấy Vương Xương chắc sẽ hạnh phúc hơn. Trong thơ, Ngư Huyền Cơ dường như muốn ngõ lời với Lý Ức rằng mình đã tự nguyện tìm đến một người đàn ông có giá trị là ông chứ không hề tơ tưởng tới một ai khác.

Đề tài thơ Ngư Huyền Cơ thường nhắc đến 4 người đàn ông cùng mang họ Lý. Dù đấy có thể là tên tự hoặc biệt hiệu nhưng khó lòng xem 4 người ấy là một nhân vật duy nhất. Chẳng hạn cái tên Tử An trong bài “Giang Lăng sầu vọng, ký Tử An” 江陵愁望寄子安chưa chắc đã là tên hay hiệu của Lý Ức.

Phong diệp thiên chi phục vạn chi,

楓葉千枝復萬枝

Giang kiều yếm ánh mộ phàm trì.

江橋掩映暮帆遅

Ức quân tâm tự Tây Giang thủy,

憶君心似西江水

Nhật dạ đông lưu vô hiết thì.

日夜東流無歇時

Con gái nhà gia giáo trở thành kỹ nữ như Tiết Đào tuy có đôi lần vượt ranh giới nhưng đã biết cách kiềm chế tình cảm để làm tròn nhiệm vụ nghề nghiệp và sống một cuộc sống bình yên, thoải mái cho đến buổi vãn niên. So sánh với nàng thì Ngư Huyền Cơ là người gốc gác trong làng son phấn nhưng trung thực với tình cảm của mình nên đã dám  tự do bôn phóng. Có thể nói là nàng đã chết vì tình và cảnh ngộ ấy thật đáng thương xót.

Tự thán đa tình thị túc sầu,

自嘆多情是足愁

Huống đương phong nguyệt mãn đình thu.

況當風月満庭秋

Động phòng thiên dữ canh thanh cận,

洞房偏與更聲近

Dạ dạ đăng tiền dục bạch đầu.

夜夜燈前欲白頭

Bài thơ trên nhan đề “Thu Oán” 秋怨cũng là của Ngư Huyền Cơ.

(Trích Đường Thi Tân Tuyển (1989), trang 286-297)

Dịch xong tại Tokyo ngày 20 tháng 12 năm 2017

NNT

Thư mục tham khảo:

1)    Chin Shun-Shin (Trần Thuấn Thần), Saiiki Yobun (Tây Vực Dư Văn), Asahi Bunko, Asahi Shinbunsha xuất bản, Tokyo, 1984.

2)    Chin Shun-Shin (Trần Thuấn Thần), Tôshi Shinsen (Đường Thi Tân Tuyển) Shinchô Bunko, Shinchôsha xuất bản, Tokyo, 1989.

3)    Hình ảnh Internet.

 

 

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com