BIỂN VÀ TỊCH DƯƠNG

(Umi to yuyake, 1955)

 

Nguyên tác: Mishima Yukio

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Ảnh minh họa

 

Đó là một ngày cuối hè năm Bun-ei (Văn Vĩnh) thứ 9. Vì còn có dịp nhắc đến trong những trang sau nên xin biết ngay rằng năm Bun-ei thứ 9 này nhằm vào năm 1272 tính theo Tây lịch.

Hôm ấy, ông già lo việc tạp dịch trong Kenchôji (Kiến Trường Tự) ở Kamakura và một cậu bé đang leo lên con dốc hướng về ngọn núi Shôjôgatake (Thắng Thượng Nhạc) vốn nằm sau lưng chùa. Ông những muốn lợi dụng lúc mặt trời còn ở trên đỉnh đầu quét dọn cho nhanh để đủ thời giờ leo núi để ngắm cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp thấy từ nơi đó mà ông hết sức thích.

Cậu bé này vừa câm vừa điếc nên đã bị nhóm bạn trẻ con nhà quê thường lên chùa chơi gạt qua một bên. Ông già thấy tội nghiệp bèn cho cậu ta đi cùng mỗi lần ông có dịp leo lên ngọn Shôjôgatake.

Ông già lo việc tạp dịch trong chùa (teraotoko) này tên là An Lý (Henry). Tuy khổ người không cao to cho lắm nhưng đôi mắt ông trong xanh như hai hòn bi ve. Mũi ông thật cao và hốc mắt lại sâu, nên chỉ cần nhìn một lần đã thấy tướng mạo không giống những người thường gặp. Bọn trẻ ngỗ nghịch trong xóm chẳng bao giờ gọi ông là Anri (An Lý) mà thay vào đó, chúng có thói quen gọi lén sau lưng là Tengu (Thiên Cẩu) hay "Con quỷ mũi lõ".

Khi nói tiếng Nhật, An Lý dùng từ ngữ rất chuẩn xác và cách phát âm của ông không có gì lạ tai như của kẻ đến từ vùng đất khác.Vì ông là người đã tháp tùng Đại Giác thiền sư Lan Khê Đạo Long (Daigaku Tenji Rankei Dôryuu)[1] (đến từ Trung Quốc) nên tính đến nay, ông đã ở đây phải đến hai mươi mấy năm.

Ánh nắng chiều đang chiếu xiên xiên, nhân vì bị ngọn núi như tấm bình phong ngăn chắn, nó chỉ để lại một quầng sáng yếu ớt trên ngọn tháp của Chiêu Đường (Shôdô), nơi thu thập di cốt các cao tăng quá cố. Cổng sơn môn vươn cao lên nền trời như tạo nên biên giới giữa bóng tối và ánh sáng. Đó là thời điểm mà bóng tối sắp trùm lên tất cả mọi vật trong sân chùa, nơi có nhiều lùm cây đổ bóng.

Tuy vậy, con dốc lên ngọn Shôjôgatake mà Anri và chú bé đang leo lúc đó hãy còn tắm trong ánh nắng chưa tàn và khắp núi đang rộn tiếng ve ran. Dọc theo con đường núi cỏ dại mọc lấn hai bên, đôi khi khách đi đường bất chợt nhận ra lấm tấm đây đó màu đỏ tươi tắn của những cánh hoa Manshushage (Mạn Thù Sa) như muốn báo cho họ biết mùa thu sắp trở về.

Lên được tới đỉnh núi, hai ông cháu không lau mồ hôi mà để mặc cho những ngọn gió núi mát rượi hong khô làn da.

Từ chỗ này, họ có thể nhìn thấy những ngọn tháp các phân viện (tatchuu) của Kenchôji lô nhô hiện ra bên dưới. Nào là Tây Lai Viện (Saira-in) Đồng Khế Viện (Dôkei-in), Diệu Cao Viện (Myôkô-in), Bảo Châu Viện (Hôjuu-in), Thiên Nguyên Viện (Tengen-in) và Long Phong Viện (Ryuuhô-in). Ở một phía của sơn môn lại có một cây bách thuần giống (shinbaku) mà ngài Đại Giác thiền sư đã đem mầm (naegi) từ nước Tống – mẫu quốc của ngài – sang đây trồng. Và nếu nhìn từ vị trí này, sẽ có cảm tưởng là thân cây trẻ trung ấy như đang muốn tom góp những tia nắng buổi chiều cuối hạ vào bên trong tàng lá.

Ở lưng chừng ngọn núi Shôjôgatake, hai người nhận ra cái mái của Áo Viện (Oku no In) nằm ngay trước mắt họ và dưới đó một chút, là lầu chuông (chung lâu) của chùa đang vươn cao. Bên dưới dãy hang động vốn dùng làm chỗ cho các thiền sư tọa thiền là một vùng hoa cỏ và cả khu rừng anh đào đang khoe những tàng lá xum xuê mà mỗi độ xuân về, đều trải rộng như một biển hoa. Còn phía dưới chân núi là đầm Đại Giác (Daigaku no Ike). Nó đang cho thấy sự có mặt của mình bằng những ánh nước mơ hồ phản chiếu qua rừng cây.

Thế nhưng phong cảnh đang lọt vào tầm mắt của Anri không chỉ có chừng đó.

Đằng sau những ngọn đồi và thung lũng chập chùng của vùng Kamakura là mặt biển lấp lánh kéo đến tận đường chân trời ở tít xa.Vào mùa hè, từ nơi đây, ông già có thể nhìn thấy cảnh mặt trời chìm xuống nước kề bên mũi đất Inamura ga saki.

Nơi đường chân trời màu xanh đậm tiếp giáp với tầng không đang có những đám mây thấp và dày nổi lên cuồn cuộn. Tuy không di động nhưng dù ở một chỗ, chúng vẫn lặng lẽ thay hình đổi dạng và trông như những cánh hoa đang tô điểm cho cái đài hoa là mặt trời chiều. Bên trên hãy còn là bầu trời xanh mà ánh sáng đã nhạt nhòa với những vầng mây chưa thực sự đổi màu. Chúng chỉ được chiếu sáng bằng những tia nắng vàng tươm màu hạnh (anzu) chín phóng ra từ những kẽ hở.

Phong cảnh bầu trời lúc này như đang đánh dấu một sự giằng co giữa mùa hè và mùa thu. Lý do là trên vùng trời ở mãi xa đang có những đám mây nằm vắt ngang và cắt thành lát như thân cá mòi (iwashigumo). Mấy đám mây ấy trải dài ra và rắc thành từng đốm lỗ chỗ lên vùng đất nhiều thung lũng của khu vực Kamakura.

Lúc đó, với cái giọng khàn đục của một lão già, Anri chợt thốt lên:

-Ô kìa! Trông nó chẳng khác nào một đàn cừu nhỉ?

Tuy nhiên cậu bé câm điếc đang ngồi trên một tảng đá cạnh chỉ biết ngước mắt chăm chú nhìn vào khuôn mặt của ông lão giúp việc cho nhà chùa. Thành ra những lời ông vừa nói chỉ là điều ông đang tự nhủ với mình.

Cậu bé chẳng nghe được gì và cũng không hiểu gì hết. Thế nhưng, khi nhìn vào cặp mắt trong vắt và thông minh của cậu, người ta có cảm tưởng là những điều Anri muốn bày tỏ, đã từ đôi mắt xanh biếc của ông đi thẳng vào cặp mắt của cậu ấy..

Và theo cách trực tiếp đó, dường như Anri đã có thể trao đổi được ý kiến với cậu bé. Những lời lẽ ấy không đến từ thứ tiếng Nhật mà ông vẫn dùng lưu loát mỗi ngày. Ông đã diễn tả bằng tiếng Pháp, lại là một thứ tiếng Pháp pha lẫn phương ngữ và có âm sắc của vùng sơn cước nơi ông sinh ra. Nếu những đứa trẻ ngỗ nghịch quanh vùng có dịp nghe được những câu nói với nhiều mẫu âm và cách biến hỏa uyển chuyển kia thì chúng chỉ có thêm xác tín rằng cái tiếng mẹ đẻ đó quả là tiếng nói phù hợp với kẻ vẫn bị chế nhạo là "Con quỷ mũi lõ" (Tengu).

Một lần nữa, Anri vừa cất tiếng thở dài vừa nói thêm:

-Ôi chao! Sao mà chúng giống đàn cừu đến thế! Không biết những con cừu nhỏ đáng yêu của ta ở xứ Cévennes, bây giờ đã ra sao! Có lẽ chúng đã có con, có cháu và có chắt rồi cũng nên! Riêng chúng thì đã chết hết cả mất rồi.

Anri ngồi xuống một tảng đá, lựa chỗ không có đám cỏ mùa hạ mọc lan che khuất tầm nhìn của mình khỏi mặt biển ngoài xa.

Đàn ve như đang tụ tập lại một chỗ bên trong núi và cất tiếng kêu inh ỏi.

Anri đưa cặp mắt trong xanh như hai hòn bi ve nhìn về phía cậu bé và gợi chuyện:

-Dù ta có nói cái gì, chắc cháu cũng không hiểu đâu. Thế nhưng khác với đám dân làng, cháu là người tin vào những điều ta nói. Thôi, giờ để ta kể cho cháu nghe. Những điều ta sắp nói đây, có những cái ngay cả cháu cũng chẳng thể nào tin nổi, nhưng dù sao hãy lắng tai nghe. Bởi vì ngoài cháu ra, chắc không ai khác chịu nghe những điều ta nói đâu, cháu ạ!

Thế rồi Anri bắt đầu trình bày câu chuyện về mình một cách vụng về. Lúc nào lời nói bị ngáng trong cổ họng, ông bèn khoa tay múa chân như đang cố gắng tìm cho ra câu chữ có thể diễn tả hết những kỷ niệm đang có trong đầu.

"Đã lâu lắm rồi, cháu ạ! Khi đó ta còn trẻ và ở vào lứa tuổi của cháu À không! Lúc đó ta còn bé hơn cháu nữa cơ.. Ta là một chú mục đồng vùng Cévennes. Con biết không, Cevennes là nơi có núi non rất đẹp nằm giữa nước Pháp, ở phía Nam ngọn Pilat và là một phần của vùng Toulouse. Mấy chi tiết đó chắc chẳng đáng cho con phải nhớ đâu. Trong ngôi làng của cháu thì, ngay cả tên của xứ sở nơi ta xuất thân, cũng chẳng có ma nào biết nó nằm ở đâu...Huống hồ...

Lúc đó là năm 1272 cái năm bọn chúng ta lại để mất Đất Thánh mà Thập Tự Quân vừa mới giành được sau cuộc Thánh Chiến lần thứ năm. Người dân Pháp lúc đó chìm đắm trong sầu khổ, đàn bà con gái đều mặc đồ tang chế.

"Một hôm ta định lùa đàn cừu từ đồng cỏ về chuồng. Khi sắp sửa leo lên một ngọn đồi thấp thì bỗng nhiên, bầu trời chợt bừng sáng ra một cách dị thường và con chó theo ta đi chăn bỗng cụp đuôi lại, chạy đến nấp đằng sau lưng ta và cất tiếng sủa râm ran.

Thì vừa lúc đó, ta thấy từ trên đỉnh đồi, chúa Ki-Tô (Jesus Christ), trong bộ trang phục toàn một màu trắng lấp lánh, đang đi xuống phía ta. Ngài có một chòm râu vẫn thấy trong những bức tranh vẽ về ngài và một nụ cười hiền hậu chứa đầy lòng trắc ẩn. Ta bèn nằm xầp mặt xuống đất. Đấng Christ chìa tay ra, và theo những gì ta còn nhớ được, ngài đã dịu dàng vuốt mái tóc ta. Ngài phán với ta rằng : "Này Henri! Chính ngươi là người một ngày nào đó sẽ chiếm được thành phố Jerusalem. Ngươi và lớp người trẻ sẽ giành lại ngôi thành ấy từ tay những người Thổ Nhĩ Kỳ (Turks) ngoại đạo. Hãy tụ tập bạn bè cùng chí hướng và kéo nhau xuống cảng Marseille. Từ nơi ấy, dòng nước của Địa Trung Hải sẽ rẽ ra hai bên và đưa các ngươi đến miền Đất Thánh.

"Đó là những điều ta đã nghe, hay ít nhất có thể nghe được từ ngài. Bởi vì sau lúc ấy, ta đã ngất xỉu May là nhờ con chó đi theo đã liếm mặt ta nhiều lần thật mạnh giúp ta hồi tỉnh. Rồi khi mở mắt ra, trong ánh sáng nhạt nhòa của buổi chiều, ta đã thấy Đức Chúa Giê-su đang đứng bên cạnh và nhìn ta với tất cả sự lo lắng. Còn mình mẫy của ta thì lúc đó đã ướt đẫm mồ hôi.

"Từ khi về đến nhà, ta không hề hé lộ chuyện này cho ai cả. Chỉ vì ta nghĩ dầu mình có nói chắc cũng chả ai tin.

"Bốn năm hôm sau, trong khi trời đang mưa và ta đang một mình ngồi bó gối trong túp lều giữa lúc hoàng hôn xuống thì, cũng như hôm trước, có tiếng ai đó gõ vào cánh cửa. Ta bèn bước ra và thấy có một người khách đi đường đã lớn tuổi. Ông già ấy hỏi xin ta một miếng bánh mì. Ta bèn chăm chú quan sát ông ta. Ngoài cái mũi thật to, ông còn có một khuôn mặt nghiêm nghị bao quanh bằng chòm râu bạc. Nhất là đôi mắt ông sâu và trong vắt một cách lạ lùng khiến cho ta không khỏi khiếp hãi. Nhân trời hãy còn mưa, ta đã mời ông vào nhà nhưng ông ta lại không trả lời. Lúc đó, ta mới nhận ra rằng ngay cả quần áo ông ấy cũng không thấy ướt dù ông lội bộ tới đây giữa trời mưa gió.

Ta sợ hãi đến độ không mở miệng được để nói một câu gì. Ông lão cảm ơn ta đã cho bánh ăn rồi bỏ đi mất, Ta còn nhớ rất rành mạch là ông ta đã nói như sau:

"Chắc ngươi chưa quên lời Chúa dặn dò hôm trước chứ! Cớ sao lại còn chần chờ? Nên nhớ ngươi là người được Chúa giao nhiệm vụ đó nghe!"

Ta định đuổi theo ông lão nhưng vì chung quanh trời tối quá và mưa lại đổ xuống rất dữ dội nên đã không thể nhìn thấy bóng của ông ấy đâu nữa. Giữa làn mưa dày, ta nhận ra là bầy cừu đang đứng sát lại bên nhau và kêu be be náo loạn như muốn bày tỏ nỗi bất an của chúng.....

Đêm đó, ta đã trằn trọc không sao chợp mắt.

Ngày hôm sau, ta lại đưa đàn cừu ra ngoài đồng. Thế rồi sau khi đã lưỡng lự mãi, ta mới thuật lại câu chuyện ấy cho một anh mục đồng cùng trang lứa lại là người bạn thân thiết nhất của ta. Anh ấy vốn là một con người ðạo hạnh nên khi vừa nghe xong câu chuyện, đã đâm ra hoảng hốt. Anh đã quì mọp xuống bãi cỏ mọc đầy hoa mục túc (umagoyashi, bur clover) và run rẩy trước mặt ta.

Thế rồi chỉ trong vòng mười hôm, ta đã tập họp được quanh ta một số mục đồng trẻ tuổi trong vùng. Ta hoàn toàn không có hành động nào ép uổng họ hết, và không dấu gì cháu, tất cả bọn họ đều đã tự nguyện theo ta.

"Chẳng bao lâu sau lại có lời đồn đại lan ra khắp vùng là ở làng bên cạnh vừa xuất hiện một đứa trẻ chăn cừu mới tám tuổi mà đã có năng lực tiên tri. Câu ấy còn biết giảng đạo và làm phép lạ nữa. Theo lời người ta kể thì cậu ấy có lần giúp cho một cô bé mù được sáng ra bằng cách đưa tay sờ một chút lên mắt cô ấy.

"Ta bèn đưa các bạn đệ tử đi theo đến gặp cậu ta và đã chứng kiến quang cảnh nhà tiên tri trẻ tuổi ấy đang cười nói và vui đùa với đám bạn trẻ con.Ta bèn quì xuống bên cậu và kể lại cho cậu nghe những sự kêu gọi lạ lùng đã xảy đến cho bản thân.

"Cậu bé có một làn da trắng như sữa và những lọn tóc quăn vàng óng che lấy vầng trán cũng rất trắng và lộ ra những đường gân xanh nhỏ. Khi thấy ta quì xuống bên cạnh, cậu bèn ngưng tiếng cười và mím môi lại độ hai ba lần.Thế nhưng cậu không chú ý đến ta mà chỉ đưa mắt nhìn về phía những cánh đồng cỏ, thấp cao như sóng lượn ở cuối chân trời.

"Ta cũng đưa mắt nhìn theo hướng đó và thấy nơi ấy có một cây ô-liu (kanran no ki) trông thật cao to bề thế. Ánh sáng vây bọc chung quanh thân cây cũng như cành, lá và ngọn của nó làm như đã toát ra từ trong bộng cây. Có những làn gió thổi ngang qua. Cậu bé trịnh trọng đặt một bàn tay trên vai ta và đưa một ngón tay chỉ về phía thân cây ấy. Ta bèn nhận ra rằng trên ngọn cây có một bầy thiên thần đang gây ra những tiếng động nhẹ nhàng khi ve vẩy đôi cánh hoàng kim của họ.

Một lần nữa, cậu bé đã ngỏ lời với ta bằng một giọng không kém phần nghiêm trang so với thái độ hồi nãy:

-Hãy đi về phương Đông. Đi mãi, càng xa về phía Đông càng tốt! Để thực hiện điều đó, người cần phải đến Marseille như điều ngươi đã được dặn dò.

"Rồi sau đó, những lời đồn đại tiếp tục loan truyền ra khắp nước. Chẳng bao lâu, người ta được biết trong mỗi vùng miền của đất Pháp đều có những sự kiện tương tự xảy ra. Chẳng hạn, họ đồn về một cậu bé bỏ nhà ra đi sau khi nhận được thanh kiếm của cha mình, một chiến sĩ Thập Tự Quân đã bỏ mình nơi chiến địa. Lại có câu chuyện về một cậu khác, khi đang chơi trong vườn , đột nhiên ngưng trò chơi và bỏ lại mọi thứ đồ chơi, chỉ xin cô giúp việc một mẩu bánh mì nhét túi rồi lên đường. Mẹ cậu níu kéo, mắng mỏ và làm đủ cách để cậu phải thay đổi ý định nhưng đành tuyệt vọng! Cậu đã không nghe lời mẹ và bỏ đi Marseille.

"Trong một ngôi làng, ngay giữa ban đêm, có một đám trẻ đã lén trốn khỏi nhà cha mẹ và tụ tập lại trên quảng trường của làng vừa hát những bài thánh vịnh, vừa cất bước nhưng lại không biết trước mình sẽ đi đâu. Khi đám người lớn thức dậy thì họ nhận ra là trong làng không còn một đứa trẻ nào, ngoại trừ những đứa hãy còn chập chững, chưa đủ sức để có thể theo anh chị chúng được.

"Bản thân ta cùng đám bạn bè đồng chí hướng cũng đã lo chuẩn bị lên đường xuống Marseille trước khi cha mẹ của ta tìm đến, than khóc và nguyền rũa sự thiếu suy xét của ta và định lôi ta về nhà. Trước những hành động thiếu đạo hạnh của các bậc phụ mẫu, các bạn của ta đã từ chối thẳng thừng và khuyên họ ra về. Rốt cuộc, ta và các bạn, không dưới một trăm đứa đã lên đường. Cùng lúc, hàng nghìn đứa trẻ khác từ các vùng miền của hai nước Pháp và Đức cũng đã đến gia nhập vào cuộc Thánh Chiến của chúng ta.

"Chuyến đi của chúng ta không dễ dàng tí nào.Mới xuất phát chưa đầy nửa ngày, một cậu bạn nhỏ và yếu ớt nhất trong đám đã gục ngã. Không biết chi hơn, chúng ta bèn đem cái thi thể ấy vùi nông dưới đất và cắm một cây thánh giá nhỏ bằng thanh củi lên trên để đánh dấu.

"Ta cũng được nghe kể rằng một toán trẻ con khác với nhân số khoảng 100 đã đi nhầm vào một vùng mà bệnh dịch (kokushibyô, pest) đang hoành hành. Không một ai thoát nạn. Đoàn chúng ta nào có hơn gì. Vì kiệt sức và hoảng loạn, một cô gái trẻ trong đoàn đã gieo mình xuống vực và cô đã chết.

"Nếu có gì có thể gọi là quái lạ thì ấy là việc những kẻ lâm nạn đều nhìn thấy cùng một ảo ảnh bất di bất dịch. Đó là hình ảnh của miền Đất Thánh. Ta dám chắc đó không phải là hình ảnh về một Đất Thánh hoang vu cằn cỗi trong thực tế nhưng là một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, đầy mật ngọt và hoa huệ. Làm sao chúng ta biết được điều đó à? Đó là nhờ những người đang hấp hối kể lại về những gì đang hiện ra dưới mắt họ. Làm sao chúng ta lại không tin những lời ấy khi đôi mắt của họ lúc đó như xuất thần và đắm đuối nhìn về một khung trời ngập trong ánh sáng bao la.

"Cuối cùng bọn ta đã đến Marseille.

"Đã có sẵn hàng chục đứa trẻ, con trai cũng như con gái, đứng đón bọn ta. Vì chúng ta đã đến nơi nên tin chắc là mặt biển sẽ được tách ra làm đôi để đưa chúng ta đi. Tuy vậy, lúc đến nơi thì nhân số trong đoàn đã hao đi mất hai phần ba so với lúc khởi hành.

"Ta tiến về phía cầu tàu trong khi các cô cậu bé con với đôi má hồng hào đang vây lấy chung quanh. Chúng ta thấy có một đoàn thuyền buồm dựng sát bên nhau và đám thủy thủ nhìn chúng ta với cặp mắt tò mò. Ta đứng trên cầu tàu chắp tay cầu nguyện. Mặt trời chiều chiếu những tia nắng loang loáng bên trên mặt nước làm lóa mắt. Ta đã cầu nguyện một đổi thật lâu nhưng sao mặt biển vẫn bất động như hình ảnh của nó từ trước đến giờ. Sóng vẫn lặng lẽ vỗ vào bờ như hoàn toàn thờ ơ trước những điều chúng ta lo nghĩ.

"Chúng ta không thể bỏ cuộc. Có lẽ Đấng Christ còn đợi mọi người đến đông đủ cả.

"Bọn trẻ con hết tốp này đến tốp khác đã từ từ kéo đến. Tất cả đều mệt mỏi, kiệt quệ, nhiều kẻ còn đang mắc bệnh nặng. Chúng ta đợi hết ngày này sang ngày khác nhưng chỉ hoài công! Biển cả vẫn khép kín trước mặt

Chính lúc đó bỗng có một người tiến đến cạnh nhóm chúng ta và đem cho cơm nước. Ông ta có vẻ là một người ngoan đạo và sốt sắng. Ông tỏ ý muốn làm ơn làm phước cho chúng ta, rụt rè cho biết rằng mình là chủ nhân một chiếc tàu và sẽ rất vinh dự được đưa chúng ta đến thánh địa Jerusalem. Phân nửa các bạn ta hãy còn do dự trong khi nửa kia kể cả ta đã hăng hái leo lên tàu.

Thế nhưng chiếc tàu của ông thay vì đưa chúng ta đến Jerusalem, đã đổi hướng sang phía Đông Nam và chở chúng ta tận thành phố Alexandria bên Ai Cập. Sau đó, chúng ta đã bị họ đem ra bán ở chợ nô lệ."

Nói đến đây, Anri im lặng một hồi lâu như muốn moi thêm từ ký ức những nỗi cơ cực đau thương mà ông đã trải qua trong giai đoạn đó của đời mình.

Trên bầu trời, một cảnh hoàng hôn tráng lệ thường được chứng kiến vào những chiều cuối hè đã bắt đầu diễn ra, Những cụm mây như xếp lát ngả sang màu đỏ rực và bên cạnh đó là những chòm mây với hai màu đỏ và vàng đang nằm vắt ngang bầu trời như những dải cờ đuôi nheo. Bầu trời phía trên mặt biển trông giống cái lò than hồng đang hừng hực cháy. Màu xanh lục của vùng cây cối chung quanh cũng nhờ phản chiếu màu đỏ của nắng chiều mà rực rỡ thêm.

Thế rồi giờ đây, lời của Henri dường như muốn hướng đến gần mặt trời hoàng hôn và gửi thẳng đến nó. Làm như đôi mắt của ông khi thông qua qua màu đỏ rực rỡ của mặt biển, đã có thể bắt gặp hình ảnh của quê hương cũng như bao khuôn mặt của đồng bào. Ông cũng thấy được dáng dấp của mình, cái dáng dấp thời ông còn là một gã chăn cừu trẻ cũng như bao nhiều là dáng dấp của lũ bạn mục đồng. Vào những ngày hè nóng bức, bọn họ đã cởi bớt tấm áo bằng vải thô và đánh trần, phô làn da trắng toát và bày ra những cái núm vú đỏ màu hoa hồng trên ngực. Từ chỗ ấy, họ sẽ nhìn thấy từ phía chân trời khuôn mặt của các chiến sĩ Thập Tự Quân, những người đã chết hoặc bị tàn sát giữa độ tuổi xuân, từ từ nhô lên khỏi mặt biển tắm trong ánh đỏ của mặt trời hoàng hôn. Tuy các chiến binh đó không đội mũ trụ nhưng khi màu của mái tóc hoàng kim hay vàng như tơ của họ ánh lên trong sắc đỏ của ráng chiều thì họ như đang đội trên đầu một chiếc mũ trụ bằng lửa.

Những đứa trẻ được Thần Chết tha mạng như Anri sau đó đã phiêu bạt khắp bốn phương trời. Thế nhưng trong kiếp nô lệ dài đăng đẳng của mình, Anri không hề gặp lại một ai trong bọn họ. Ông cũng không bao giờ có cơ hội đặt chân lên thành phố Jerusalem, chốn ông hằng mơ ước.

Sau khi bị bán làm nô lệ cho một thương gia Ba Tư, ông lại bị bán thêm lần nữa và kỳ này, người ta đã đưa ông tới Ấn Độ. Nơi đây, ông có nghe đồn về kế hoạch Tây chinh của Bạt Đô (Batu), một hậu duệ của Thiết Mộc Chân (Gengis Khan). Ông đã khóc và lo lắng biết bao khi nghĩ tới những hiểm nguy mà quê hương ông sẽ có thể gặp phải.

Cũng vào thời gian ấy, ông nghe có một nhà tu tên Đại Giác thiền sư đang đến Ấn Độ để học Phật. Do nhiều sự ngẫu nhiên đầy tính cách thần bí, nhờ sức của ngài mà Anri đã tìm thấy tự do, Với lòng biết ơn sâu sắc, ông nguyện sẽ một đời đi theo vị đại sư kia và nhất định sẽ xin tháp tùng thầy về nước. Thế rồi sau đó, ông lại nghe tin vị đại sư được mời sang Nhật Bản. Nhờ cơ hội này, ông lại may mắn được thầy cho đồng hành và đặt chân lên đảo quốc.

Giờ đây, tâm hồn Anri đã hoàn toàn thanh thản. Ông đã vứt bỏ cái ước vọng hư huyễn là trở về cố quốc. Ông đã giác ngộ chuyện mình sẽ vĩnh viễn vùi mớ xương tàn trên đất Nhật. Sau khi nghe kỹ những lời đại sư dặn bảo, ông không còn nuôi những mộng ước hão huyền như tìm về cõi Cực Lạc hay đi đến một xứ sở ông chưa hề đặt chân tới. Dù nói thế nhưng mỗi khi hoàng hôn mùa hạ nhuộm bầu trời đó ối bằng những vạt ráng chiều và mặt biển trải ra như tấm lụa hồng thắm đến tận chân trời, dù muốn hay không, đôi chân đã tự động đưa Anri về phía đỉnh núi Shôjôgatake.

Ông đã ngắm những vạt ráng chiều in trên bầu trời. Ông đã ngắm những tia nắng phản chiếu lên từ mặt biển. Ông không khỏi nhớ lại những hiện tượng kỳ lạ đã tìm đến với mình một lần duy nhất lúc mới chập chững bước vào đời. Cái sức mạnh lạ lùng của sự ngưỡng mộ trước những phép lạ và những điều chưa biết đã thôi thúc ông và các bạn ra đến cảng Marseille. Ngay đến bây giờ ông vẫn cho rằng đó là một động cơ kỳ lạ, vượt lên mọi hiểu biết thông thường. Rồi hình ảnh cuối cùng hiện ra trước mắt ông là cảnh ông và đám trẻ con tụ tập bên nhau trên cầu tàu Marseille để cùng khấn nguyện. Thế nhưng hôm đó, mãi đến phút cuối ngày, mặt nước biển trước mắt không hề rẽ ra làm đôi mà chỉ có những đợt sóng lặng lẽ dạt vào bờ không biết chán.

Anri không nhớ lúc nào mình đã đánh mất tín ngưỡng của buổi đầu. Cái còn hiện ra rõ ràng nhất trong tâm trí ông là cảnh mặt biển tắm trong ánh hoàng hôn kia không chịu rẽ đôi dù ông và các bạn đã dốc lòng cầu nguyện. Rõ ràng đây là một sự thực không thể giải thích chứ không phải huyễn ảnh xảy ra trước mắt một con người từng tin tưởng vào phép lạ. Cậu thiếu niên xưa kia đã tiếp nhận cái ảnh ảo của Chúa Ki-Tô mà không cần đặt câu hỏi bây giờ cũng không sao giải thích vì cớ gì mặt biển đỏ cháy trong ánh hoàng hôn mà cậu đang đứng trước mặt, lại không chịu tách làm đôi.

Anri đưa mắt nhìn qua vùng biển có mũi đất Inamura-ga-saki nằm ở phía xa. Sau khi đã đánh mất tín ngưỡng của mình, giờ đây Anri không còn tin vào những chuyện như mặt biển tách làm hai nữa[2]. Thế nhưng ý tưởng thần bí đó thì đến bây giờ ông vẫn chưa tìm ra lời giải đáp cũng như khi nói đến kinh nghiệm thất bại (khi thấy sóng không tách làm đôi) mà ông không chịu chấp nhận khi phải trực diện với nó. Cả hai dường như đều bị chôn vùi vào trong cái màu đỏ rực của mặt biển trầm ngâm và khép kín.

Nếu Anri có một cơ hội nhìn thấy mặt biển tách đôi trong cuộc đời mình, có lẽ là giây phút ấy mà thôi.Thế nhưng dù chỉ là một giây một phút, mặt biển hoàng hôn vẫn rực cháy nhưng không chịu tách ra cho ông và đó là điều Anri không sao chấp nhận!

Ông lão tạp dịch nhà chùa chỉ biết đứng lặng một chỗ vì ông không còn biết nói gì nữa. Ánh đỏ của ráng chiều phản chiếu lên mái tóc bạc trắng đang rối như tơ của ông và in vào trong đôi mắt trong xanh kia một chấm đỏ như son.

Thế rồi cái mặt trời cuối hè ấy bắt đầu chìm xuống ở khoảng mũi đất Inamura-ga-saki. Luồng thủy triều lướt trên mặt trông cứ như là máu.

Anri nhớ lại những hình ảnh thời xa xưa. Phong cảnh quê hương và khuôn mặt những người quen biết. Thế nhưng bây giờ ông không muốn trở lại chốn đó. Không hiểu vì sao mà cả núi đồi Cévennes lẫn những con cừu cũng như biết bao hình ảnh khác của cố quốc làm như đều biến mất. Thảy thảy đều không còn dấu vết kể từ khi mặt biển khép kín, không chịu tách ra cho ông.

Anri nhận ra rằng phong cảnh buổi hoàng hôn trước mặt ông dần dần đổi màu. Ông chăm chú nhìn vào nó như nhìn đống lửa đã cháy đến cùng kiệt và đang biến thành tro than.

Cây cối ở trên đỉnh Shôjô-ga-take rồi cũng bị bóng đêm dần dần bao phủ. Nhưng chính lúc ấy, những đường gân lá và các đốt cây hiện ra rạch ròi nhất. Ngọn tháp các phân viện ở lưng chừng núi hầu như đã chìm cả vào đêm đen.

Bóng tối cũng len lén dâng lên từ phía chân của Anri rồi chẳng bao lâu, bầu trời trên đầu ông cũng tắt đi ánh sáng, Một màu lông chuột đã thay thế cho màu vàng cam. Duy có mặt biển đằng xa hãy còn le lói vài tia nắng sót với hai màu vàng và đỏ nhưng cũng đã chóng bị bóng đêm thu lại thành một vệt sáng mong manh.

Trong khi đứng ngẩn người ra đó, Anri đã nghe từ phía dưới chân mình hồi chuông thu không từ lầu chuông nằm ở lưng chừng núi vọng lên.Tiếng chuông nhẹ nhàng ngân nga, tưởng chừng nó đã dâng lên một lượt với bóng tối từ bên dưới chân núi và sau đó lan tỏa ra bốn phía trong không gian.

Tiếng chuông trang nghiêm đó không phải để báo ngày giờ nhưng như để đang làn tan chảy dòng thời gian và đưa nó về một vùng trời cửu viễn.

Anri nhắm mắt lại nghe tiếng chuông rơi. Đến khi mở mắt ra thì toàn thân ông đã bị bóng tối che phủ. Trên mặt biển ngoài xa chỉ còn mỗi một vệt xám sáng lên mơ hồ. Hoàng hôn đã hoàn toàn lịm tắt.

Để về chùa cho kịp, Anri quay sang bên cạnh định thúc giục cậu bé. Thế nhưng ông lại thấy cậu đang ngồi đó, hai tay bó gối, còn đầu gục lên đùi. Thì ra cậu đã ngủ không biết tự lúc nào.

Tháng 1 năm Shôwa 30 (1955)

 

Dịch ngày 11 tháng 4 năm 2025  

 

Thư mục tham khảo

1-Mishima Yukio, Umi to yuyake, in trong Tuyển tập Hana no kazari (Khu rừng kết hoa), từ trang 109, Kodansha xuất bản, Nguyên tác Nhật ngữ. 

2-Mishima Yukio, Umi to yuyake, Brigitte và Yvess-Marie Allioux dịch sang tiếng Pháp thành "La mer et le couchant" trong "Tuyển tập Pèlerinage aux Trois Montagnes (Hành hương vùng Tam Sơn) do Gallimarrd xuất bản trong khuôn khổ Collection Folio, Paris, 1997. Bản ngoại văn tham chiếu.

 

Bên lề tác phẩm: 

Cấu tứ rất lạ của Mishima về một gã chăn cừu vùng Cévennes nước Pháp đã theo gót Thiền sư Lan Khê Đạo Long đặt chân lên đất Nhật vào niên hiệu Bun'ei thứ 9 (1272) giữa thời Kamakura. Nó có thể làm ta liên tưởng đến trường hợp nhà sư Lâm Ấp tên là Phật Triết (Buttetsu) đã cùng sư phụ là Bồ Đề Tiên Na (Boshisena) đến Nhật vào thế kỷ thứ 8 và để lại ảnh hưởng của âm nhạc phương Nam trên Nhã nhạc (Gagaku) của Nhật Bản.

Thử hỏi điều Mishima muốn nói ở đây là gì? Có phải ông muốn khẳng định tính ưu việt của những giá trị Đông Phương như Thiền Tông khi đem so nó với những gì thuc thế giới Tây phương. Mười năm sau ngày bại trận (1945-55), là một người ái quốc kiểu thần bí và cao ngạo, phải chăng ông muốn mượn câu chuyện này để thắp lại niềm hy vọng và lòng tự hào của dân tộc xứ sở "mặt trời mọc" so với các xứ sở phía "mặt trời lặn" hay không? 


 

[1]Lan Khê Đạo Long (Lanxi Daolong, 1213-1278), cao tăng nhà Tống, người đã đến Nhật theo lời mời của Mạc Phủ Kamakura.Ông là người đã khai sơn Kiến Trường Tự, một trong những ngôi chùa Thiền đầu tiên ở Nhật.

[2]Ngụ ý việc mặt Biển Đỏ đã tách ra làm đôi cho dân Do Thái thoát khỏi Ai Cập vào thời cấc Pharaon.

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com