CÁI HỘP

(Hako, 1985)

 

Nguyên tác: Endo Shusaku

Dịch: Nguyễn Nam Trân 

Trong thư pḥng của ḿnh ở khu phố Harajuku, tôi thường bày những chậu cây và bonsai để lâu lâu có được giây phút khuây khỏa khi tạm dừng công việc. Gọi là bonsai nhưng chúng cũng chẳng phải loại đắt tiền ǵ. Thật ra th́ hàng năm, hôm nào trời quá nóng bức, tôi hay ra đầm Shinobazu (Bất Nhẫn Tŕ) trong Công viên Ueno tản bộ và ngắm cảnh trời chiều. Lúc ấy tôi lại có dịp ghé qua khu chợ hoa nơi người ta bày bán cây cảnh để mua những món đồ giá rẻ.

Lần nào phải ngủ lại căn pḥng dành cho việc viết lách ấy th́ sau khi mở mắt thức dậy và rửa mặt xong, tôi có thói quen đem mồi cho lũ chim non ăn, tỉa bớt lá xong rồi mới tưới nước cho mấy chậu cảnh. Hè rồi khi một bà trong ban biên tập có việc phải ghé qua, đă đưa ra nhận xét:

-Thầy biết không? Khi châm nước cho cây, nếu ḿnh chịu nói chuyện với nó th́ cây cối cũng hiểu đó thầy! Chắc thầy không tin đâu nhưng cứ làm thử xem!

Bà là một phụ nữ đă có chồng, xuất thân từ một xóm nghèo nên tính t́nh nhân hậu và rất yêu cây cỏ. 

Thành thực mà nói, sau khi nghe bà ta dặn ḍ như vậy, tôi hăy c̣n bán tín bán nghi. Vừa cho rằng làm ǵ có chuyện dở hơi như thế, tôi lại nghĩ biết đâu cây cỏ cũng có một năng lực đặc biệt nào đó. Tuy không hiểu tiếng người nhưng không chừng chúng lại nhạy cảm trước những nguyện vọng của ḿnh.

Hồi đó, tôi có gieo mầm hoa triêu nhan (b́m b́m nở buổi sáng) trong một cái chậu con. Từ nhỏ, tôi vẫn yêu thích giống hoa này. Do đó mà ngay trong một góc căn pḥng cửa đóng kín như bưng, tôi cũng muốn mỗi sáng ḿnh được ngắm một đóa triêu nhan đang nở bung. Tôi đă lên tiếng nói chuyện với nó:

-Nhớ nở thật nhiều hoa cho ông, nghe con!

Tôi cảm thấy là để đạt được mục đích, có hôm giọng nói của tôi sao mà dịu dàng mơn trớn đến thế nhưng cũng có khi lại nghe như người đang đ̣i hỏi, thôi thúc. Cứ thế, tôi đă cố gắng thuyết phục nó mỗi ngày. Rồi không biết việc đó có thành công hay không mà chậu cây xưa kia suốt vụ hè chỉ ra mỗi một đóa triêu nhan nay đă liên tục đâm nhiều nụ và bắt đầu mang cái màu phơn phớt hồng giống màu dâu tây đông đá. Hai ba hôm sau khi vừa thức dậy, tôi đă thấy hoa như đă chờ sẵn đó để nở một nụ cười với ḿnh.

Nếu chừng ấy thôi dĩ nhiên sẽ không có ǵ đáng ngạc nhiên. Lúc mùa hè sắp chấm dứt, tôi c̣n thủ thỉ với chậu triêu nhan này đôi điều khác nữa:

-Này, đừng để phải tàn héo nghe con! Lúc nào cũng ráng nở hoa cho ông xem nhé!

Vừa th́ thầm những lời khích lệ ấy, tôi vừa lấy nước tưới cho cây hoa.

Kết quả thật đáng kinh ngạc. Dù trời đă vào thu, chậu triêu nhan vẫn không ngừng ra hoa. Dĩ nhiên bây giờ làm ǵ có được một hay hai đóa mới mỗi ngày như dạo hè nhưng dù sao, mỗi tuần, mắt tôi đă có thể ngắm được chừng hai lần hoa ra như vậy.

Tôi đă tự đắc nói với bà nhà tôi: 

-Này! Có thấy hoa triêu nhan của anh chưa nào? H́nh như chúng nó hiểu được tiếng người đấy!

Bà liền bảo:

-Đúng thật anh! Em mới thấy lần đầu đó. Đến tháng mười một rồi mà nó vẫn ra hoa.

-Tốt quá! Thế th́ anh sẽ bảo nó nở ngay giữa mùa đông mới được.

Có lẽ bạn đọc không ai tin câu tôi vừa nói nhưng tôi hăy c̣n giữ lại một bức ảnh trong đó, tôi đứng ôm một chậu hoa đang nở thật to bên ngoài trời tuyết, để mà khoe nó với quí vị. Thật đấy! Tôi đă dán vào trong tập ảnh của ḿnh tấm ảnh kỷ niệm ấy. Tôi c̣n dám chắc ḿnh có thể dùng nó như bằng chứng để đăng vào “Quyển sách các kỷ lục của Guiness” (Guiness Book of Records).

Hôm ấy là ngày Tôkyô vừa qua một trận mưa tuyết lớn đổ xuống hôm trước. Dù vậy, trong thư pḥng của tôi, đóa triêu nhan màu đỏ vẫn nở bung như dang hai cánh tay để khoe  sức sống. Tôi bèn ôm kè kè chậu hoa ra đứng trước bin-đinh của căn hộ và nhờ bà xă chụp cho bức ảnh. Người qua kẻ lại ngoài đường phố ai cũng trố mắt ra nh́n. Tuy không nói ra nhưng phải thú thật là lúc đó, tôi hết sức hănh diện. 

*** 

Ừ nhỉ, cớ sao để bắt đầu câu chuyện dưới đây, tôi đă phải huyên thuyên như tự năy giờ? Phải rồi, tôi chỉ muốn chứng tỏ con người không phải là động vật duy nhất sở hữu một trái tim và một năng lực diễn tả bằng ngôn ngữ những ǵ họ có trong ḷng. Tôi muốn nói là đối với những thứ như ḥn đá hay khúc gỗ mà ai nấy đều nghĩ là vật vô tri vô giác, chúng vẫn có một sức mạnh tiềm ẩn bên trong.

Câu chuyện xảy ra cách đây đă trên một thập niên.

Lúc đó là cuối mùa hè, tôi đang lái xe dạo quanh các thị trấn vùng Shinshu (Nagano) và định bụng sẽ kiếm một túp nhà trên núi (yamakoya, mountain lodge) nào đó gần một nơi gọi là Naka-Karuizawa để nằm viết một cuốn tiểu thuyết khá dài. Cuối vụ hè, lúc du khách đến đây chơi đă lục tục quay về th́ cuốn tiểu thuyết của tôi cũng vừa viết xong, nhân đó tôi muốn đánh một ṿng thăm Komoro, Ueda hay Saku là những địa điểm có hương vị phố cũ người xưa trên các cung đường vùng Shinano[1].

Khu vực Komoro và Ueda th́ tôi đi đă lơi nên kỳ này, tôi muốn hành động như một người thông thạo đường đất. Nếu có dịp đỗ xe, lúc th́ tôi vào viếng một ngôi chùa cổ, lúc th́ không ngần ngại mở tấm cửa kính bám bụi của một hiệu bán đồ cổ bắt gặp bên đường.

Quá ngọ một chút, khi đi vào một con đường hẻm yên tĩnh ở thị trấn Ueda, tôi chợt thấy một cửa hàng xiêu vẹo bán đồ dùng đă cũ và cả đồ cổ ngoạn. Khi kéo qua một bên cánh cửa hầu như không c̣n đứng vững, tôi nhác thấy ở góc mặt bên trong có bày một cái hộp đựng thuốc h́nh dáng giống như cái tráp con mà các ông lang đời trước vẫn hay dùng. Trên trần tiệm, lại thấy treo lủng lẳng mấy chùm ch́a khóa to, c̣n bậc cầu thang th́ chất đẩy đĩa con và đồ để rửa cút uống rượu (sakazuki-arai). Dạo này, ở Tokyo, mấy món cổ ngoạn vặt vănh cỡ này đă được giá cao nhưng mười năm về trước và ở một vùng nhà quê như nơi đây, đó là thứ chẳng ma nào thèm rớ tới.

Một bà cụ già đang ngồi đọc báo cạnh chiếc ḷ sưởi dài đốt bằng than. Sau khi đưa mắt nh́n một lượt hết món này đến món khác, tôi mới dừng lại trước một cái hộp vừa tự hỏi:

-Ǵ đây ta!

Tuy chỉ là một cái hộp gỗ dán giấy nhiều màu có hoa văn như loại giấy Chiyogami và không có ǵ đặc biệt, nhưng khi nh́n vào bên trong hộp, tôi lại thấy có một xấp tài liệu dày cộm đă bị ánh mặt trời làm cho đổi màu. Trước tiên, tôi nhận ra một tập Thánh Ca của đạo Tin Lành (Protestant). Nó được đặt bên cạnh mấy thứ giấy tờ thông tin khác và một cuốn truyện về đời Chúa Giê-su viết cho thiếu nhi. Ngoài ra, hăy c̣n có một cuốn Kinh Thánh đă cũ, nằm xen giữa các trang ố vàng và ẩm mốc của nó là vài bức bưu ảnh. 

Trên mặt những bưu ảnh ấy có những ḍng chữ viết theo hàng ngang. Lật qua mặt sau, tôi thấy chúng có in phong cảnh các đô thị ngoại quốc hay h́nh ảnh Ông già Nô-En (Santa-Claus). Ở dưới cùng xấp bưu ảnh, tay tôi chạm phải vật ǵ giống như một tập ảnh (album).

Chắc quí vị chưa biết tôi là một người đàn ông hết sức hiếu kỳ và chuyện này không liên quan ǵ đến cái nghề viết tiểu thuyết. Nếu lúc đó tôi đưa mắt ḍm trộm bên trong tập ảnh đă phai màu ấy, cũng chỉ v́ con sâu hiếu kỳ đang cọ quậy trong người tôi thôi.

Tuy vậy, không hiểu v́ sao mà trong tập ảnh, tôi chỉ thấy có dán mỗi ba bức. Tôi muốn nói là có dấu vết cho thấy bảy, tám tấm khác đă bị ai đó bóc đi đâu mất. 

-Bà cụ ơi!

Tôi đặt câu hỏi cho cụ già đang ngồi bên cạnh cái ḷ sưởi đốt bằng than:

-Cái hộp này cụ có bán không đây?

-Hộp nhưng là hộp nào?

Bà cụ chậm răi đứng dậy và đến gần bên tôi.

-Bán th́ bán chớ nhưng đó là đồ thải. Nếu mua về ông cũng chẳng dùng được vào việc ǵ đâu. 

-Thật đấy cụ nhỉ. Cái này không thể nào coi là đồ cổ ngoạn.

Bà cụ nói như đang hồi tưởng chuyện ngày xưa:

-Có thể lúc đó, ông nhà tôi đă tha về sau khi mua gộp nó với những món khác từ một gia đ́nh người nước ngoài ở Karuizawa đấy.

-Cụ ông nhà này ấy à?

-Sau khi chiến tranh kết thúc, gia đ́nh ngoại quốc đó muốn bàn bàn tủ, đồng hồ kê tường trong biệt thự của họ...nên nó đă bị bỏ lẫn vào trong số những đồ vật chúng tôi khuân đi.

-Thế cụ định tính giá bao nhiêu?

Bà cụ nh́n chăm bẳm vào tôi rồi nói như thương hại:

-Thứ này đó à? Ô! Thôi, tôi cho không cũng được! Rác thải nhặt về đấy mà.

-Cụ nói thế, tôi không bằng ḷng đâu!

Tôi không nhớ cuối cùng ḿnh đă bỏ ra bao nhiêu. H́nh như tôi chỉ đưa cho bà cụ khoảng 500 Yen tiền mặt. Thế mà bà cụ lại cảm ơn rối rít và nh́n tôi với ánh mắt lạ lùng, như xem kẻ đến mua hàng vừa làm một hành động dại dột.

Đúng như bà cụ nghĩ, tôi v́ ṭ ṃ nên đă mua về mớ đồ không ai thèm, gồm một cuốn Kinh Thánh cũ mèm và một tập ảnh sót lại mỗi ba tấm. Trong số ba tấm đó, có một bức chụp “Con đường cũ” (cựu đạo) nằm giữa thị trấn Karuizawa trong bối cảnh thời chiến.

“Cựu đạo” là tiếng thời xưa dùng để chỉ cái mà bây giờ ta gọi là con phố chính (main street) của một thị trấn. Mỗi độ hè về, các hăng buôn ở Tokyo đều lên mở hàng quán ở đây nên các cửa hiệu mọc san sát bên nhau chẳng khác ǵ những phong bánh được tŕnh bày bên trong hộp bánh. Rồi cũng trên con phố chính đó, đă có biết bao nhiêu thanh niên thiếu nữ mặc một kiểu trang phục và có cùng một dáng dấp đang dập d́u qua lại.

Thế nhưng cảnh vật của con phố chính thấy trong bức ảnh ấy phải là h́nh ảnh một Karuizawa hồi trước hay giữa thời chiến. Nó đen tối, buồn bă và nặng nề âm khí, trông chẳng khác ǵ những bức phông cảnh c̣n lưu lại trong phim trường sau khi phim đă quay xong. Tuy vậy, tôi vẫn c̣n nhớ về cảnh tượng nơi đây v́ vào giữa thời chiến tranh, tôi đă có dịp đến một hai lần rồi. Hơn nữa, đó lại là những tấm ảnh hiếm hoi nên tôi không hề coi việc mua cái hộp có dán giấy màu Chiyogami ấy về nhà là một điều dại dột.

Đêm đó, trong pḥng ăn của túp nhà trong núi, tôi đă ngồi trên chiếc ghế đặt sát cái ḷ sưởi chạy bằng điện, (cũng v́ lúc ấy đă cuối mùa hè mà trời lại mưa, trong một ngôi nhà con nằm giữa núi rừng như thế này, tôi không khỏi cảm thấy gây gây lạnh), ngồi xem những tấm ảnh dán trong tập ảnh từ cái hộp gỗ và đọc những ḍng chữ được ghi trên đó.

May mắn thay, những ḍng chữ này phần nhiều đă được viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp là hai ngôn ngữ mà tôi c̣n hiểu được phần nào, kỳ dư là viết bằng tiếng Đức, thứ tiếng tôi mù tịt. Tuy vậy, nhờ thấy chỗ địa chỉ người nhận có viết mấy chữ Mademoiselle Henriette Rougières theo kiểu tiếng Pháp, tôi mới đi đến kết luận là người nhận thơ phải là một phụ nữ.

Dù nhân vật mang cái tên có vẻ Pháp nhưng chuyện cô ta có quốc tịch Pháp hay không th́ tôi chưa dám chắc. Người Bỉ cũng có thể mang một cái tên như vậy, cả người Canada nữa! Dù sao, nghĩ rằng mấy tấm bưu ảnh ấy không c̣n tính chất thời sự, tôi đă tự cho phép ḿnh lần lượt đọc hết những ḍng chữ viết trên đó.

Về nội dung, tất cả đều là lời thăm hỏi giữa bạn bè và người quen biết. Có bức hỏi thăm thân phụ của cô – hiện sống tại Nhật – sức khỏe thế nào, có bức người viết gửi thông tin rằng vợ chồng ḿnh đang ở Madrid nhưng có bà bạn tên Boulanger nhân v́ đứa con mới sinh bị chết nên cảm thấy cuộc sống của gia đ́nh ḿnh ở Roma dạo này đă trở nên khó thở ...Hoặc là bà cho biết ḿnh đang tập trung đọc Tolstoy và Tourgueniev hay tŕnh bày về sinh hoạt hiện tại của lũ con. Cũng có bức bưu ảnh hỏi nửa đùa nửa thật xem Nhật Bản bây giờ có c̣n giống đất nước từng được mô tả  trong vở  nhạc kịch Opera nhan đề Hồ Điệp phu nhân (Madame Butterfly)[2] hay không. 

Đôi khi tôi ngồi sát lại chiếc ḷ sưởi điện hoặc lùi người ra xa nhưng vẫn để mặc cho óc tưởng tượng h́nh dung xem nhân vật Henriette Rougières này là một phụ nữ như thế nào.

Biết đâu người đàn bà này là vợ của một ông mục sư đạo Tin Lành cũng không chừng! Lư do là tôi nhiều lần nghe nói các giáo sĩ đạo Tin Lành được gửi đến Nhật truyền đạo nhiều khi đă lên vùng Karuizawa nghỉ mát. Mặt khác, năm xưa, khi c̣n theo được năm sáu buổi giảng ở trường ngoại ngữ Athénée Francaise trong khu Ochanomizu (thuộc Tokyo) để rồi từ đó bỏ học luôn, nếu tôi không lầm th́ trong số các giáo chức dạy tôi, đă có một ông thầy mang cái tên như vậy.

Trong tập ảnh, ngoài bức chụp phong cảnh đường phố chính (cựu đạo) của thị trấn Karuizawa, hăy c̣n một bức ảnh khác có các phụ nữ ngoại quốc đầu mang dù che nắng (higasa) tay đang hái hoa – và có hai, ba đứa bé con người Nhật đứng lẫn vào với họ - cũng như một bức chụp quang cảnh nhà ga đường xe điện Kusakaru (Kusakaru Dentetsu), vào thời tuyến đường c̣n nằm dưới con phố chính. Nói chung, bức ảnh nào cũng đều ố vàng hoặc đă bạc màu và chúng chỉ làm cho tôi chạnh ḷng thương cảm trước sức tàn phá của thời gian. Tôi ngồi suy nghĩ miên man về những người ngoại quốc và Nhật Bản có mặt trong những tấm ảnh này rồi tự hỏi chẳng biết họ có c̣n sống ở đó hay đă trôi giạt về phương trời nào! Phải chăng lối suy nghĩ u uất như thế là triệu chứng của tuổi già hay sao nhỉ?

Sau đó dăm hôm, tôi đă mang bức h́nh bóc gỡ từ tập tranh đó theo khi tản bộ trên con phố huyết mạch của Karuizawa, bấy giờ đă vào cuối hè nhưng không khí vẫn c̣n nhộn nhịp như một ngày hội. Lâu lâu tôi lại móc tấm ảnh cũ rích kia ra so sánh, để ngạc nhiên một cách thích thú khi thấy cùng một chỗ trên con phố đă có thể có ngần ấy đổi thay. 

Lúc đó tôi chợt nghĩ “À! Phải rồi!” Ở cái quăng bắt đầu leo dốc lên con phố chính này, ngày xưa có ngôi lữ quán kiểu cổ tên là Tsuruya mà bọn nhà văn như ông Hori Tatsuo[3] thường hay lui tới. Tôi chợt nhớ là trong con hẻm gần đó, lại có cả cửa tiệm giặt ủi. Một người dân bản địa như ông chủ tiệm này chắc phải biết rơ về những chuyện từng xảy ra ở Karuizawa trong giai đoạn chiến tranh. “Thế th́ ḿnh phải đến hỏi bác ấy mới được”.

Tôi đi qua hết mấy cửa tiệm dán chi chít những loại quảng cáo bán hạ giá hay phá giá như “Bargain” với “Discount”, và sau mấy lần suưt va phải các nhóm thanh niên nam nữ đi giày tơ-nít (tennis), vừa liếm kem xốp (soft cream) vừa cùng nhau bát phố, đă thấy hiệu giặt ủi (cleaning) treo bảng Tsuchiya hiện ra trước mắt. 

Đáng tiếc là hôm nay chủ nhân v́ bận việc nên không có mặt.Tôi bèn trao tấm ảnh đem theo cho bà vợ của ông để hỏi xem bà có nhớ mặt người nào trong tấm ảnh ấy chăng?

Bà chỉ lắc đầu trả lời: 

-Tôi vốn gốc gác vùng Iwamurata nên những việc xảy ra ở đây vào thời chiến tranh, tôi tài nào  biết được. Thôi thầy chịu khó chờ, khi nhà tôi về, tôi sẽ bảo ổng điện thoại cho. 

Tôi bèn gửi bà giữ hộ tấm ảnh rồi sau đó quay lưng trở lại túp nhà trên núi ở Naka-Karuizawa. Vừa vặn lúc tôi bước vào trong, bỗng có tiếng chuông điện thoại reo vang:

-Xin lỗi thầy nhé. Vừa rồi v́ có chút việc, tôi phải đi vắng.

-Thưa ông chủ, như tôi vừa tŕnh bày với bà, thế ông có biết ǵ về mấy người đàn bà ngoại quốc trong tấm ảnh kia là ai không?

-Biết chứ lỵ. Có cả cô Rujie trong đó mà!

Ông chủ tiệm giặt ủi đă đọc nhầm cái tên Rougières của cô thành Rujie (Rouget). Nhưng có lẽ Rujie (Rouget) mới đúng là cái tên mà người dân trong vùng Karuizawa thời đó dùng để gọi cô.

-Cô ấy xưa sống ở ở mạn Atagoyama đấy. Hăy c̣n dấu tích ngôi biệt thự của gia đ́nh thời đó. Sau chiến tranh, có người Nhật đă mua lại.

Vùng rẻo cao tên là Atagoyama vốn nằm ở phía sau con đường chính. Bạn tôi có người từng đến  sống ở đây một mùa hè, sau khi về đă than phiền là khí hậu ở đó sao mà ẩm thấp quá thể. Tuy vậy đó là khu vực mà từ xưa, người ta đă cho xây nhiều biệt thự nghỉ mát.

-Nhưng cho tôi hỏi thăm chút! Làm sao thầy lại có tấm ảnh cô Rujie (Rouget)vậy?

-À...cái đó tôi mua được trong một tiệm bán đồ cổ ở Ueda ấy mà.

-Ueda hở thày?

Nói dến đây, không hiểu v́ sao ông chủ hiệu giặt ủi lại ngừng một lúc như thể đang suy nghĩ điều ǵ. Trong cái im lặng nhất thời của ông, tôi đánh hơi được có cái ǵ khác lạ. Tuy chỉ là trực giác của một tiểu thuyết gia nhưng trực giác đó lại đâm ra trúng phong phóc. Câu chuyện tôi viết tiếp dưới đây đă xảy ra vào ngày hôm sau, khi ông chủ hiệu giặt ủi mang Whisky đến nhâm nhi với tôi rồi từ từ hé lộ từng chi tiết một và tôi chỉ làm cái việc là tóm lược  nó lại. 

*** 

Thị trấn Karuizawa trong thời chiến đen tối, ảm đạm và đôi khi c̣n có thể nói là thường xuyên  bị bao phủ bằng một bầu không khí thê lương nữa. Các bạn trẻ bây giờ không tài nào tưởng tượng được khung cảnh đó đâu. Đây là nơi mà dưới danh nghĩa “sơ tán”, nhà nước đă tập trung người ngoại quốc đến từ nhiều quốc tịch. Nh́n bề ngoài th́ có vẻ sinh hoạt b́nh thường nhưng thật ra, họ đang bị theo dơi thường xuyên bởi lực lượng Cảnh sát đặc nhiệm (Tokkô keisatsu) và An ninh quân đội (Kempeitai). Hơn thế, tuy ban đầu họ được cung cấp khẩu phần lương thực khá hơn người Nhật nhưng sau đó, trải qua bao nhiêu lần bị bức hại, v́ là những người không có gốc rễ vùng này, việc kiếm được ít gạo và khoai chợ đen cũng đă là một điều khó khăn, khiến bọn họ đều phải khổ sở v́ cái đói. V́ vậy, họ bắt buộc phải chạy ḷng ṿng quanh mấy thôn xóm vùng Karuizawa, nài nĩ dân làng để lại ít trứng và sữa.

Cô Rujie (Rouget, theo cách phát âm cái tên Rougières của người trong vùng) vốn là con gái  một gia đ́nh có người cha là mục sư đến Nhật truyền đạo. Mỗi mùa hè, gia đ́nh cô từ Tokyo thường lên vùng này để tránh nắng. Năm cô 19 tuổi, bà mẹ người Nhật của cô qua đời v́ bệnh lao. Kể từ đó, cô phải chăm sóc cho người cha già yếu, đồng thời làm công việc thư kư đánh máy (typist) cho một Đại sứ quán ở Tokyo. Khi cuộc chiến trở nên khốc liệt, chính phủ Nhật Bản đă khuyến cáo kiều dân ngoại quốc hồi hương. Riêng ông bố cô Rujie v́ mang quốc tịch một quốc gia trung lập, lại hay đau yếu, nên đă xin và được nhà nước cho phép tiếp tục lưu trú.  

Đến khi Tokyo chịu cảnh bị oanh kích mỗi ngày, Đại sứ quán nơi cô làm việc cũng phải sơ tán lên Karuizawa để tỵ nạn. Thành ra cô ấy đă tháp tùng người cha già yếu bệnh hoạn dọn về sống trong một biệt thự trên núi ở vùng Atagoyama mà họ đă mua được.

Nhân v́ từ ngày bé, cô ấy đă nhiều lần lên Karuizawa vào vụ hè nên người ở đây đều biết rơ về cô. Do đó mà buổi đầu, cô không phải lo lắng ǵ về vấn đề lương thực. Thế nhưng dần dà, ngay cả dân sở tại cũng lâm vào cảnh thiếu thốn miếng ăn. Họ không c̣n đủ sức chia sẻ phần gạo và khoai của ḿnh cho cô và người cha già. Cũng phải nói là đất canh tác của vùng này rất cằn cỗi, lượng thu hoạch hoa màu không được bao nhiêu.

Vào thời đó, cảnh tượng người ngoại quốc với ba-lô (rucksack) trên vai, cưỡi xe đạp đi vào tận những thôn ổ xa xôi như Furuyado hay Oiwake để săn lùng lương thực là chuyện không có ǵ lạ. Cô Rujie kia cũng là một người trong bọn họ. Thế nhưng ngay những thôn ổ khuất nẻo như vậy cũng không c̣n dư gạo hoặc lúa ḿ để chia sớt cho khách lạ.

Từ hồi Tokyo chịu những trận ném bom th́ số người v́ nhà cửa bị thiêu cháy phải lội bộ để lên đến vùng Karuizawa này tỵ nạn không phải là ít. Khi đi ngang qua những hộ nông dân dọc đường, họ đă phải ngửa tay xin ăn. Chuyện này xảy ra như cơm bữa đến độ người trong các thôn làng đă buộc ḷng phải từ chối. Một đêm đă xảy ra chuyện một người đàn ông nọ đi vào trong cái nhà kho chứa băng (himuro) nơi người ta cắt những tảng băng mùa đông để dự trữ, nhét rơm rạ vào mồm ḿnh rồi nằm chết cóng ở một góc sâu.

Khi t́nh trạng thiếu thốn lương thực đi đến chỗ nghiêm trọng cỡ đó, đám cư dân ngoại quốc đă phải vứt bỏ cả tự ái lẫn tự trọng để đi xin xỏ miếng ăn ở khắp nơi. Thế nhưng, đám dân quê cũng không thể làm ǵ hơn nên chỉ biết lắc đầu.

Vào thời điểm này, cô Rujie t́nh cờ làm quen với một thanh niên người Nhật. Muốn kiếm ít sữa tươi và khoai tây cho cha già, cô đă đi hết nhà này đến nhà khác ngoài cả phạm vi Karuizawa nhưng không nhận được ǵ khác ngoài những cái lắc đầu từ chối. Bất chợt lúc đó, một thanh niên đang đạp xe đi ngang đă tiến lại gần cô.

Anh thanh niên này với mái tóc cắt ngắn kiểu bàn chăi và bộ đồ mặc khi lao động, có vẻ là một con người đơn sơ chất phác. Sau khi nghe cô Rujie  kể lể hoàn cảnh, anh đă đến gặp và nói chuyện với bác nông dân vừa từ chối cô, sau đó quay trở lại và bảo:

-Bác ấy cho biết nếu chỉ cần một ít thôi th́ bác ấy có thể chia sẻ với cô.

Thế nhưng đối với cô, nào có phải ít ỏi ǵ, bởi v́ hôm đó người nhà nông kia đă bán cho cô mớ khoái tây đủ để dồn đầy ắp cái ba-lô cô vác trên vai. Chẳng những thế, thanh niên đă vui ḷng chở dùm cái ba-lô ấy ở chỗ để đồ đằng sau xe đạp của anh và tiễn cô đến tận nhà ga.

-Cỡ như khoai tây như thế này th́ lâu lâu, tôi có thể kiếm được và mang đến cho cô. Chỉ cần cô cho tôi biết địa chỉ.

Anh ta chợt lên giọng và tỏ ra hăng hái đề nghị với cô như vậy khi cả hai đang đứng nghe có tiếng xe hỏa x́nh xịch từ phía xa trong núi chạy về hướng họ.

-Chả là lắm lúc tôi cũng có công chuyện phải ghé qua Karuizawa.

Anh cho biết ḿnh là nhân viên sở bưu điện trong vùng. Khi cô Rujie hỏi thế th́ anh không phải nhập ngũ à, anh liền cho biết ḿnh có lần nhập trại nhưng v́ mắc chứng viêm màng phổi (pleurisy, rokumaku-en) nên đă được cho về ngay hôm ấy. Anh cũng giải bày là nếu sức khỏe phục hồi, quân đội sẽ trưng binh trở lại nên bây giờ anh c̣n đang đợi lệnh.

Vào thời buổi đó, không ai dám tin một người khác nếu chỉ qua cử chỉ và lời nói thân thiện nhưng hôm đó cô Rujie thấy việc anh kia hứa kiếm lương thực và đem đến Karuizawa cho ḿnh có lẽ là điều khả thi. Mặt khác cũng v́ khuôn mặt anh có toát ra cái chân thật của một người lớn lên ở vùng nông thôn.

Thế nhưng đợi đến hai ba tuần sau, cô vẫn không thấy bóng anh đâu. Từ hôm ấy, niềm tin và sự mong mỏi trong ḷng cô gái cũng bắt đầu phai nhạt.

Măi đến cuối mùa thu năm ấy, cô mới thấy anh thanh niên kia quay lại. Đó là một ngày mưa dầm dề, trời đất âm u và lạnh lẽo. Đúng như lời hứa, anh đă đem đến, ngoài khoai tây c̣n có cả táo và một b́nh sữa dê. Hôm ấy, sau khi từ Đại sứ quán trở về, cô đă hết sức ngạc nhiên khi thấy người cha già đang nằm ngửa trên chiếc ghế xích đu, c̣n bên cạnh ông, có bóng anh thanh niên đang bẻ những cành cây khô làm củi nhóm ḷ sưởi. H́nh như cha của cô nay đă đă quá già yếu nên không thể làm việc ǵ phải dùng sức nữa, nên trong thời gian chờ đợi cô từ sở làm trở về, anh đă đề nghị ông cho ḿnh được làm đôi ba chuyện lặt vặt như cưa xẻ, chẻ những khúc gỗ hay bẻ hộ mấy nhánh cây con. 

Họ hấp mấy củ khoai tây làm bữa cơm tối và anh thanh niên cũng cùng ngồi  ăn. Ngoài một ít trà hoa nhài (jasmin tea) mua được ở Hongkong từ trước, cha con cô Rujie không có ǵ khác để đăi khách.

Sau khi thanh niên đội mưa ra về, ông bố mới mỉm cười và nói với con gái:

-Anh Nhật này là người tốt đấy con.

-Đúng thế, bố ạ.

Cô gái đă trả lời cha như vậy.

Thế rồi bắt đầu từ đấy, thanh niên thường xuyên đến thăm hai bố con và lần nào anh cũng mang cho một món ǵ. Ngay cả những thứ hiếm quí mà thời ấy không ai c̣n dám mơ ước như những món đồ hộp kiểu Yamatoni (ḅ kho lối Nhật):

-Eo ơi! Kiếm được món này khó lắm đây!

Trước thái độ ngạc nhiên của cô Rujie, anh chỉ trả lời:

-Đồ của người bà con họ biếu tôi.

Nói một cách thản nhiên như thế xong, anh lại im lặng. Cô gái thấy anh chàng này sao mà  dễ thương đến thế. Cô bèn lấy ra một quyển sách, dùng giấy bao lại rồi trao cho anh.

-Quyển sách này là một món ăn tinh thần. Anh đă đem thức ăn vật chất đến cho người cha già của tôi. Do đó, tôi xin phép gửi lại anh một món ăn tinh thần là quyển sách này.

Cái mà cô gọi “món ăn tinh thần” là một quyển Kinh Thánh.Một phần v́ bố của cô là một vị mục sư, một phần v́ cô cũng là người đồng đạo với cha và hết sức tin kính. Do đó, đối với chàng thanh niên tốt bụng và chất phác này, điều cô hy vọng hơn cả là anh sẽ có cơ hội t́m hiểu những lời Chúa dạy. 

Anh thanh niên cầm lấy quyển Kinh Thánh rồi lật qua lật lại vài trang:

-Vâng, tôi sẽ xin phép đọc thử.

Thế xong, anh bèn hạ cái xắc trên vai xuống và cất nó vào trong.

Qua việc tặng cho anh thanh niên quyển Kinh Thánh, ḷng cô Rujie dậy lên một t́nh cảm ưu ái của một người mẹ và một người chị, và cô hăy c̣n muốn làm thêm một điều ǵ khác để trau giồi cái bản tính tốt nơi người đàn ông chất phác này:

-Này anh à, hiện nay cảnh sát họ hay ḍm ngó lôi thôi nên lúc nào chúng tôi cũng phải kín đáo. Vào dịp lễ Giáng Sinh sắp tới, tôi, cha tôi cũng như các bạn hữu trong nhóm sẽ tổ chức một buổi họp mặt ở ngôi nhà thờ nằm trên con đường chính trong thị xă. Nếu anh Fujikawa có thời giờ, xin mời anh đến dự nhé!

Fujikawa chính là tên của thanh niên nọ. Khi nghe câu nói của cô, chợt trong một giây, khuôn mặt của Fujikawa thoáng lộ vẻ căng thẳng:

-Ban đêm hở cô?

-Phải rồi. Đi từ làng anh, đường sá có xa lắm không?

-Đi được thôi. Nhưng nếu tôi rủ thêm bạn th́ có chi không cô?

-Có ǵ đâu anh. Bạn anh là phụ nữ à?

-Dạ không. (Mắt anh chợt đảo qua chỗ khác)...Đàn ông ạ.

Thế nhưng đối với cô Rujie th́ nếu đă là bạn của anh Fujikawa, dù trai hay gái, cô đều không cảm thấy có điều ǵ làm cho ḿnh bất an.

Đến đêm Giáng Sinh th́ có khoảng 14, 15 người ngoại quốc đang sơ tán ở vùng Karuizawa đă đến họp mặt trong ngôi giáo đường. V́ đợi măi chẳng thấy bóng Fujikawa cũng như người bạn của anh đâu, mọi người đă bắt đầu cầu nguyện kể từ khoảng 8 giờ tối. Ông mục sư là người cha của cô Rujie vẫn cứ ngồi nguyên trên ghế và kể lại cho mọi người nghe khung cảnh hồi Chúa giáng sinh.  

Trong khi mục sư đang tŕnh bày th́ từ phía cánh cửa của nhà thờ, cô Rujie mới nhận ra rằng Fujikawa và bạn của anh – một người đàn ông quê kệch ở lứa tuổi trung niên - đang đưa mắt ḍm vào..

Cô gái mừng rỡ, xem đây là món quà Giáng Sinh quí hóa nhất mà hôm ấy Chúa đă đem đến cho bọn họ. Cô mỉm cười bước ra mời hai người vào trong. Cô đợi đến lúc cha ḿnh kết thúc bài giảng, giới thiệu họ với cử tọa đang có mặt Trước mặt các người ngoại quốc hiện diện, ông trung niên chỉ cúi gầm mặt tỏ vẻ sợ hăi  Sau đó buổi đọc kinh lại tiếp tục và  khi các nghi thức mừng lễ Giáng Sinh chấm dứt, mọi người đă đem bánh ḿ họ tự nướng lấy ra ăn và uống trà đỏ rồi  tṛ chuyện vui vẻ cho đến gần nửa đêm. Hai người Nhật kia cũng tham gia một cách thích thú qua sự thông dịch của cô Rujie và vài tín đồ ngoại quốc biết tiếng Nhật. Khi cả bọn rón rén bước ra bên ngoài th́ đêm đă lạnh ngắt, trên trời đang có những ngôi sao chiếu lấp lánh, đúng như quang cảnh của một đêm thánh vô cùng.

Ngày hôm sau, cô Rujie lại trở về với công việc thư kư đánh máy thường nhật ở Đại sứ quán của nước nọ vốn cũng đă được sơ tán lên vùng này. Thế nhưng trên đường đến sở làm, đă có một người đàn ông lạ mặt đang đứng đó chờ. 

-Cô Rujie đó phải không?

-Thưa vâng.

-Tôi là người bên An ninh quân đội (kempeitai). Xin cô hăy đi theo tôi v́ chúng tôi có chút chuyện muốn bàn.

Giọng điệu của người kia cho cô hiểu là ḿnh không có quyền từ chối. Anh ta kèm sát bên cạnh người con gái, lúc ấy đang đứng cứng nhắc v́ vừa sợ hăi vừa kinh ngạc, thế rồi cả hai cùng bước  trên con đường băng giá về hướng con phố chính (cựu đạo).

Vào thời đó th́ ở Karuizawa, trạm gác của nha An ninh quân đội được đặt ngay cạnh nhà ga cho nên hành khách khi từ trong ga bước ra, nếu có ǵ khả nghi, đều có khả năng bị khám xét, điều tra. Thế nhưng chỗ cô Rujie được đưa đến không phải là một trạm gác như vậy mà lại là một ngôi nhà giống như biệt thự. Biệt thự ấy có vườn rộng bao xung quanh và cách xa các nhà láng giềng.

Cô gái được đưa vào một căn pḥng lạnh lẽo, tuy có ḷ sưởi nhưng nó không được đốt lên và chỉ trơ mỗi một cái bàn với hai chiếc ghế thô sơ. Ngoài ra chung quanh không có một vật trang trí nào. Mấy bức tường đă tróc sơn và ố bẩn. Bên ngoài cửa sổ cô chỉ thấy mỗi cánh rừng mùa đông đang đổ lá. Măi một lúc sau mới có tiếng chân người rồi cánh cửa được mở ra.. Bước vào bên trong là hai kẻ mà cô vừa mới gặp tối hôm qua, tức Fujikawa và Ono, người đàn ông trung niên quê kệch, nhút nhát. Khác với thái độ hiền lành, khúm núm hôm qua, Ono giờ đă thay đổi hẳn. Ông ta ngạo nghễ đặt mông xuống ghế và dạng cả hai chân lên mặt bàn, c̣n Fujikawa th́ cung kính đứng nép sau lưng. 

-Tuy mang quốc tịch nước ngoài nhưng mẹ cô là người Nhật. Thế chứ khi ngồi đây, cô có mang chút tâm t́nh nào của một người Nhật Bản hay không đấy? Hay cô nghĩ ḿnh là dân ngoại quốc hử?

Ono hỏi cô mà trên môi vẫn phác một nụ cười. Sau khi đă bắt nẹt cô gái lúc đó đang ngồi chết khiếp kia phải thề thốt rằng cô sẽ luôn luôn ư thức ḿnh là một người dân Nhật, ông ta bất chợt  đổi giọng sang săn đón khi đưa ra yêu cầu :

-Thế th́ từ đây, cô có bằng ḷng làm một chuyện nhỏ để phục vụ đất nước hay không đây?

Lúc đó Fujikawa vẫn đứng khép nép đằng sau ông ta và để lộ bản chất thực sự của anh chàng.

Việc Ono muốn nhờ cô Rujie giúp là báo cáo cho ông ta nguồn gốc những cú điện thoại  được gọi tới văn pḥng Đại sứ quán nơi cô đang làm việc cũng như địa chỉ những nơi đă trao đổi thư từ với họ qua bưu điện. ..

-Sao, cô thấy thế nào? Không nhận lời à?

Ono vừa hạ giọng hỏi vừa lấy ngón tay gơ lóc cóc xuống bàn như đánh nhịp. Trong khu rừng bên ngoài của sổ, cô gái nghe đâu đó có tiếng chim trời vọng lên ai oán

Thật ra cô Rujie hoàn toàn không biết tí ǵ nhưng lúc bấy giờ, Karuizawa là nơi tụ tập nhiều nhân vật cao cấp cũng đang sơ tán, nhiều người trong bọn họ tỏ ra chống đối lại phái chủ chiến của tướng Tôjô và đang vận động một giải pháp ḥa b́nh. Để xúc tiến việc đó, họ đang trông cậy vào sự giúp đỡ của Đại sứ quán quốc gia trung lập nơi cô đang làm việc. Dĩ nhiên là cánh An ninh quân đội đang tập trung theo dơi diễn biến của dự tính này.

Cô Rujie dù sợ đến chết khiếp nhưng vẫn lắc đầu quầy quậy. Bởi v́ tôn giáo của cô không cho phép cô làm một hành động ti tiện như vậy. 

-Ra là thế. Cô không muốn cộng tác. Có ǵ ngăn cản cô à?

Ono nói một cách chậm răi như muốn kéo dài từng âm một.

-Được. Tôi sẽ để Fujikawa thế chỗ cho tôi.

Thế rồi Ono bèn đứng lên khỏi ghế và bảo Fujikawa:

-Cậu không cần phải nương tay với con nhỏ này đâu nhé.

Xong câu đó, ông ta bỏ đi mất dạng.

Fujikawa cố gắng thuyết phục Rujie:

-Tôi sẽ không uy hiếp cô đâu. Miễn là cô chịu hợp tác. Ví bằng cô từ chối, chúng tôi bắt buộc làm cho cô đau đớn. Ngay cả ông bố của cô cũng phải chịu chung cảnh ngộ. Chuyện chúng tôi muốn nhờ cô rất quan trọng cho Nhật Bản trong cuộc chiến tranh này.

Khi cô Rujie nghe anh ta hăm dọa sẽ làm cho người cha già yếu của cô phải chịu cảnh đau đớn, người cô run lẩy bẩy:

-Tôi xin anh. Tôi van anh đừng làm như vậy.

-Nhưng tôi không có cách nào khác hơn. Bản thân tôi cũng không hề muốn nó phải xảy ra. Thế nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh.

-Chuyện các anh nhờ, tôi không thể nào làm được. Tôi sợ lắm.

-Có ǵ mà cô phải sợ. Cứ làm nhưng hăy giả vờ như không hay biết.

Vừa lúc ấy, Ono đă xuất hiện trở lại.

-Sao? Fujikawa. Nó đă nhận lời chưa?

-Dạ chưa, nhưng sẽ nhận lời thôi.

Ono bèn đưa tay chụp lấy mái tóc của cô Rougières và dí xuống mặt bàn, vừa bảo:

-Ai là đầu đảng của bọn mày trong cuộc họp tối hôm qua. Phải có đứa nào xúi giục chứ.

Rồi hắn lại nắm đầu cô đập xuống bàn một cái thật mạnh.

-Đừng có giỡn mặt với tụi tao nghe không!.

Đang đứng bên cạnh, Fujikawa làm như nuốn đưa cho cô một cái áo phao cứu mạng  nên đă xen vào:

-Xin thử cho cô này một ngày để suy nghĩ lại đi anh.

Cách thức “cái roi và củ cà rốt” (muchi to ame) vẫn là phương pháp mà họ thường đem ra sử dụng xen kẽ.

Hôm đó, rốt cuộc cô gái đă được thả ra. Thế nhưng sáng ngày hôm sau, vẫn trên con đường lạnh giá, đă có một người khác đang đứng chực cô. Không biết làm cách nào để bảo vệ mạng sống của cha ḿnh, rốt cuộc cô Rougières đành căn răng vâng theo ư họ.

Thế nhưng may phước cho cô là trong thời gian ấy, không có cuộc điện thoại nào gọi cho Đại sứ quán khả dĩ làm cho Nha An ninh quân đội nghi ngờ. Cũng không có một bức thư nào từ những người Nhật đang vận động cho phong trào ḥa b́nh được gửi tới đó. Ban đầu, Ono c̣n nghi ngờ  là cô Rujie dấu diếm tin tức thế nhưng đến khi Fujikawa giả dạng làm thợ sửa ống nước bị đóng giá và đột nhập được vào Đại sứ quán để ḍ la th́  khi ra về, anh ta cũng xác nhận đó là sự thực.

Chính ra những người vận động ḥa b́nh cũng thừa biết phía An ninh quân đội đang theo dơi nên họ đă không để xảy ra một hành vi sơ suất (hema) nào.

***

Khi nghe ông chủ tiệm giặt ủi kể câu chuyện về cô Rougières, tôi đă hỏi v́ sao ông lại rơ đến thế th́ ông đă trả lời:

-Có ǵ là lạ đâu. Hồi đó, người anh em họ của tôi là nhân viên cảnh sát kia mà. Sau chiến tranh, ông này mới cho tôi biết cơ sự đó chứ.

“À ra thế!”. Nhưng thật ra, tôi không kinh ngạc tí nào khi nghe câu chuyện ông vừa kể, bởi v́ trong khi đi thu thập tài liệu, tôi đă nghe từ nhiều nguồn tin về những hành vi tác yêu tác quái của Kempeitai ở vùng Karuizawa này. Những điều nói trên tôi đă có lần thuật lại trong những tiểu thuyết khác. Một trong những tác phẩm ấy đă được chuyển thể thành kịch nói như vở “Ngôi nhà của hoa hồng” (Bara no yado) và đem tŕnh diễn trên sân khấu.

Tuy nhiên câu chuyện do ông chủ tiệm giặt ủi kể không ngừng lại ở đây.

-Khoảng một năm sau khi chiến tranh chấm dứt, người cha của cô Rujie lâm bệnh và qua đời. Cô ấy vẫn chưa chịu về Tokyo và hăy c̣n nấn ná lại Atagoyama, vừa dạy các thiếu nữ trẻ học đánh máy và ngoại ngữ, kỳ dư dành thời gian cho công việc của giáo hội.

Thế rồi đến một ngày, có xe Jeep chở quân cảnh Mỹ (M.P.) từ Nagano t́m tới nhà cô Rujie. Chuyện này xảy ra khoảng nửa năm sau ngày cụ mục sư, cha cô, mất. Vào lúc đó, không những Tokyo mà bất cứ nơi nào trên đất Nhật đều là cảnh cháy rụi và đổ nát, người dân đang trải qua mùa thu thứ hai trong đói khát và lạnh lẽo. Thế rồi những kẻ phạm tội ác trong chiến tranh lần lượt bị săn lùng và thẩm vấn. Nhiều người đă bị đem ra ṭa án xét xử.

Cô Rujie đă được quân cảnh Mỹ đưa lên xe Jeep chở về trụ sở của họ ở Nagano. Thế rồi các điều tra viên của quân đội Mỹ đă thẩm vấn về các hành động của cô trong giai đoạn chiến tranh. Họ c̣n hỏi xem cô có bị Kempeitai tra tấn hay không.

Cô Rujie lúc ấy đă lắc đầu để phủ nhận. Viên trung úy đang điều tra tỏ ra sửng sốt và hỏi lại lần nữa xem cô có nói đúng sự thực chăng. Và cô đă xác nhận đó là sự thực.

-Thế th́ tôi xin hỏi tiếp là cô có biết mấy người đàn ông này không?

Viên trung úy ra lệnh cho mấy người quân cảnh mở cửa pḥng. Khi cánh cửa vừa mở, cô đă nhận ra Fujikawa và Ono, cả hai vóc dáng ốm o tiều tụy và đôi g̣ má hóp trong bộ đồ mặc khi đi lao động.

-Cô có chắc là hai người đàn ông này không hề làm ǵ cô chứ?

Ngay lúc đó, trong đầu cô Rujie bỗng hiện ra quang cảnh buổi sáng mùa đông, khi cô bị nắm tóc và đập đầu xuống mặt bàn, và lẫn vào đó là những âm thanh uy hiếp và hăm dọa vọng đến bên tai. Một cơn giận không thể nào tả xiết đă dậy lên và làm nóng ran lồng ngực cô.

-Có phải họ không làm ǵ cô hết hay không?

Cô Rujie đă trả lời:

-Tôi nhớ mấy người này chứ. Với tôi...họ đă...

Nhưng đến đây, bỗng nhiên cô ngừng lại một đỗi rồi sau mới tiếp tục: 

-Họ đă đem khoai tây và sữa dê đến cho cha con tôi. Lúc đó, chúng tôi rất đói khát.

Nhân viên thông dịch bèn lập lại bằng tiếng Nhật cho Fujikawa và Ono nguyên văn những điều cô gái vừa mới nói. Cả Fujikawa và Ono đều cúi gầm mặt trong khi nghe cái câu trả lời họ không thể ngờ tới từ phía cô gái

-Bẵng đi một thời gian, trong khi cô Rujie phải nhập viện ở Tokyo, tôi có nghe kể lại là hai người ấy đă vào thăm. H́nh như là để nói một lời cảm ơn. Lúc đó th́ cô Rujie đang mắc chứng ung thư và các bác sĩ đều đă bó tay. Sao mà cô ấy tội nghiệp thế không biết.

Phần tôi (tác giả) th́ trong thời gian chiến tranh đang lên đến cao điểm, đă có lần đến ngụ khoảng nửa tháng trong một vùng thôn ổ có tên là Furuyado vốn nằm không xa thị trấn Karuizawa. Lúc bấy giờ, tôi hăy c̣n là sinh viên nhưng đă có dịp chứng kiến cảnh những người đàn bà ngoại quốc bập bẹ tiếng Nhật ghé qua nhà bác nông dân cho tôi ở trọ để hỏi mua trứng. Thế th́ có khả năng là trong đám phụ nữ ngoại quốc đi mua trứng thời sơ tán ấy cũng có cả h́nh bóng của một cô Rougières nào đó.

Từ nhà của ông chủ tiệm giặt ủi bước ra, tôi lấy con đường hẻm nằm sau lưng con phố chính (cựu đạo) và đi về hướng có trạm xe buưt. Trên con đường hẻm này cũng có nhiều các cô cậu trẻ đang đi xe đạp lướt ngang, đôi khi họ đứng lại bấm máy ảnh chụp cho nhau.

Tôi trở về túp nhà con trong núi, xem lại lần nữa những món đồ nằm trong cái hộp. Trong khi nh́n một cách lơ đăng những tờ bưu ảnh người ta đă  gửi cho cô Rougières mà người trong vùng phát âm nhầm là Rujie (Rouget), đột nhiên, tôi để ư đến một điều kỳ lạ.

Tên người gửi thư cho cô Rougières  có khá nhiều nhưng riêng địa chỉ th́ có điểm hơi lạ. Chẳng hạn có địa chỉ đề phố Luca ở Roma (via Luca, Roma) và kèm theo số nhà. Chổ khác lại được gửi đi từ phố Matteo ở Madrid (calle Matteo, Madrid) kèm theo cả số nhà. Chúng ta biết Luca (Luc) và Matteo (Mathieu) là tên hai trong 4 phúc âm quan trọng (Tứ phúc âm thư) của Kinh Thánh Tân Ước. Thế mà địa chỉ của người gửi hầu như đều mang tên các sách nói trên.  

Tôi đă chăm chú ngắm những bưu ảnh ấy trong một đỗi lâu. Thế rồi, như chợt nhớ ra, tôi đă cho tay vào cái hộp gỗ để lấy cuốn Kinh Thánh cũ kỹ c̣n nằm bên trong. Đó là một cuốn sách đă ố vàng theo thời gian và xông lên mùi ẩm mốc.

Nếu địa chỉ người gửi bưu ảnh mang số 10-4 trên phố Luca thành Roma th́ tôi phải xem đoạn 10 câu 4 sách Lucas đă viết những ǵ. Tôi đă tra cứu được nguyên văn câu đó là: “Hễ các người vào nhà nào, trước hết hăy nói rằng: Cầu sự b́nh an cho nhà này!” C̣n nội dung viết sau lưng bưu ảnh h́nh như là để thông báo đứa bé sơ sinh con của bà Boulanger đă chết v́ chứng viêm họng (diphtheria). Người gửi cũng viết thêm là thật tội nghiệp cho bà nhưng tin chắc thế nào rồi bà cũng sẽ t́m lại được sự yên ổn trong tâm hồn.

Xem xong, tôi mới thở hắt ra.Tuy không dám tự cho phép ḿnh suy đoán vô căn cứ nhưng tôi nghĩ biết đâu thông điệp ấy không ngụ ư rằng những cố gắng thương thảo để có ḥa b́nh đă chết từ trong trứng nước?

C̣n như trong tấm bưu ảnh gửi đi từ số nhà 27-1 phố Matteo thành Madrid th́ nó tương ứng với những lời chép trong sách Matteo (Mathieu) đoạn 27 câu 1 và có kèm theo mấy chữ “Dạo này tôi thích đọc Tolstoy và Tourrgueniev”. Không cần mở Kinh Thánh đoạn 27 câu 1 của sách Matteo, tôi cũng biết nó nói đến việc các thầy tế lễ cả của phái Sadokai đă hiệp nghị để âm mưu giết chúa Giê-su. C̣n như Tolstoy và Tourgueniev th́ họ là hai nhà văn Nga. Gộp hai thông tin này lại, tôi liên tưởng đến cuộc hội đàm ở Yalta[4] giữa các nhà lănh đạo Mỹ Anh và Liên Xô nhằm kết thúc chiến tranh.

Dĩ nhiên, không có ǵ khác để chứng minh điều đó cả. Có khi nó chỉ là sản phẩm đến từ óc tưởng tượng của tôi thôi.

Tuy vậy, tôi vẫn ngờ rằng các người bạn của cô Rougières hồi hương trước đó đă dùng phương pháp này để thông báo cho hai cha con cô về diễn tiến t́nh h́nh chiến sự mà họ nh́n thấy được từ bên ngoài nước Nhật.

Thế rồi...thế rồi ... kể từ ngày đó, phải chăng cô Rougières đă nhét mớ bưu ảnh vào trong cuốn Kinh Thánh mà cô thường đặt lên bục cầu kinh trong giáo đường. Để một người nào đó có thể mở ra xem và đi liên lạc với ai khác chăng?

Tôi cảm thấy thật phấn khích. Nhưng nó vẫn là một sự phấn khích vô căn cứ. C̣n có thể xem đó là một ảo tưởng cũng nên. Dù là thế đi nữa, tôi không hiểu cô Rougières có tâm nguyện là sau khi ḿnh qua đời, quyển Kinh Thánh và những tấm bưu ảnh này sẽ được truyền lại cho một ai khác - chẳng hạn người như tôi - hay không? Có lẽ là không rồi. Duy có cái ǵ đó đă khiến tôi cảm thấy rằng chính sức mạnh tinh thần kiên cường của mớ giấy tờ ghi lại chân tướng của thời đại đó - dù từng nằm im ĺm trong hộp gỗ qua một thời gian dài - vẫn cố gắng đợi chờ đến khi chúng được một người như tôi cầm lên đọc. 

Tưởng tượng ra được những điều hoang đường và phi lư như trên, có lẽ đầu óc của tôi đă quá già nua và khiến cho tôi đâm ra lẩm cẩm. Chả thế mà mỗi buổi sáng, tôi vẫn hay ra ngồi cạnh mấy chậu cây cảnh bày trong thư pḥng để gợi chuyện với chúng! Không chỉ nghĩ rằng thực vật có thể hiểu tiếng người, tôi c̣n có cảm tưởng là cây cối cũng như đất đá và ngay cả những tấm bưu ảnh, mỗi thứ  đều có thể chứa đựng những thao thức của con người và biết diễn tả bằng một thứ âm thanh thầm lặng theo kiểu riêng của chúng. 

                                                                     

     Dịch ngày 27/05/2024

Tư iiệu tham khảo:

-Endo Shusaku, Hako (Cái hộp, 1985), đăng lại trong “Piano Kyosokoku 21 ban” (Bản giao hưởng số 21 viết cho dương cầm), Nxb Bungei Shunju, Tokyo, 1987.Trang  173 đến198. Nguyên tác Nhật ngữ.       

-Endo Shusaku, Hako, do bà Minh Nguyen Mordvinoff dịch sang Pháp ngữ dưới nhan đề “La Boite” in trong Tuyển tập”Une femme nommée Shizu” Collection Folio, nxb Denoel, Paris, 1997.  Trang 257 đến 253. Bản ngoại văn tham chiếu.

-Kinh Thánh Tân Ước đạo Tin Lành, Tổng Hội Hội ThánhTin Lành Việt Nam (miền Bắc), Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2003. Dùng trích dẫn.


 

[1] Shinano hay Shinshu đu là tên cũ của Nagano thi phong kiến.

[2] Nhc kch ca Puccini vi bi cnh cng Nagasaki và nàng geisha tên Chôchô (H Đip)

[3] Hori Tatsuo (1904-1953) nhà văn đu đi Shôwa, tng viết v Karuizawa.

[4] Yalta là thành ph ngh mát thuc bán đo Crimea trên Hc Hi, nơi Roosevelt, Staline và Churchill... cùng hip ngh vào tháng 2  năm 1945 nhm giáng ngón đ̣n cui vào cuc chiến tranh.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com