BÊN KIA BỜ ÂN OÁN

(Onshyu no kanata ni, 1919)

 Nguyên tác: Kikuchi Kan

 

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

 

A famous place which appears in a novel..., "Onshu No Kanata Ni ...

Đường hầm xuyên vách đá ở Yabakei (Kyushyu), đầu mối của câu chuyện

 

Một

Khi thanh trường kiếm của chủ nhân chém tới, Ichikurô dợm né nhưng đã không kịp, đành  lãnh một vết thương nhẹ kéo từ má xuống cằm do sức mạnh của đường kiếm ác liệt. Anh ý thức rằng mình đang mang trọng tội vì đã dám khiêu khích chủ nhân bằng cách tằng tịu với người ái thiếp của ông khiến ông nổi giận. Vì vậy, trước những đường gươm ấy, tuy cố gắng tìm cách thoát hiểm nhưng trong lòng, Ichikurô vẫn nghĩ rằng dù mình phải nhận lấy hình phạt ấy cũng chẳng oan ức gì.  Có điều là trong trạng thái đầu óc rối beng, phản ứng của anh là tìm đủ mọi cách để giữ lấy tính mạng. Do đó, khi chủ nhân mắng át anh là kẻ bất nghĩa và giáng lưỡi kiếm xuống, tình cờ anh liếc thấy có cái giá nến đặt bên cạnh nên đã tức tốc chụp lấy nó làm vật hộ thân. Chủ nhân tuổi đã gần năm mươi nhưng gân cốt hãy còn tráng kiện khiến đường kiếm của ông chém tới dồn dập. Khổ nỗi, Ichikurô không dám phản kích mà cứ phải chịu đòn, rồi đến một lần, khi né tránh không kịp, anh đã để cho lưỡi kiếm ấy phớt nhẹ vào má trái và đi lướt xuống cằm. Thế nhưng, khi thấy máu ứa ra, Ichikurô bất ngờ thay đổi thái độ. Cái tâm biết phân biệt của anh bỗng hoảng loạn như khi con bò mộng trong đấu trường bị ngọn giáo của người kỵ sĩ đâm phải. Anh nghĩ bề gì mình cũng chết và ở thế giới bên kia, làm gì còn cặp mắt xoi mói của người đời và cái tình chủ tớ. Người đàn ông cho đến mới đây là ông chủ của mình nay chỉ còn là một con thú, lại là một con thú hung hãn đang muốn ra tay đoạt lấy mạng sống của mình. Nghĩ thế, Ichikurô cảm thấy tức tối, liền chuyển qua thế công. Vừa hét lên “Xem này!”, anh ta đã nhắm ngay khuôn mặt chủ nhân  ném cái giá nến đang cầm trên tay. Cho đến lúc đó, Saburôbê, ông chủ của Ichikurô, vì thấy đối thủ không dám làm gì hơn là chống đỡ nên được thể tấn công tùy thích, nay bất ngờ bị chiếc giá nến ném tới, ông đã không tránh kịp bèn bị một góc giá ấy đập mạnh vào mắt phải gây thương tích. Lợi dụng khoảnh khắc đối phương hơi thối lùi, Ichikurô đã rút lưỡi đoản kiếm đeo bên sườn (wakizashi) và bay đến sát bên  ông nhanh như ánh chớp.

Saburôbê quát:

-Bộ mi dám chống cự ta sao?

Thế nhưng Ichikurô không thèm đáp lại mà càng tiến sát và đưa đoản kiếm tùy thân của mình chạm vào thanh trường kiếm dài khoảng 3 shaku ( 3 x 0,33) của chủ nhân độ hai ba lần. 

Trong khi chủ tớ đang đánh nhau một mất một còn, mũi kiếm dài của ông chủ đã vài lần vướng phải cái trần nhà thấp làm ông ta  xoay trở khó khăn. Ichikurô bèn thừa dịp đó lại xông vào. Chủ nhân nhận ra tình thế đang bất lợi cho mình, muốn phóng ra ngoài sân để dễ đỡ vướng víu nên mới thụt lùi hai ba bước về phía hàng hiên. Thấy Ichikurô tìm cách nhập nội, ông giận dữ hét lên “Coi đây!” và vung kiếm chém xuống. Thế nhưng có lẽ vì cơn giận khiến ông trở nên hấp tấp, lưỡi kiếm bất ngờ chém ngập độ hai ba phân vào thanh kèo (kamoi) của cánh cửa kéo (shôshi) ngăn đôi hành lang và phòng khách.

-Ấy chết!

Saburôbê hoảng hốt kêu lên và trong khi ông ta cố sức gỡ lưỡi kiếm ra thì Ichikurô đã nhảy lại gần bên và dễ dàng xoẹt thanh đoản kiếm cắt ngang sườn và bụng của chủ nhân . 

Lúc địch thủ ngã lăn ra, Ichikurô mới hoàn hồn. Nãy giờ vì hăng tiết, anh đã ở trong một trạng thái ý thức mông lung. Nay mọi sự đã ngã ngũ, anh mới nhận ra mình vừa làm một việc tày trời là tớ sát hại chủ. Hối hận lẫn khiếp sợ đã làm cho người anh kiệt quệ nên quị xuống tại chỗ.

Lúc đó, trời tối hẳn vì đã qua canh một (7 đến 9 giờ tối). Ngôi nhà chính này vốn cách xa chỗ bọn đàn ông giúp việc trong dinh đang cư trú. Về cuộc thanh toán kinh hoàng giữa hai bên chủ tớ thì ngoài cặp mắt của một số thị tỳ sống trong ngôi nhà chính, vẫn chưa có ai hay biết. Cảnh quyết đấu ác liệt vừa rồi đã khiến mấy cô thị tỳ sợ đến vỡ mật, họ chỉ biết tụ tập với nhau  ở gian buồng trong và run lên như cầy sấy.

Sự hối hận tràn ngập lòng Ichikurô. Tuy là một vũ sĩ trẻ tính tình phóng đãng và sống không  khuôn phép nhưng anh chưa hề nhúng tay vào một hành động nào để có thể  mang tiếng là gian ác. Vả lại, giết chủ là một đại tội đứng đầu “bát nghịch” (tám tội trọng) mà anh chưa bao giờ nghĩ  là có lúc mình sẽ vướng vào. Anh bèn lau chùi vết máu trên thanh đoản kiếm và tra nó vào vỏ. Đã mắc tội thông dâm với ái thiếp của chủ nhân thì khi bị đem ra xét xử, nếu còn tính thêm cái tội giết chủ nữa, thì dù anh biện bạch thế nào, hỏi có ai nghe! Liếc nhìn cái thây của chủ nhân còn đang nóng hổi, anh định bụng là sẽ tự sát theo ông. Vừa lúc ấy, từ gian bên cạnh lại vọng ra tiếng kêu của ai đó như người tự nãy giờ đã chịu một sự căng thẳng quá sức mình.

-Ôi chao!  Em đang lo không biết làm sao. Cứ tưởng lão ấy sau khi chặt anh đứt làm hai  sẽ quay sang xử em luôn. Hồi nãy, núp sau bình phong nhìn cơ sự xảy ra, suýt nữa em đã đứng tim. May quá, anh đã xử lý thật là gọn ghẽ. Đến cơ sự này rồi, không thể nào chần chờ thêm một giây. Thôi, chúng mình hãy vơ vét hết tiền bạc mà chuồn cho nhanh đi, anh ơi! Hình như mấy anh em ở nhà dưới chưa có ai hay biết đâu. Làm gì là phải làm ngay! Hiện giờ bà nhũ mẫu và mấy đứa thị tỳ đang ngồi run bần bật ở góc bếp kia kìa, để em đến răn đe họ đừng lộn xộn mà gây ra náo loạn. Nào, anh hãy đi rà soát và vét hộ mớ tiền mặt cho em.

Cái tiếng nói đó thật ra thì cũng đang run rẩy nhưng nó là cái run rẩy đã bị ý chí cương quyết của người phụ nữ ghìm chặt lại. Cô ta đang cố gắng giữ cho được sự bình tĩnh.

Ichikurô lúc đó đã hoàn toàn đánh mất động cơ đặc biệt của việc mình làm, đến khi nghe tiếng người đàn bà gọi, anh mới thấy như sống lại.Anh bèn đứng lên nhưng động tác của anh  không còn tùy thuộc vào ý chí của mình mà chỉ làm theo người đàn bà như một con rối. Anh bèn cho tay sờ vào cái tủ chè làm bằng gỗ ngô đồng đang đặt giữa phòng khách. Rồi với những ngón tay bê bết máu làm lem luốc cả những vân gỗ trắng toát của cái tủ, anh bắt đầu lục lọi mấy ngăn kéo. Thế nhưng, mãi đến khi O-Yumi,  ái thiếp của chủ nhân cũng là tình nhân của anh, quay trở lại, Ichikurô chỉ tìm được mỗi một phong giấy bọc những đồng bạc vụn hai phân (nishuugin =nhị chu ngân) tất cả trị giá cỡ năm lạng. Từ nhà bếp đi lên, khi nhìn thấy vỏn vẹn bao nhiêu đó, O-Yumi đã phản ứng gay gắt:

-Có mấy đồng tiền lẻ thì nên cơm cháo gì!

Vừa nói như thế, cô ta vừa đến kéo mấy  cái ngăn kéo ấy ra và xoay ngang xoay dọc để tự mình kiểm chứng một cách tuyệt vọng. Cuối cùng, cô còn lục cả cái hòm đựng áo giáp (yoroibitsu) nhưng vẫn không kiếm thêm được gì dẫu chỉ là đồng tiền dẹp giá một lạng vàng (koban).

-Lão ta nổi tiếng keo kiệt nên chắc đã bỏ hết vào hũ, vào thạp và đem chôn dưới đất ở đâu đó rồi.

Sau khi đã tỏ ra hằn học như vậy, cô ta bèn đi kiếm xem có mớ quần áo nào đổi được ra tiền hay vật có giá như hộp con đựng thuốc viên (inrô) hay không ...rồi nhanh như cắt, dồn tất cả vào vuông tay nải. 

Như thế, thời điểm cặp gian phu dâm phụ bước ra khỏi ngôi dinh thự trong xóm Tawara thuộc khu Asakusa  của Nakagawa Saburôbê, một viên chức trực hệ thuộc giai cấp Hatamoto dưới trướng Shôgun, là đầu mùa thu năm An Vĩnh thứ ba (An’ei 3 1774).[1] Họ đã bỏ lại đằng sau cậu bé Jitsunosuke, trưởng tử của chủ nhân, lúc bấy giờ chỉ mới lên ba, đang ngủ say trong vòng tay của nhũ mẫu và không hề biết đến cái chết thảm khốc vừa xảy đến cho cha mình. 

Hai

Về phần Ichikurô và O-Yumi thì kể từ khi đi thật nhanh để trốn khỏi Edo, đã cố tình tránh con đường Đông Hải Đạo (Tôkaidô) ven biển, vừa kiếm cách thoát khỏi sự dòm ngó của mọi người rồi nhắm vùng cao của tuyến Đông Sơn Đạo (Tôzantô). Trên đường, lương tâm Ichikurô không nguôi  dằn vặt vì cái tội đang tâm giết hại chủ nhân. Trong khi đó, O-Yumi xuất thân là người giúp việc của một ngôi nhà chứa dưới dạng quán nước trà treo biển có đấm bóp (kempei chaya) thì đã quen đi lại với bọn bất lương nên khi thấy gương mặt có hơi u ám của Ichikurô đã khuyên lơn:

-Bề gì phận chúng mình là những kẻ đã phạm tội,  chỉ còn chờ họ gửi trát bắt. Thất tha thất thểu như anh có được gì nào. Cố gắng hăng hái mà vui sống  như mọi người mới là cách xử sự đúng đắn chứ.

Khổ nỗi, mỗi sáng mỗi chiều,  trong lòng Ichikurô, sự hối hận về điều ác  mình đã gây ra ngày một tăng thêm.

Khi đi từ Shinshuu (Nagano) gần đến khu nhà trạm Yabuhara (Cánh đồng bờ bụi)  của vùng Kiso, thì tiền ăn dọc đường của hai người hầu như sạch nhẵn.  Lâm vào cảnh túng quẫn, họ bèn rắp tâm làm chuyện gian ác. Ban đầu thì cặp bài trùng nam nữ này đã lựa ngón nghề dễ  nhất là đứa gái ra làm hàng mồi chài khách đi đường và sau đó sẽ bắt chẹt họ (bijinkyoku). Thế rồi, trên suốt quãng đường từ Shinshuu (Nagano) sang đến Ishuu (phía Tây Aichi), hai người đã nhiều lần trấn lột khách bộ hành, từ lái buôn đến nhà nông.

Ban đầu, Ichikurô chỉ toa rập, làm theo sự chỉ đạo của người đàn bà, nhưng  về sau, bản thân  anh ta cũng cảm thấy hứng thú và đã chủ động nhúng tay vào tội ác. Trước tưởng mạo lãng tử nghênh ngang như vũ sĩ vô chủ (rônin) của Ichikurô, các nạn nhân của họ dù là người kẻ chợ hay dân quê đều riu ríu vâng lời. Dù bị cướp đoạt tài sản nhưng không một người nào dám chống đối họ.

Dần dần, Ichikurô ngày càng lậm sâu vào con đường tội lỗi. Anh ta không thèm dựa vào cách làm ăn dễ dãi nhất là đem O-Yumi ra mồi chài hay giở trò trấn lột bằng cách hăm he. Vì sau đó,  anh ta đã quen mui với cách thức làm ăn tàn bạo nhất nghĩa là giết người cướp của và xem cường đạo mới là cái nghề thích hợp với mình.

Chẳng bao lâu,hai người đã đến định cư ở ngọn đèo Torii (Cổng Chào) vốn nằm ở giữa đoạn đường từ vùng Shinano sang vùng Kiso. Ở đó, ban ngày họ mở một quán bán nước chè, ban đêm lại đi cướp bóc.

Họ đã quen hẳn với nếp sống như thế, không chút lo âu và cũng chẳng bao giờ do dự mỗi khi cử sự. Họ nhắm vào những khách đi đường có máu mặt, giết xong còn khéo léo phi tang thi thể. Họ chỉ cần phạm tội độ ba bốn lần như vậy trong năm là đã đủ tiền của để sống phong lưu cả một năm trời.

Câu chuyện dưới đây xảy ra vào khoảng mùa xuân ba năm sau ngày họ trốn khỏi Edo. Nhờ mới đón tiếp hai đoàn sứ thần của các lãnh địa miền Bắc (ý nói vùng Hokuriku) trẩy xuống Edo đi ngang qua đó, hàng quán trong khu nhà trạm con đường Kiso lúc này làm ăn có vẻ khấm khá. Đặc biệt hơn nữa là lúc đó lại có phong trào hành hương Đền Ise (Ise Jinguu, Y Thế Thần Cung) của dân chúng nhiều vùng miền, trước tiên là từ Shinshuu (Nagano), sau đến Echigo (Niigata)  và Etchuu (Toyama) cho nên suốt con đường cái quan này, lúc nào cũng đầy khách hành hương dập dìu. Trong số đó, đám  khách du sơn muốn lợi dụng cơ hội để đi chơi tiếp tận Kyôto hay Ôsaka cũng không phải là ít. Ichikurô định bụng sẽ ra tay hạ thủ vài ba người trong đám để có đủ sinh hoạt phí cho cả năm. Đúng vào một hôm, trên con đường Kiso này, giữa những lùm cây tuyết tùng (sugi) hay cây bách (hinoki) đang giao đầu vào nhau, đã thấy những cội anh đào dại (yamazakura) mãn khai bắt đầu rụng hoa lả tả trong bóng chiều. Chợt có một đôi nam nữ trên đường du lịch  tần ngần ngừng lại trước ngôi quán của Ichikurô. Nhìn thì biết ngay họ là một cặp vợ chồng. Người đàn ông mới ngoài ba mươi còn người đàn bà độ hăm ba, hăm bốn. Hai người trông giống như một đôi vợ chồng trẻ xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả (hào nông) vùng Shinshuu và đang làm một chuyến du lịch thoải mái.

Nhìn bề ngoài của cặp vợ chồng, Ichikurô đã quyết định hai người sẽ là nạn nhân đầu tiên của anh ta năm nay.

Người đàn ông vừa thắt lại quai dép đi đường ngay trước quán nước chè, vừa cất tiếng hỏi Ichikurô:

-Từ đây đến trạm xá Yabuhara chắc không còn bao xa, ông chủ nhỉ?

Trước khi Ichikurô tìm ra câu trả lời thì từ phía nhà bếp, O-Yumi đã bước ra, đon đả:

-Đúng như ông khách đã dạy. Đổ xuống ngọn đèo này đã được nửa đường rồi đấy ạ! Vậy ông bà cứ nghỉ chân một chút rồi thủng thỉnh đi tiếp cũng kịp chán.

Mới nghe qua câu nói, Ichikurô đã hiểu ngay rằng O-Yumi vừa lên một kế hoạch đáng sợ và đang khuyến khích mình làm. Từ đây cho đến khu nhà trạm Yabuhara còn những hơn  hai dặm (2 ri =3,9 km x 2). Nếu cô bảo gần lắm chẳng qua là muốn cho hai người khách bộ hành chủ quan và lơ là. Phần anh sẽ chạy bọc theo bằng một con đường tắt và lợi dụng trời tối để tập kích khi hai kẻ xấu số chưa kịp tới cái ngõ đi vào khu nhà trạm. Đó là bài bản mà bọn Ichikurô đã thực hiện nhiều lần 

Sau khi nghe O-Yumi nói, người đàn ông kia bèn đáp:

 Thế thì xin ông bà cho chúng tôi hớp trà vậy.

Trả lời như thế chẳng khác nào lọt tỏm vào trong cái bẫy đầu tiên mà hai kẻ bất lương vừa giăng ra.

Người đàn bà bèn tháo cái quai màu đỏ của chiếc nón lá gồi (sugegasa) đội lúc đi đường, gỡ nón ra, nép cạnh chồng mình rồi cùng ngồi xuống..Sau khi nghỉ chân ở đó độ phân nửa khắc (40 phút) để vơi đi cái mệt nhọc lúc lên đèo, họ đã để lại một đồng tiền điếu (chômoku) rồi hướng về thung lũng Okiso, xuống ngọn đèo Torii, tiếp tục đoạn  đường trong ánh chiều chập choạng. 

Khi bóng của hai người khách vừa khuất, O-Yumi đã ra hiệu ngay cho Ichikurô là đã đến lúc phải hành động. Như một gã thợ săn lão luyện, sau khi giắt sẵn thanh đoản kiếm bên lưng, Ichikurô đã tất tả chạy theo để khỏi vuột  con mồi. Đến một chỗ trên con đường lớn, anh nhanh chân đổi qua con đường tắt gập ghềnh nằm dọc triền sông Kisogawa.

Khi Ichikurô tới được một con đường hai bên trồng tùng nằm trước lối vào khu nhà trạm Yabuhara thì ngày xuân dài đà tắt nắng, chỉ có vầng trăng mồng mười đang chực vươn lên đằng sau mấy rặng núi của vùng Kiso. Trong vùng ánh sáng bàng bạc của vầng trăng, những ngọn núi ấy như đang lững lờ trôi.

Ichikurô bèn nấp dưới một chòm liễu lá tròn (maruha-yanagi) mọc ven bờ đường, bình tĩnh chờ cặp vợ chồng khách bộ hành xuất hiện. Thật ra trong lòng mình, không phải là  Ichikurô không ý thức việc cướp đi mạng sống của hai con người đang thưởng thức  một chuyến du lịch hạnh phúc ấy là một hành động vô cùng độc ác. Thế nhưng nếu bỏ dở điều mình đã cam kết, thì khi trở về, anh biết giải thích thế nào cho O-Yumi đây?

Anh không muốn tay mình vấy máu cặp vợ chồng này. Anh chỉ mong là không cần bị đe dọa, họ cũng hiểu được tình thế và tỏ ý phục tùng.Nếu họ chịu bỏ lại tiền bạc, tư trang và quần áo, có thể mình thấy không cần phải kết liễu tính mạng của họ.

Khi vừa đi đến quyết định đó thì trên con đường cái, từ phía xa đã thấy bóng hai người khách nam nữ tiến về phía anh với những bước chân vội vã. Vì con đường xuống đèo còn xa hơn điều họ dự tưởng nên coi bộ hai người giờ đã mệt nhoài, đến độ phải dắt díu nhau đi. Họ không nói câu nào mà chỉ lầm lũi bước về phía trước.

Khi họ vừa đến được bụi liễu lá tròn và rậm rạp nơi anh đang nấp, Ichikurô đã xuất kỳ bất ý nhảy xổ ra đứng chắn giữa đường. Rồi với bài bản mà anh đã thuộc làu, Ichikurô bắt đầu tuôn ra những lời lẽ đanh thép để hăm dọa họ. Trước tình thế đó, hình như người đàn ông đã định liều mạng, mới rút cái đoản đao tùy thân lúc đi đường (dôchuuzashi), kéo vợ mình ra núp sau lưng như thể muốn che chở cô, rồi đứng thủ thế. Trong một giây, Ichikurô cảm thấy kế hoạch của mình như vừa  bị phá hỏng nhưng anh vẫn lên tiếng khuyên bảo: “Này, khách đi đường! Mi có chống cự cũng vô ích thôi! Muốn ta tha chết cho thì khôn hồn để lại tiền bạc và áo xống ở đây rồi cút cho nhanh! ” Trong khi anh đang hô lên như thế, người đàn ông đã chăm chú nhìn vào mặt anh:

-Ơ hơ! Không phải ngươi là tên chủ quán trên đỉnh đèo hồi nãy đấy sao?

Vừa dứt lời, người đàn ông đã nhảy xổ về phía anh, liều chết tấn công. Ichikurô nghĩ mình không còn cách khác. Một khi đã lộ diện, để bảo vệ sự an nguy của mình,  anh không thể nào cho phép cặp đôi này thoát thân.

Khi đối phương vừa lao vào chém, Ichikukurô đã khéo léo né qua và thuận tay lia một nhát ngang cần cổ người đàn ông. Thấy cảnh tượng đó, người đàn bà đi theo hầu như choáng váng, đến độ thân thể run lên bần bật rồi  ngã quị  bên vệ đường,

Ichikurô không nỡ giết người đàn bà nhưng anh biết  điều đó sẽ đưa anh vào thế kẹt. Anh bèn thừa lúc cái sát khi hãy còn chưa lắng xuống sau hành động giết hại người đàn ông, hầm hầm vung lưỡi dao hãy còn vấy máu, tiến đến bên thiếu phụ. Nàng ta chắp hai tay vái như tế sao, luôn miệng xin Ichikurô tha mạng. Khi tia nhìn của anh chạm phải đôi mắt ấy, Ichikurô không đành lòng xuống tay nhưng anh  lại nghĩ, mình bắt buộc mất thôi. Vì lòng tham đã khiến anh cho  rằng nếu chém, mình sẽ làm hỏng mất bộ quần áo đẹp nàng ta đang mặc, nên mới rút vuông khăn (tenugui) vẫn giắt bên lưng để thắt cổ người đàn bà. 

Sau khi Ichikurô hạ sát cả hai, sự kinh khiếp của hành động giết người đã  kéo ùa tới khiến anh cảm thấy mình không thể nán lại hiện trường thêm một giây nào nữa. Anh bèn thu thập hai cái ruột tượng (haramaki) và mớ quần áo đã đoạt được rồi chạy như bay biến ra khỏi nơi đó. Cho đến hôm nay, số người anh ta sát hại đã lên đến hơn chục, từ những ông già tóc đã hoa râm  cho đến mấy gã lái buôn, toàn là hạng người đứng tuổi, chứ anh chưa hề nhúng tay vào  máu những kẻ còn trẻ trung, đầy sinh lực như cặp vợ chồng này.

Trong khi  lương tâm tiếp tục bị dằn vặt vì những điều như thế thì bước chân anh đã về tới cửa nhà. Vào đến bên trong, anh lập tức ném hai bọc tiền và mớ áo xống của cặp vợ chồng trẻ về phía O-Yumi như muốn tống khứ một cái gì xấu xa bẩn thỉu. Người đàn bà vẫn giữ thái độ điềm nhiên, trước tiên cô ả phải kiểm kê số tiền cái đã. Coi bộ nó ít hơn là điều cô mong đợi vì chỉ có hơn hai mươi lạng một chút.

Khi rà soát đến mớ quần áo phụ nữ, O-Yumi liền cật vấn anh:

-Đây là cái quần lót (juuban) bằng kép trong bộ kimono lụa kiểu Kihachijô[2] đấy mà! Chứ còn mấy “món trên đầu” con nhỏ kia thì anh để đâu?

-“Món trên đầu” nào?

Ichikurô trả lời một cách vô tâm nhưng O-Yumi đã chồm về phía trước và lên tiếng:

-Thôi đúng rồi! Có mấy “món trên đầu” ấy thật! Lúc nào chúng cũng là vật đi đôi với loại áo kép Kihachijô mà. Mấy cái lược và trâm bằng đồ giả đó!. Hồi nãy, em đã thoáng liếc thấy nguyên cả một bộ giống như đồi mồi khi cô ả tháo cái nón lá gồi (sugegasa) xuống. Em không thể nào  lầm được.

Thật ra, khi giết người đàn bà, Ichikurô nào để mắt tới mấy món trang sức trên đầu của cô ấy đâu, nên bây giờ, anh cũng không biết mình phải đối đáp làm sao.

-Này! Chả lẽ anh lại quên đem nó về cho tôi à? Nếu là đồi mồi thật thì cũng đến được bảy, tám lạng đấy nhé ! Anh đâu phải là hạng vừa cướp xong đã  bỏ chạy ngay. Nếu thế giết người làm gì cho phí công, phải không? Một con đàn bà ăn mặc diêm dúa như vậy mà khi giết xong, ai đời anh lại không thèm kiểm soát xem trên đầu tóc nó còn cỏ những món trang sức  gì? Làm như anh thì đến bao giờ mới trở thành dân chơi chuyên nghiệp cho được? Chưa thấy ai đi ăn cướp mà thất sách như anh! Nói câu gì để trả lời tôi đi chứ!

O-Yumi lên tiếng trách cứ mà như xấn xổ, muốn ăn tươi nuốt sống anh.

Lúc đó, lòng Ichikurô vẫn còn tràn đầy hối hận vì vừa giết oan hai mạng nam nữ vô tội cho nên lời lẽ xúc phạm của O-Yumi đã làm tổn thương anh rất sâu sắc. Tuy nhiên, anh không thấy mảy may hối tiếc về việc mình đã quên khuấy bộ trang sức trên mái tóc của cô gái, điều mà O-Yumi xem như một thất sách cơ bản của nghề trộm cướp hoặc là bằng chứng của sự thiếu năng lực.  Chính vì anh xem việc sát hại hai người khách bộ hành kia là tàn ác nên nó đã ám ảnh anh và khiến anh quên bẳng đi là cô gái có trên đầu một bộ đồ trang sức giá trị đến gần mười lạng. Ngay đến bây giờ, anh vẫn không thấy mình hối tiếc vì đã quên mất  mấy món trang sức đó. Xưa nay anh chưa hề xem việc sa vào vòng đạo tặc, vì tư lợi tư dục mà đoạt mạng người, moi xương hút tủy con mồi như ác quỷ là đáng ghê tởm. Thế nhưng  cái đang hiện ra ngay trước mắt anh đây là hình ảnh O-Yumi, một người mà trước kẻ cùng thân phận phụ nữ như mình nhưng lỡ gặp phải tai ách, thì mắt cô lại sáng rỡ lên khi  có được trong tay manh quần lót đàn bà mà cô ta xem như một vật tiến cống đến từ một kẻ vừa bị nhục hình. Càng nhìn cảnh đó, anh thấy O-Yumi là một con người độc ác với lòng tham lam không đáy. Ngay cái món trang sức trên đầu kia, một người tàn ác như Ichikurô còn quên mà cô ta vẫn nhớ. Nghĩ đến đó, Ichikurô cảm thấy mình đã hết chịu nổi cách sống và lối suy nghĩ tàn độc của O-Yumi.

Trong khi ấy,  O-Yumi lại không hề ngờ Ichikurô đang có những biến chuyển tâm lý đột ngột và to lớn như vậy.

-Này, anh! Thử chạy ra đó một lần nữa xem sao. Ai đời của đã vào mõm mình mà còn ỡm ờ không chịu lấy.

Cô ta nói với vẻ kênh kiệu như tin rằng điều mình vừa thốt ra mới đúng là đạo lý.

Tuy vậy, Ichikurô vẫn không hé môi, làm như anh chẳng buồn đáp lại.

-Kìa! Sao mà anh ỉu xìu như vậy? Có phải anh mang mặc  cảm là mình đã làm hỏng chuyện hay sao? Coi bộ anh không muốn đi kiếm nó về à? Gần mười lượng sắp sửa vào tay chứ có phải nhỏ nhoi đâu mà lười.

Không biết bao lần, O-Yumi đã giở giọng thúc bách Ichikurô..

Bình thường, hễ O-Yumi nói cái gì anh cũng ngoan ngoãn nghe theo. Thế nhưng bây giờ, lòng anh như đang có gì sôi sục và không sao kiềm chế được, nên anh đã định tâm là không để  cho lời nào của cô ả lọt vào tai mình.

O-Yumi bèn bảo:

-Tôi có nói bao nhiêu, anh cũng không chịu đi, phải không? Thôi được, tôi đi một mình vậy. Chỗ  anh vừa ăn hàng là khúc nào hở? Có phải vẫn là chỗ mình vẫn quen làm đó hay không?

Ichikurô bắt đầu cảm thấy anh không còn dằn nổi tình cảm khinh ghét đối với O-Yumi.Nếu O-Yumi muốn lánh xa anh, dù chỉ sớm hơn một khắc,  anh lại càng mừng.

-Thì ở đó chớ đâu. Vẫn là chỗ sắp sửa đến nhà trạm Yabuhara (Cánh đồng bờ bụi), ngay con đường có hàng cây tùng ấy mà.

-Thế thì để tôi chạy tới đó xem thử. May quá lại có trăng, bên ngoài cũng khá sáng. Nếu anh không sai sót thì tôi đâu phải cực nhọc thế này.

O-Yumi vừa nói, vừa lấy giây thắt hai ống tay áo cho thật gọn rồi xỏ chân vào đôi dép cỏ đi đường.

Ichikurô  không còn chịu nổi cách xử sự  ác độc của cô ả nữa. Chỉ vì lòng tham trước mấy món đồ  cài  đầu của nạn nhân  mà mắt cô đã đỏ chạch và vùng chạy đi để lấy về cho bằng được. Nhìn theo bóng người đàn bà, anh không thể nào nghĩ rằng mình từng có những tình cảm yêu đương đối với một kẻ tàn nhẫn từ trong bản chất như vậy. Hơn thế nữa, phần mình thì khi nhúng tay làm điều ác, dù là giết người hay cướp của, lúc nào cũng có một cái cớ để biện minh nên ít khi anh cảm thấy nó là tàn nhẫn. Nhưng giờ đây, trong tư thế một kẻ bàng quan, bình tĩnh nhìn người khác đang làm chuyện ác, anh  mới nhận thấy rõ rệt sự tàn nhẫn và thảm khốc đó, đến mức chán chường. Không dè người đàn bà mà mình từng đem tính mạng để tranh đoạt cho được lại vì một món trang sức bằng đồi mồi, giá vỏn vẹn từ năm đến mười lạng, mà  vứt bỏ tất cả cái nết na dịu dàng của phụ nữ, rồi đi tìm cho được thi thể của một nạn nhân đã chết để vồ lấy nó như con sói dữ. Chỉ nghĩ đến thế, Ichikurô không còn muốn nán lại bên cạnh người đàn bà trong ngồi nhà đầy tội ác này thêm một phút giây nào nữa. Ý nghĩ ấy vừa xuất hiện thì trong lòng của Ichikurô đồng thời cũng sống lại bao nhiêu hình ảnh của những tội lỗi anh đã phạm phải..Đó là đôi mắt của người thiếu phụ bị anh siết khổ, đó là hơi thở thều thào của ông lái buôn tằm mặt bê bết máu, đó là tiếng thét thảm thiết của lão già tóc bạc dưới đường đao xối xả của anh.  Chúng đã thay nhau xé nát trái tim và tấn công thẳng vào lương tâm. Anh chỉ muốn vứt bỏ cái quá khứ ấy càng nhanh càng tốt. Anh muốn chạy trốn khỏi chính mình. Chẳng những thế, anh còn muốn thoát cho bằng được người đàn bà đang ràng buộc mình và cũng là mầm mống bao nhiêu tội lỗi mình phạm phải. Anh vùng đứng dậy một cách dứt khoát, thồn hai ba bộ quần áo vào vuông tay nải, chụp lấy cái ruột tượng (haramaki) của người đàn ông anh vừa sát hại hồi nãy và cất vào ngực áo với ý định đem nó theo chi dụng dọc đường, rồi cứ ăn mặc như thế mà phóng ra ngoài. Thế nhưng vừa chạy ra khỏi nhà khoảng mươi “ken” (10 x 1, 818m), anh chợt nhận ra rằng mọi thứ tiền bạc, quần áo mình mang theo đây đều là đồ ăn cướp của người ta, bèn chạy bay trở lại và đặt tất cả tiền bạc, áo xống, ngay cả thanh đoản kiếm  lên ngạch cửa chính giữa nhà mình.

Để khỏi phải đối mặt với O-Yumi, anh vội vàng  chạy dọc  triền sông Kisogawa, trên một lối đi còn chưa thành đường. Anh không biết mình sẽ đi đâu nhưng bề gì cũng phải rời khỏi cái căn cứ của tội ác, cho dù chỉ  là một khoảng cách nhỏ nhoi. 

Ba

Ichikurô chạy một hơi suốt hai mươi dặm đường đất, bất kể núi rừng hay đồng cỏ. Chừng xế trưa ngày hôm sau, anh đã đến được khuôn viên chùa Tĩnh Nguyện Tự (Jôganji) ở thị trấn Ôgaki phiên Mino (Gifu) . Thực ra lúc đầu ngôi chùa này không phải là địa điểm anh nhắm sẵn. Chỉ vì trong lúc chạy loanh quanh, tình cờ bóng dáng ngôi chùa nói trên đã hiện ra trước mắt và hình ảnh ấy đã tác động lên cái tâm hoảng loạn đang tìm về sám hối của anh. Bất giác, anh nhận ra rằng  ngôi chùa này là  ánh sáng soi sáng tâm linh mà anh đang vô cùng cần đến.

Tĩnh Nguyện Tự là ngôi chùa cai quản tăng lục các chùa thuộc tông Nhất Viên Chân Ngôn (Ichien Shingon) vùng Mino (Gifu). Trong chùa, dưới sự chỉ đạo của Hiện Vãng Minh Biến Đại Đức (Myôhen, có nơi chép là đại hòa thượng Reishô hay Linh Chiếu), một vị chân tu đạo hạnh, Ichikurô lúc ấy đã có dịp sám hối một cách thành thực. Vì là một bậc đạo cao đức trọng nên ngài mới có thể qui phục một tội phạm cực ác như Ichikurô. Mấy lần anh bày tỏ ý nguyện gặp quan Hữu Ty (Yuushi) lo hình án để xin đầu thú nhưng ngài đã gạt phăng và còn dạy thêm rằng:

-Đối với một kẻ tội lỗi đã chồng chất hết lớp này đến lớp khác như ngươi thì quan Hữu Ty tất sẽ đem ra pháp trường xử trãm rồi đem bêu đầu cho thiên hạ  làm gương. Theo luật pháp, khi chịu án tử như thế, ngươi đã đền được cái nợ máu trong kiếp này. Tuy vậy, bù lại,  trong những kiếp sau, ngươi vẫn  vĩnh viễn chịu khổ nạn trong Tiều Nhiệt Địa Ngục (một trong Bát Đại Địa Ngục, nơi lửa cháy phừng phừng). Chi bằng giờ đây, ngươi qui y Phật pháp,  xả thân giúp đỡ muôn người, thì chẳng những tế độ được chúng sinh mà còn cứu rỗi chính bản thân nữa. Trong trường hợp của ngươi, đó mới là điều thực sự cần thiết.

Nghe những lời nói trên, ngọn lửa sám hối lại càng chiếu sáng cả tâm can anh nên trước mặt hòa thượng, Ichikurô đã quyết chí xin được tu hành. Anh đã được hòa thượng tự tay làm nghi thức đắc độ và ban cho pháp danh Liễu Hải (Ryôkai, có nơi chép là Thiền Hải hay Thiền Liễu Hải). Tuy giữa đường mới liễu ngộ và chuyển qua tu Phật nhưng vì một lòng một dạ dũng mãnh tinh tiến cho nên chỉ chưa đến nửa năm mà đạo tâm và hạnh nghiệp đều sáng rỡ và còn trong trẻo hơn cả băng sương. Buổi sáng, anh tập trung  thực hành “Tam Mật”, buổi chiều anh không rời việc tụng niệm Chân Ngôn, thực thi nhị hành (chính hành và gia hành) một cách lẫm liệt, cho đến một ngày thoạt nhiên đại độ,  tri thức mở toang ra như một cảnh trời quang sau khi xua hết mây mù. Biết mình đạo tâm đã định, cho rằng từ nay không còn gì làm dao động được, anh bèn xin hòa thượng ấn khả làm tăng, lên đường  vân thủy khắp nơi để thực hành đại nguyện cứu vớt chúng sinh.

Sau khi rời vùng Mino, Ichikurô bây giờ là nhà sư Liễu Hải (Ryôkai)  bèn nhắm hướng Kyôto là một nơi đô hội. Ông khổ tâm vì đã giết hại nhiều người, nên nay dù mang hình thù tăng lữ, chưa chắc mạng  sống có thể bảo toàn lâu dài. Tuy nhiên, ông vẫn tâm nguyện là cho dù tan xương nát thịt, sẽ cố gắng giúp người, giúp đời, để báo đền trong muôn một ác nghiệp mình đã tạo ra. Đặc biệt khi nhớ lại việc mình đã gieo khổ gieo sầu cho biết bao nhiêu khách bộ hành trong vùng núi non Kiso, ông muốn sẽ làm một cái gì giúp đỡ để những người đang xuôi ngược trên con đường đó được nhẹ gánh lo.

Đi đứng nằm ngồi, không lúc nào mà ông không nghĩ đến cách giúp đỡ người. Khi thấy ai lâm nạn giữa đường,ông bèn đến đưa tay đỡ họ lên tại chỗ. Gặp người già em bé khổ vì bệnh hoạn, ông bèn cõng họ trên lưng qua những đoạn đường dài  đến vài dặm mà không cho đó là xa. Trước  những cây cầu sập nát trên những cung đường nhỏ ngoài khu vực  quan lộ, ông tự đi vào rừng đốn cây khuân đá để trùng tu. Còn như khi thấy có những nơi xói lở, ông liền đem đất cát lấp vào. Như thế, suốt cả vùng phụ cận kinh đô (Kinai) và cả miền trung nước Nhật (Chuugoku), nơi nào ông cũng để lại dấu tích của thiện căn với lòng ao ước là những hành động này sẽ được vun lên cao mãi. Đến khi sực nhớ rằng tội ác mình còn vút tới trời xanh trong khi thiện hành chỉ mới tà tà mặt đất, ông cảm thấy buồn khôn xiết vì hiểu rằng nếu chỉ làm chừng đó việc nhỏ bé ấy thôi thì ác nghiệp của quãng đời cũ hãy còn chưa tan biến. Nhiều khi thức giấc nửa đêm trong khách xá, ông cảm thấy lòng mình trống vắng vì không còn thấy đâu lẽ sống. Nếu kéo dài thêm cuộc đời này để chỉ đền đáp được chừng ấy thôi thì mình chẳng qua là kẻ tham sống sợ chết. Do đó, có lúc ông đã nghĩ đến cả việc tự sát. Tuy nhiên, cứ mỗi lần tuyệt vọng như vậy, ông lại vùng lên mạnh mẽ. Ông bèn khấn nguyện Thần Phật sao cho mình có cơ duyên hoàn thành một đại nghiệp nào đó để có thể cứu vớt vô số sanh linh.

Mùa thu năm Hưởng Bảo thứ 9 (Kyôho 9, 1724), sư Ryôkai bèn đi từ cửa quan Akamagaseki để xuống vùng Kokura, chiêm bái ngôi đền Thần Đạo Usa Hachiman trong xứ Buzen (Oita), rồi sau đó ngược dòng sông Yamakuni để hành hương chùa La Hán (Rakanji) vốn nằm trong một vùng núi non hang động. Ông tiếp tục đi từ thị trấn Yokkaichi về phía Nam, qua cả cánh đồng cỏ mênh mông một màu đất đỏ, rồi lại men theo con đường có nhiều khe suối của lưu vực sông Yamakuni.

Vào mùa thu, ở đất Tsukushi (Kyushu) này, nếu đi mãi dọc con đường có nhà dịch trạm mà vào sâu hơn nữa, ta sẽ thấy những bụi cây đủ loại cũng như rừng thưa đã chuyển sang sắc đỏ như đám cháy, còn trên cánh đồng thì trĩu vàng bông lúa, dưới hàng hiên những ngôi nhà nông dân, những xâu quả hồng, sản vật nổi tiếng của địa phương, đỏ au như ngọc đang hong khô trước gió.[3]

Rồi đến một ngày khi trời vừa bước vào tháng tám chưa được bao lâu, trong nắng thu ban mai lấp lánh, sư Ryôkai vừa nhìn dòng nước trong leo lẻo của con sông Yamakuni nằm bên tay mặt và vượt qua những đoạn đường núi từ Miguchi cho đến dốc Hotokezaka, gần giữa trưa thì ông đã đến được nhà trạm Hida. Sau khi dừng chân ở cái trạm xá vắng vẻ này để thụ trai, ông lại đi xuống thung lũng Yamakuni ở phía Nam. Ra khỏi nhà trạm Hida thì con đường lại chạy dọc theo bờ sông Yamakuni, nhà sư liên tiếp gặp những kè đá do dung nham hỏa sơn tạo thành.

Đoạn đường này vì đá núi cheo leo, Ryôkai (Ichikurô) phải dựa vào cây gậy mà lần bước. Bất chợt, ông nhận ra bên lề đường có bốn năm nông dân đang xúm xít cãi nhau ỏm tỏi. Ông bèn tiến tới gần họ thì chưa chi một người trong bọn vừa thấy bóng ông trong bộ áo nhà sư đã hô hoán:

-Coi kìa! May quá đi mất.Thầy này đến vừa đúng lúc. Thầy có vì cái duyên cùng là khách qua đường mà đọc một đoạn kinh hồi hướng cho nạn nhân vừa gặp cái chết thảm thương ở đây hay không, thầy?

Khi nghe nói có người vừa chết thảm thương, Ryôkai đã nghĩ ngay đến thi thể của một nạn nhân chết vì đạo tặc và nó làm ông nhớ đến ác nghiệp của gã sát nhân Ichikurô xưa kia. Trong một sát na, lòng ông lại trào lên niềm hối hận và đôi chân của ông bất giác đứng khựng  tại chỗ.

Ryôkai e ngại cất tiếng hỏi:

-Nhìn qua thì thấy ông ấy như người chết trôi nhưng da thịt lại có chỗ rách như bị thương, chẳng hay cơ sự là chi?

-Sư thầy ơi, chắc ông là khách phương xa nên không biết đó thôi. Nếu đi ngược con sông này lên độ nửa “chô” (khoảng 55m), thầy sẽ gặp một cây cầu treo cạnh vách đá dựng đứng (kusariwatashi) rất khó vượt. Nó được xem như địa điểm nguy hiểm hơn hết trong đoạn đường núi non Yamakuni này. Người ngựa Bắc Nam qua lại đều gờm nó lắm. Nạn nhân đây là một anh dắt ngựa (mago, mã sĩ) sống trong ngôi làng Sakisakago ở phía thượng nguồn con sông. Sáng nay khi đi qua cây cầu ấy được nửa đường, con ngựa bỗng trở chứng lồng lên và cả hai thầy trò mã phu đều rơi ngược đầu từ một độ cao khoảng năm trượng (5 x 3m = 15  Do đó thân thể cậu ấy mới rách nát thảm thương như thầy thấy đó!

Vừa nhìn chăm chú thi thể nạn nhân, nhà sư vừa hỏi thêm cho rõ:

-Cầu treo lơ lửng thì, đúng như ông nói, là chỗ vô cùng nguy hiểm. Nhưng xin hỏi từ đó đến nay, tai nạn như thế có thường xảy ra không?

-Thưa mỗi năm it nhất là ba, bốn người. Khi nhiều, có thể đến cả chục cảnh tượng thương tâm như thế. Chẳng những lối đi ấy là nơi hiểm trở có một không hai mà những thanh ván bắc cầu lại còn dễ mục nát vì mưa gió. Vậy mà mọi người cũng đành để đó chứ không có sức tu bổ.

Trả lời ông xong, đám nông phu bắt đầu thu vén cái xác ấy đem đi.

Ichikurô nay là nhà sư Ryôkai bèn đọc một đoạn kinh để hồi hướng  nạn nhân xấu số. Xong, ông quấn lại đôi dép cỏ cho thật chặt rồi xăm xăm hướng về phía cây cầu treo.

Chưa đầy một “chô” (109m) ông đã đến nơi. Nhìn kỹ, mới thấy phía tay trái của dòng sông là một ngọn núi ngọn lởm chởm những đá. Chỗ dòng sông Yamakuni chảy qua đã bị cắt ngang bằng một bức vách cao chừng 10 trượng (50 m) dựng lên thẳng đứng. Lớp vỏ bên ngoài màu xám trông sần sùi  giống như răng cưa. Nước sông Yamakuni lại liên tục xô vào vách đá như đang bị nó cấy ống hút. Dòng nước màu lục đậm ấy cũng không ngừng dạt vào chân vách  như muốn rửa sạch nó nhưng, đồng thời đã tạo nên những luồng nước xoáy.

Ông nghĩ đây chính là cây cầu treo mà người trong thôn nhắc đến. Vì lối đi đã bị cái vách đá sừng sững ấy chắn mất nên người dân ở đây đã phải làm một con đường sạn đạo vắt ngang lưng vách đá, bằng cách nối các sợi xích sắt vào những ngọn cây thông hay tuyết tùng vạm vỡ nhất chìa ra từ đó, nên vô cùng nguy hiểm. Đừng nói chi những kẻ yếu ớt như phụ nữ, trẻ em, chỉ nhìn cái cầu treo lơ lửng bên trên một vực sâu năm trượng và dưới áp lực của vách đã hãy còn mười trượng phía trên thì dù ai có cảm thấy hồn tiêu phách tán thì cũng là chuyện dĩ nhiên.

Sư Ryôkai vừa men theo giây cầu treo, vừa cố gắng đưa bàn chân của mình dẫm chặt phía dưới, rốt cuộc đã qua đến bờ bên kia. Trong một sát-na, khi nhìn lại cây cầu, bất chợt lòng ông đã nhen nhúm một lời thề và nghĩ mình thế nào cũng phải thực hiện.

Bấy lâu này ông đã từng khấn vái làm sao mình có thể hoàn thành một đại nguyện. Nó phải lớn hơn cả những gì nằm trong quá trình chuộc tội quá nhỏ bé mà ông đã ki cóp. Chỉ khi làm xong một việc thật khó khăn thì mới đủ chứng tỏ rằng cái tâm tinh tiến dũng mãnh của ông đã được tôi luyện. Hôm nay, đứng trước thảm kịch của người khách bộ hành ở một nơi hiểm trở, hàng năm từng  cướp đến mười sinh mạng, thì nếu nguyện vọng từ bỏ sự sống chỉ để giải quyết cái tai ách này cho dân chúng, có bùng lên trong lòng ông thì cũng không có gì gọi là phi lý.

Điều này cũng  có nghĩa là ông sẽ phải đào một con đường hầm dài hơn hai trăm “mon” (văn, khoảng 360m) xuyên qua vách đá, một dự tính vượt ngoài sức tưởng tượng.  Ông thấy rằng chính chốn này là nơi ông đã tìm thấy cái mình từng đi kiếm từ trước đến nay. Nếu trong vòng một năm mà mình cứu được mười mạng sống thì mười năm nó sẽ thành trăm và trăm năm nó sẽ thành nghìn. Rồi cứ như thế nhân lên, sau trăm năm đến nghìn năm, sẽ còn có hàng vạn con người được cứu sống.

Quyết tâm này đã được ông cụ thể hóa bằng cách bắt tay ngay vào việc. Kể từ hôm đó, ông nán lại trong trú phòng dành cho khách thập phương của chùa La Hán, rồi đi khắp các thôn làng vùng sông Yamakuni, giải thích cho dân chúng ý nghĩa của công việc đào hầm xuyên núi để khai thông một lối đi và mong họ giúp sức. Thế nhưng, xem chừng thì chẳng có mấy ai chịu lắng tai nghe lời nói của một kẻ cuồng tăng không biết làn gió phương nào vừa thổi tới.

-Đòi đục những ba “chô” (3x109 m) thông qua một vách đá sừng sững như thế này không phải ý tưởng điên rồ thì là gì nào! Ha ha ha ha ha!

Chỉ cười cợt như vậy hãy là còn khá chứ có kẻ còn kết tội:

-Tổ sư phét lác!  Đưa chuyện viển vông như  có thể thấy bầu trời qua lỗ kim xâu ra để thu tiền quyền góp đấy thôi. Tên thày chùa này đúng là tay đại bịp.

Trong bọn, một số còn tìm cách phá đám những buổi nói chuyện của  Ichikurô. Thành thử suốt mười ngày trời, dù nhà sư đã cố gắng kêu gọi việc khuyến tiến nhưng vẫn hoài công vì  thiên hạ đều giả mù giả điếc. Thấy thế, ông đâm ra phẫn uất và quyết tâm sẽ thực hiện đại nghiệp đó dù chỉ với sức vóc đơn độc của mình.Thế rồi, môt tay vác chùy sắt thợ đá hay dùng, một tay cầm dùi đục mà mình tự kiếm được, ông đã ra đứng trước cái vách đá dựng đứng kia. Nói như thế chẳng qua là để vẽ một bức tranh hí họa (caricature). Tuy  chất đá kết tụ là dung nham hỏa sơn  rơi xuống mà thành và dễ đập vỡ nhưng dù sao ngọn núi vẫn là một vách đứng cao vòi vọi nằm ép sát dòng sông. Ichikurô tự nguyện sẽ đào một đường hầm dài xuyên qua nó và chỉ bằng sức mình.

Người qua đường vừa đưa tay chỉ trỏ Ichikurô vừa cười cợt với nhau:

-Tên này đã bị máu điên bốc lên đầu rồi chắc!

Tuy nhiên, Ichikurô (Ryôkai) vẫn không chịu khuất. Ông xuống chỗ nước sông Yamakuni chảy trong vắt, tắm gội xong xuôi, lại bước lên bờ khấn khứa bồ tát Quán Thế Âm, rồi tập trung tinh thần và  sức mạnh toàn thân, đập nhát chùy đầu tiên vào vách núi.

Đáp lại nhát chùy ấy, chỉ có hai ba mảnh đá con rơi lả tả. Thế nhưng ông vẫn dồn hết tâm lực để đập tiếp nhát thứ hai. Hai ba cục đá nhỏ lại tách khỏi cái vách núi vĩ đại ấy và rơi xuống đất nhưng Ichikurô vẫn dồn sức bổ những nhát thứ ba, thứ tư rồi thứ năm. Khi nào cảm thấy đói, nhà sư bèn cầm bát đi khất thực ở mấy thôn xóm bên cạnh, rồi khi no lòng, ông lại quay về và bổ tiếp những nhát chùy sắt (tettsui) vào cái vách đứng. Lúc trong lòng cảm thấy biếng nhác, ông bèn niệm ít câu Chân Ngôn, để cho cái tâm dũng mãnh kiên cố quay trở lại. Một ngày, hai ngày rồi ba ngày, Ichikurô vẫn không hề gián đoạn trong nỗ lực. Còn khách bộ hành mỗi khi đi ngang qua, vẫn tiếp tục buông lời chế nhạo. Thế nhưng trước thái độ ấy, lòng Ichikurô vẫn không lay chuyển. Mỗi lần tiếng cười cợt kia nổi lên, ông chỉ trả lời đanh thép bằng những nhát chùy.

Mãi về sau, để  che mưa và sương gió, Ichikurô mới dựng tạm bên vách núi một cái chòi con bằng gỗ. Buổi sáng, khi dòng sông Yamakuni hãy còn in bóng sao trời, ông đã thức dậy bắt tay vào việc. Và ông vẫn làm không ngừng cho đến lúc chiều về, khi tiếng nước róc rách trong những con lạch (senari no oto) mơ hồ lan ra trong không gian tĩnh lặng.

Dù vậy, khách qua đường vẫn chưa thôi buông lời chế nhạo.:

-Cái tên này không biết lượng sức mình.

Thì ra họ không hề để lọt vào mắt những cố gắng của Ichikurô.

Nhưng Ichikurô vẫn nhất tâm bất loạn, ngày ngày tiếp tục phất chùy. Mà lạ cái là chỉ cần phất những đường chùy là trong lòng ông không còn nổi lên tạp niệm. Ngay cả việc ngày xưa mình cướp của giết người, ông không thấy hối hận nhưng ông cũng không trông mong mình sẽ tái sinh vào cõi Cực Lạc. Nơi ông bây giờ chỉ có mỗi tấm lòng hướng về sự tinh tiến. Nỗi đau khổ đến từ ký ức của  ác nghiệp  xưa kia vẫn dằn vặt ông khi chợt thức giấc vào những đêm về sáng rồi cũng đã nhạt phai dần. Tâm của ông đã dũng mãnh trở lại và ông chỉ chuyên chú vào mỗi một việc là bổ những nhát chùy vào vách núi.

Một năm mới lại về. Xuân qua hè đến, theo dòng thời gian trôi, chưa gì đã hết một năm, Nỗ lực của Ichikurô tỏ ra không uổng. Ở một góc của vách núi, ông đã khơi được cái hốc sâu non một trượng (5 m). Tuy đó chỉ là một cái hốc nhỏ  chả thấm vào đâu nhưng nó giống như một chứng cứ, một dấu  móng tay đầu tiên mà với ý chí kiên quyết của mình, Ichikurô đã quào lên trên đá.

Thế nhưng người sống ở các thôn làng chung quanh vẫn tiếp tục cười cợt.

-Coi đi! Đó là thành tích của gã điên kia đấy. Cả năm trời mà hắn ta chỉ đào được bấy nhiêu!

Tuy nghe lời họ đàm tiếu nhưng mỗi lần đứng ngắm cái hang, Ichikurô vui mừng đến ứa nước mắt. Dù nó có nông, có cạn đến mấy nhưng đây đúng là kết quả của công việc mình làm. Tháng năm tiếp tục nối nhau qua nhưng một thân Ichikurô vẫn vững tay chùy. Trong đêm đen dày đặc hay dưới ánh sáng mờ nhạt của ban ngày, ông vẫn ngồi ngay ngắn trước bức vách, vung cánh tay phải lên và bổ chùy lên lớp đá như một cuồng nhân. Đối với Ichikurô, chỉ cần vung bàn tay phải ấy lên thôi là ông thấy mình đã làm đầy đủ tất cả hành vi tôn giáo. 

Bên ngoài cửa động, lúc thì vầng dương chiếu, lúc thì ánh trăng soi, lúc thì gió gào, lúc thì bão nổi, nhưng bên trong động chỉ vang vang mỗi một tiếng chùy.

Sau hai năm trời, việc người chung quanh cười cợt ông vẫn chưa chịu ngừng nhưng có cái là những lời ấy đã không còn thành tiếng để đến tai ông  nữa. Duy khi giáp mặt và sau khi  thấy bóng Ichikurô rồi, họ mới châu đầu và thậm thụt với nhau những câu diễu cợt. Thế rồi, lại một năm nữa trôi qua. Âm hưởng tiếng chùy của Ichikurô-cũng như tiếng nước chảy trên dòng sông Yamakuni, cả hai đều chưa bao giờ gián đoạn. Người dân trong thôn không còn nói thêm gì nữa. Thay vào thái độ cười cợt, gương mặt của họ  đã in dấu của sự kinh ngạc. Không biết tự lúc nào, mái tóc bờm xờm của Ichikurô đã xỏa dài che cả hai bờ vai, nếu không được tắm gội  thì sẽ bám đầy cáu ghét và trông không ra hồn người.  Ấy thế mà ông vẫn tiếp tục chui rúc như một con thú hoang trong cái hang ông đã tự đào và tiếp tục bổ những nhát chùy như một gã điên.

Sự kinh ngạc của người dân trong thôn không biết từ bao giờ đã biến thành sự đồng tình. Ichikurô bèn lợi dụng một phút nghỉ ngơi để bưng bình bát đi ăn xin quanh vùng. Sau đó, cảnh tượng có ai đó đem cơm nước đến đặt ở cánh cửa ra vào động được thấy thường  xuyên hơn và nhà sư khỏi phải mất thời giờ qua thôn bên cạnh khất thực, và do đó, ông lại có nhiều cơ hội ngồi đối diện trước bức vách hơn. Đến cuối năm thứ tư thì đoạn đường hầm của Ichikurô đã sâu được năm trượng (5 x 5m). Tuy vậy nếu so sánh nó với độ dày những hơn  ba “chô” (3 x 109 m) thì vẫn chưa  nghĩa lý gì. Lúc ấy lại xảy ra một chuyện lấn cấn “như chuyện tìm dê đi lạc”[4] . Số là một nhóm dân làng, trước nhiệt tình của Ichikurô, tuy thấu hiểu sự lao khổ của ông nhưng vẫn chưa có ai nghĩ đến việc đến giúp một tay. Thành thử Ichikurô  cứ phải đơn độc làm việc tiếp. Giờ đây, Ichikurô đã đi vào trạng thái tập trung cực độ đến quên đi tất cả (tam muội, sammai). Ngoài việc vung tay giáng chùy, ông không còn suy nghĩ một chuyện thứ hai. Giống như một con rồng đất (mogura, mole), khi nào còn mạng sống, là ông tiếp tục chuyên tâm đào bới. Bên trong, một mình ông vẫn vung tay chùy không ngừng nghỉ, còn ở ngoài cửa động, xuân đi thu đến, phong cảnh bốn mùa cứ thay nhau tiếp nối..

-Tội nghiệp cho nhà sư kia!. Tuy ông ta làm chuyện điên rồ nhưng cũng đục được cả đá tảng đấy chứ nhỉ? Thế nhưng chắc lúc mười phần chưa được một thì đã tiêu đời!

Khách qua đường khi nghĩ về những nỗ lực vô bổ của Ichikurô, bắt đầu cảm thấy buồn cho ông. Tuy vậy, thêm một năm rồi hai năm trôi qua, nhằm thời điểm cuối năm thứ chín, nếu đo từ ngoài cửa động vào trong người ta sẽ thấy ông đã đào thông đến một độ sâu là hai mươi hai ”ken” (22x 1, 818m, tức gần 40m).

Dân làng Hida giờ mới hiểu rằng việc làm của Ichikurô có khả năng thành công. Nếu một ông tăng khất thực gầy gò, sau chín năm bỏ ra công sức mà đào được ngần ấy, thì nếu thêm người và thêm thời gian, cái chuyện đục xuyên vách đá, ngẫm ra không phải là chuyện kinh khủng gì. Ý tưởng đó lần hồi được mọi người trong làng ghi nhớ. Một số  cư dân của bảy ngôi làng (thất hương) ven sông Yamakuni từng đứng lên  bài xích khi Ichikurô đến thuyết phục họ cùng thi công với ông cách đây chín năm, bây giờ lại tự ý đến đề nghị cúng tiền để  tiếp tay. Với số tiền quyên góp đó, họ đã thuê cho ông được một số thợ đá (thạch công). Từ đây, Ichikurô không còn là người cô độc. Kể từ hôm đó, từ bên trong hang động, để xoi mòn bức vách, đã vọng ra bản hợp âm của hàng loạt tiếng chùy, tiếng búa  mạnh mẽ và phấn chấn.

Dù vậy, đến năm sau khi quan sát tiến độ của công trình và nhận ra rằng chỉ mới đục được một phần tư  con đường hầm dự tính, họ lại đâm ra thất vọng và vài kẻ đã lên tiếng ngờ vực:

-Tăng thêm người mà kết quả chẳng có bao nhiêu. Hay là chúng ta lại bị thầy Ryôkai (Liễu Hải) này đánh lừa mất rồi!

Chẳng bao lâu họ hết còn kiên nhẫn đối với cái công trình tiến độ quá chậm chạp này. Một người rút lui, hai người rút lui...rốt cuộc Ryôkai nhận ra là chẳng còn người nào chịu ở lại bên ông. Thế nhưng ông không bao giờ chạy theo để mời mọc những người bỏ đi quay lại với mình. Ông cứ lẳng lặng liên tục  bổ những nhát chùy vào vách đá.

Người trong thôn hầu như không còn để ý đến sự có mặt của ông nữa. Đặc biệt là khi đào càng sâu thì từ trong động, tiếng chùy đập đá không còn khả năng  vọng đến tai họ và bóng dáng của Ichikurô cũng đã lọt ra khỏi tầm mắt của đám khách bộ hành . Người người bèn thò đầu vào trong và tưởng tượng về những gì đang bị bóng tối của hang động che khuất và hỏi nhau với giọng nghi ngờ:

-Trong đó, thầy Ryôkai hiện có còn làm việc hay không nhỉ?

Những sự chú ý như vậy cuối cùng rồi cũng phai nhạt và sự tồn tại của nhà sư sống trong hang dần dần biến khỏi sự chú ý của dân làng. Thế nhưng sự tồn tại hay không của ông đối với dân làng chỉ là kết quả của một sự cắt đứt quan hệ cũng như sự tồn tại của dân làng đối với ông cũng chỉ là  sự cắt đứt quan hệ theo chiều ngược lại. Lý do  là giờ đây, đối với ông, chỉ có một sự tồn tại duy nhất là cái vách đá đang hiện ra trước mắt.

Thế nhưng Ichikurô đã ngồi thẳng người trong động để nhìn vách đá được hơn mười năm rồi. Ngoài cái lạnh lẽo và u ám của hang động, do cứ ngồi liên tục như thế, mặt mày ông giờ đã xanh xao, đôi mắt lõm sâu, bắp thịt teo lại và gầy gò đến trơ xương, không thể tưởng tượng nổi đó là một sinh vật còn có thể  sống trên đời. Duy cái tâm của ông vẫn vững vàng như bàn thạch và từ đó luôn luôn bùng cháy một ngọn lửa mãnh liệt. Cái tâm đó chỉ ngưng tụ ở một điểm duy nhất là con đường phóng ra phía trước và không cần biết đến gì khác. Mỗi phân, mỗi tấc nham thạch bị đục ra và rơi xuống đều khiến ông reo lên vì mừng rỡ.

Ông cứ sống và làm việc trong sự cô đơn như thế thêm ba năm trời. Thế rồi, một lần nữa, sự chú ý của dân làng lại hướng về ông. Khi vì lòng hiếu kỳ, họ muốn đến đo đạc để xem công trình đã thực hiện đến đâu thì thấy chiều dài đã đạt đến sáu mươi lăm “ken”(65 x 1, 818m ) và phía vách nhìn xuống mặt sông, ông đã trổ được một cánh cửa số để lấy ánh sáng.Thế là chẳng bao lâu nữa, con đường hầm sẽ làm xong độ một phần ba.Có thể phỏng đoán là đại bộ phận của công trình đã được thực hiện bởi bàn tay gầy yếu của Ichikurô.

Một lần nữa, đám dân làng đã phải trố mắt kinh ngạc. Họ cảm thấy hổ thẹn vì sự ngu dốt trước đây. Lòng tôn kính đối với nhà sư đã được họ tìm thấy trở lại. Kết cuộc, nhờ ở tiền cúng dường của họ, ông đã có đủ chi phí để mướn thêm mười tay thợ đá mới. Tiếng chùy sắt  của mọi người lại âm vang trong lòng hang động và hòa vào nhịp đập của  cánh tay Ichikurô.

Một năm rồi lại trôi qua. Trong thời gian một năm ấy, đám dân làng lại bắt đầu lo lắng về chi phí cho một công trình vẫn chưa thấy ngày mai và đâm ra hối tiếc.

Thợ đá sống bằng tiền cúng kiến cũng theo đó mà rơi rụng. Không biết tự bao giờ, một người thôi việc rồi đến người thứ hai. Rốt cuộc cũng chỉ còn mỗi Ichikurô là tiếp tục ngồi đó đập đá trong cái hang tăm tối. Tuy vậy, dù bên cạnh mình có người hay là không, sức mạnh của đường chùy mà ông bổ xuống vẫn không có gì thay đổi. Ông đã vung tay lên và bổ xuống với tất cả sức mạnh của tâm hồn và thể xác. Ông còn quên cả chính bản thân mình. Nào chuyện sát hại chủ, chuyện làm sơn tặc, nào chuyện giết người cướp của, tất cả những điều đó đã lọt ra ngoài vùng ký ức của ông và phai mờ dần.

Một năm trôi qua. Hai năm trôi qua. Cánh tay gầy yếu của ông, cứng như thép nguội, vẫn hoạt động theo một niềm tin duy nhất. Cho đến một ngày cuối năm thứ mười tám, ông đã nhận ra rằng mình vừa đục xong phân nửa con đường hầm.

Khi nhìn thấy một phép lạ như vậy, dân chúng không còn không còn hoài nghi gì về việc làm của Ichikurô. Người dân của bảy ngôi làng (thất hương) quanh vùng lấy làm xấu hổ vì bỏ cuộc hai lần trước đó, đã thành tâm quay lại và bắt đầu  tận lực chi viện cho ông. Năm đó, quan bố chánh (bugyô) phiên Nakatsu mở một cuộc tuần tra trong vùng và khi gặp Ichikurô, đã ban cho ông những lời khen đặc biệt. Gần ba mươi thợ đá sống ở các làng lân cận đã được triệu tập đến và công việc đào hầm lại bùng cháy như đám lá khô vừa bén lửa.

Mọi người khi nhìn cái dáng suy nhược của Ichikurô nay đã trở thành một nhà sư già, đã phải dặn dò:

-Thôi bây giờ thầy chỉ cần đứng ra chỉ huy, có gì thì sai bảo mấy chú thợ chứ đừng tự mình cầm chùy đập đá làm chi nữa nhé. 

Tuy được họ khuyên bảo như thế nhưng Ichikurô vẫn ngang bướng không nghe. Dường như ông nghĩ rằng nếu có chết thì ông sẽ chết với cái chùy trên tay.

Đành là vậy những những người khuyên ông dừng tay không phải hoàn toàn vô lý. Suốt quãng thời gian trên hai mươi năm, ông đã làm việc trong một cái hang sâu mà ánh sáng mặt trời không chiếu vào  nỗi và với tư thế ngồi bất di bất dịch. Vì cứ ngồi ngay ngắn liên tục như vậy, hai chân ông đã bị tổn thương đến độ không còn co giản theo ý muốn. Chỉ cần đi một đoạn thật ngắn là ông đã phải dùng đến gậy.

Hơn thế nữa, có lẽ vì nhiều năm phải ngồi trong bóng tối, không thấy được ánh sáng mắt trời, cũng như thường bị mảnh vụn và bụi đá bay vào mà mắt ông cũng bị thương tật. Hai con mắt giờ đây chỉ còn thấy được lờ mờ, không những thế , ông còn gặp khó khăn khi phân biệt màu sắc đồ vật.

Ngay một người có cái tâm bất động như ông mà cũng phải đau đớn nhận ra rằng tuổi già đang thúc bách bên người.Tuy không cầu sống lâu nhưng ông sẽ vô cùng tiếc nuối nếu công trình đang làm phải chịu cảnh giữa đường đứt gánh.

Trong đáy lòng ông như đang có tiếng nói vọng lên:

-Thôi thì mình cố thêm hai năm nữa vậy!

Và như thế, quên cả cái thân già nua ốm yếu, Ichikurô lại  ra sức tiếp tục bổ những nhát chùy. Cái vách đá đã hiện ra trước mặt Ichikurô như muốn chắn lối để biểu lộ cái oai nghiêm của thiên nhiên bất khả xâm phạm, không biết lúc nào đã bị bàn tay gầy gò suy nhược của lão tăng kia đục thủng. Cái hang đâm sâu vào giữa lòng núi đá này chẳng khác nào một vật thể có sinh mệnh riêng và cũng là tâm điểm của con đường mà ông phải xuyên suốt. 

Bốn

Vì  lao động quá mức, sức  khỏe của Ichikurô suy sụp và nhiều vết thương gây ra đau đớn cho ông. Thế nhưng đối với ông, hãy còn có một kẻ địch đáng sợ hơn nữa. Hắn ta đang rình rập để cướp lấy mạng sống của ông.

Nakagawa Saburôbê, người vô phúc phải chết thảm khốc dưới bàn tay của gia thần mình là Ichikurô, nhân vì mang tội gia phong thiếu kỷ cương gây ra rối loạn, đã bị nhà nước tịch biên gia sản và phế bỏ chức tước.  Lúc ấy Saburôbê chỉ có một cậu con trai cả tên là Jitsunosuke (cậu Thực) vừa mới lên ba. Vì hoàn cảnh là thế, cậu đã được giao cho thân quyến nuôi dạy .

Năm Jitsunosuke được mười ba tuổi, lần đầu tiên cậu mới biết cha mình đã bị chết một cách oan ức. Đặc biệt là ông đã không chết dưới tay một người cùng đẳng cấp samurai mà lại là từ một gã nô bộc mình nuôi trong nhà. Phải nói là lòng của cậu hết sức đau đớn và căm tức. Ngay lúc đó, cậu đã tạc dạ ghi tâm mỗi việc phục thù. Cậu tức khắc đến đạo trường dạy của kiếm phái Yagyuu (Liễu Sinh)[5] và ghi danh theo học. Đến năm mười chín thì cậu đã nhận được ấn khả tốt nghiệp từ sư phụ. Cậu liền lên đường với mục đích báo cừu tuyết hận. Cậu cũng suy nghĩ thêm  rằng nếu mọi sự trót lọt và  hoàn thành tốt đẹp hoài bão của mình, đến khi trở về quê, cậu sẽ còn có cơ hội phục hưng lại dòng họ. Ngày lên đường, cậu đã được cả gia đình khích lệ và khuyên cậu phải đinh ninh điều đó.

Vì không quen cuộc đời lữ thứ, Jitsunosuke đã phải trải qua nhiều gian khổ nhưng cậu vẫn bình tâm đi khắp các phiên trấn để truy lùng Ichinosuke, kẻ thù không đội trời chung. Đối với Jitsunosuke thì Ichikurô chỉ là kẻ cậu nghe nói tên chứ chưa từng gặp mặt bao giờ nên việc tìm kiếm vô cùng khó khăn như mò kim đáy bể. Hết năm vùng phụ cận kinh đô (Gokinai), cậu tiếp tục truy lùng kẻ thù trên các tuyến đường lớn từ Đông Hải (Tôkai), Đông Sơn (Tôzan) cho đến Sơn Âm (San’in). Cậu đã tiễn năm cũ và đón năm mới không biết bao nhiêu lần trên bước đường phiêu bạt. Nay đã đến tuổi hai mươi bảy, cậu vẫn kéo dài cuộc tầm thù không kết quả nào cụ thể. Tuy là đôi khi lòng oán hận và căm tức kẻ thù của cậu bị trăm nỗi gian nan trên bước đường dài làm cho suy giảm, nhưng khi nghĩ đến cái chết thê thảm của cha cũng như hy vọng tái tạo cơ nghiệp dòng họ Nakagawa và trách nhiệm trọng đại của mình trong việc khôi phục ấy, cậu mới hừng chí phấn đấu trở lại.

Đúng vào mùa xuân thứ chín kể từ ngày rời khỏi Edo, cậu đến được dưới chân thành Fukuoka (trên đảo Cửu Châu, Kyushyu). Bởi vì sau khi đã vô vọng với những cuộc tìm kiếm trên Bản đảo (đảo Honshyu), cậu nghĩ rằng ở chốn biên thùy xa xôi như đất Cửu Châu này, may ra mình sẽ có được gì chăng?

Jitsunosuke đi từ xóm buôn bán dưới chân thành (shitamachi) của Fukuoka sang đến xóm tương tự ở Nakatsu, rồi vào ngày đầu tháng hai, cậu đã làm lễ trong đền Thần đạo Ichinichi Usa Hachiman, ném tiền cúng và cầu cho sở nguyện của mình được đạt thành chóng hơn kỳ hạn một ngày (ichinichi).Thế rồi, sau khi đã khấn khứa như thế, Jitsunosuke ghé vào một quán chè trong khuôn viên đền uống nước và nghỉ chân. Tình cờ lúc đó, cậu chợt nhận ra rằng bên cạnh mình, lại có hai ông ăn mặc kiểu nhà nông, có vẻ là khách đến thăm đền, đang chuyện vãn:

-Hình như nhà sư kia xuất thân từ vùng Edo thì phải. Vì thời trẻ thầy ấy lỡ  tay giết người nên bây giờ sám hối, muốn làm tròn một đại nguyện để giúp đỡ mọi người. Cái gọi là đường hầm Hida là do một tay thầy ấy đào đấy!

Nhưng câu nói đó đã lọt vào tai Jitsunosuke.

Câu chuyện vừa nghe khiến cho cậu cảm thấy rằng đây là thông tin có ích nhất so với những gì cậu đã nghe được từ chín năm nay. Cậu không sao ghìm được sự nóng nảy:

-Xin tha cho cái tội đường đột nhưng bác có thể nào cho tôi biết thêm về tên tuổi của thầy ấy không ạ?

Người nhà nông kia thấy có được một người samurai quan tâm đến câu chuyện của mình đang nói, lấy làm vinh dự:

-À! Về ông đó thì tình thật tôi chưa có cơ hội giáp mặt nhưng theo lời thiên hạ đồn đoán thì ông ấy cũng phải gần sáu mươi tuổi.

Jitsunosuke lại hỏi như để mớm lời:

-Chứ khổ người thầy ấy cao thấp ra sao?

-Cái đó nếu ai có nói cũng là đoán mò thôi vì cả ngày thầy ấy chỉ ngồi trong hang sâu tối om om!

-Thế bác có biết tục danh của thầy ấy là gì không ạ?

-Cái đó, tôi cũng chịu thua nốt. Chỉ biết hình như quê quán là vùng Kashiwazaki xứ Echigo (Niigata) và hồi trẻ có lên Edo kiếm ăn.

Sau khi nghe người nôngdân trả lời như vậy, Jitsunosuke bỗng mừng rỡ. Trước khi rời Edo, cậu ta đã nghe người trong nhà cho biết là kẻ địch vốn sinh ra ở Kashiwazaki nên có sác xuất là sẽ trốn tránh quanh quẩn nơi quê cũ của mình. Người nhà cũng đã dặn dò cậu rằng nếu có truy lùng thì chớ bỏ qua vùng Echigo.

Jitsunosuke cho rằng thông tin này chính là câu trả lời mà vị thần Usa Hachiman đã thác vào miệng người nông dân để báo cho cậu nên đã vươn mình mạnh mẽ đứng dậy. Sau đó cậu đã tìm cách hỏi thăm tên nhà sư già và con đường đưa về hang động Yamakuni (Yamakunidani). Dù mới quá khắc thứ tám (hai giờ chiều) một chút nhưng Jitsunosuke đã dồn hết sức lực vào đôi chân và chạy thục mạng đến địa điểm kẻ địch đang sinh sống. Khi gần sơ canh (canh một, 7 đến 9 giờ tối), anh đã đến kịp thôn Hida và tất tả đi về phía ngọn núi nơi có hang động nhưng sau khi suy nghĩ mình không cần phải hấp tấp như vậy, đã quành lại và ngủ đỗ một đêm trong thôn Hida. Đêm đó Jitsunosuke nằm trằn trọc, suy nghĩ vẩn vơ cho đến sáng, rồi thức dậy thật sớm, ăn mặc gọn ghẽ và đi về khu đường hầm Hida.

Khi đến cửa hang, cậu đã lên tiếng hỏi một người thợ đang bê những mẩu đá vụn dẹp sang một bên:

-Có phải trong cái hang này, có một nhà tu tên là Ryôkai (Liễu Hải) đang sống đấy không ạ?

Người thợ đá trả lời một cách vui vẻ và  hồn nhiên:

-Không chỉ ở đây thôi đâu. Thầy Ryôkai còn có thể coi như là ông chủ của cả cái động này nữa kìa! Ha ha ha ha....

Jitsunosuke mừng đến độ trái tim như muốn vọt ra ngoài vì cậu biết cái đích ngắm của mình đã ở ngay bên cạnh và chẳng bao lâu nữa, mình sẽ đạt được giấc mơ bấy nay ấp ủ trong lòng. Cậu cảm thấy bồn chồn không thể tả.

-Còn lối ra vào chỉ có mỗi nơi đây thôi sao?

Cậu hỏi sấn tới để xác nhận xem địch còn lối nào khác để thoát thân không.

Anh thợ đá mới đáp:

-Thì đã hẳn! Chính vì muốn ăn thông qua phía bên kia mà thầy Ryôkai mới phải lao khổ để đục cái hầm này đấy chứ.

Jitsunosuke vui mừng khi thấy kẻ địch mà cậu bao năm oán ghét nay giống như con chuột đã chui vào trong rọ. Cậu hăng hái nghĩ là dù có giết hết những người thợ đá đang làm việc dưới quyền ông ta thì cũng chỉ là một tạp vụ bắt buộc phải làm thôi. .

Cậu bèn nói tiếp:

-Tôi có một chuyện nhỏ muốn nhờ ông anh. Tôi vốn là một khách phương xa, muốn đến đây để thỉnh ý thầy Ryôkai về một đôi điều. Cảm phiền anh vào báo thầy giúp tôi.

Sau khi người thợ đá quay lưng đi vào trong hang, Jitsunosuke bèn lấy nước thấm cán kiếm cho ướt, còn trong bụng thì tưởng tượng dung mạo của kẻ địch mà cậu sẽ gặp lần đầu tiên trong đời. Nếu là người chỉ huy một công trình như thế này, chắc ông ấy phải là một người đàn ông tuổi trạc năm mươi và thân thể hãy còn cường tráng lắm. Đặc biệt là thời trẻ ông ta cũng từng theo đòi kiếm thuật nên mình không thể nào bất cẩn khi đối phó.

Thế nhưng, đợi một lúc sau, người xuất hiện bên cửa động trước mặt Jitsunosuke không phải là người cậu vừa hình dung mà chỉ là một lão tăng khất thực. Bảo là bước ra có lẽ là không chính xác bởi vì ông ta chỉ bò lết như một con cóc. Và cũng không thể gọi ông ấy là một con người. Có chăng là một bộ xương khô đét mà các bắp thịt đã teo lại hết.  Phía chân trở xuống thì các khớp đều đã sưng phồng, mắt ông lại không thể chăm chú nhìn vào cái gì trong một khoảng thời gian dài. Bộ áo thầy tu (pháp y) đã rách như xơ mướp và ông cũng chẳng có dáng dấp của một nhà tu vì râu tóc đã mọc dài và phủ lên vầng trán nhăn nheo. Nhà sư già đưa đôi mắt hấp hem ngước nhìn Jitsunosuke và nói:.

-Vì mắt lão tăng nay đã quá yếu nên dù có vị nào đứng trước mặt, lão cũng không thể phân biệt!

Lòng Jitsunosuke mới đây còn khẩn trương như một sợi giây đàn căng cứng, nhưng chỉ cần thấy thân thể tiều tụy của nhà sư trong một sát na là nó đã bắt đầu chùng lại từng tí một. Trong đáy lòng mình, cậu muốn có được một tình cảm như ghét bỏ hay căm hận khi đứng trước một gã ác tăng Nhưng giờ đây trước mắt cậu chỉ có một thân xác, người chẳng ra người mà hài cốt cũng không ra hài cốt, một nhà sư già lọm khọm, sống dở chết dở. Jitsunosuke cố gắng  kéo mình ra khỏi tình cảm thất vọng mà cậu mới bắt đầu cảm thấy.

Cậu ta bèn nén thở và đặt câu hỏi:

-Người trước mặt ta! Tên ngươi có phải là Ryôkai hay không?

-Thưa chính tôi. Còn ông, chẳng hay ông là ai?

Nhà sư già nhìn lên Jitsunosuke với một thoáng nghi ngờ.

-Gọi là Ryôkai nhưng chắc ngươi chỉ trá hình để làm tăng, chứ làm sao ngươi có thể nào quên tông tích của chính mình nhỉ? Có nhớ xưa kia ngươi vốn là Ichikurô, từng sát hại chủ nhân là Nakagawa Saburôbê rồi tẩu thoát hay không? Ta đây chính là Jitsunosuke, con trai cả của Saburôbê. Ta nói cho người biết, bây giờ ngươi có chạy đàng trời cũng không thoát thân đâu.

Lời lẽ của Jitsunosuke nghe hết sức bình tĩnh nhưng cũng rất đanh thép như cậu muốn cho Ichikurô biết mình sẽ không bao giờ  thối lui một bước.

Tuy nghe Jitsunosuke tiết lộ, Ichikurô vẫn không tỏ ra kinh ngạc chút nào.

-Té ra đây là cậu chủ Jitsunosuke, con trai của ngài Nakagawa Saburôbê đấy ư? Kẻ đã đoạt mạng thân phụ của cậu chính là Ryôkai này chứ không ai khác.

Ông ta đáp nhưng không dùng lời lẽ của một kẻ đứng trước kẻ địch đang tìm đến để giết mình. Trong lời ấy chỉ có sự thân tình của một gia nhân khi  gặp lại di nhi của cố chủ.   Nó toát ra một sự thành thực mà Jitsunosuke  không thể nào nghi ngờ..Cậu ta mới bảo:

-Vì đi kiếm ngươi để xử cái tội giết chủ phi nhân vô đạo đó mà gần mười năm trời ta đã phải bôn ba khắp nơi và nếm trải bao nỗi gian truân. Bây giờ gặp được nhau đây, ta không thể nào để cho ngươi thoát. Hai ta chỉ còn một phen thắng phụ đúng như qui tắc mà thôi.

Ichikurô không hề tỏ ra sợ hãi. Ông chỉ cảm thấy hơi tiếc nuối là chỉ vì không còn bao lâu nữa, ông sẽ hoàn thành cái đại nghiệp từng đeo đuổi. Tuy lòng có hơi buồn nhưng nếu để đền tội ác của mình, ông đã sẵn sàng đón nhận cái chết.

-Thưa cậu chủ, xin cậu cứ chém chết tôi đi. Tuy nhiên, chắc cậu đã nghe rằng, để chuộc tội ác của hắn, Ryôkai này đã bỏ ra mười chín năm để đào một đường hầm và nay thì, nếu gọi là mười phần thì nó cũng đã xong đến chín. Tấm thân này dù muốn giữ cũng chẳng còn bao lâu nữa. Chỉ mong đến ngày công việc hoàn thành, nếu cậu chủ bắt đổ máu trước cửa hang này như một vật tế thần (hitobashira), tôi dám thưa là sẽ không có gì hối tiếc.

Ichikurô vừa nói vừa nhấp nhem đôi mắt hầu như đã lòa.

Từ khi tiếp xúc với nhà sư già dở sống dở chết này, cái lòng ghét bỏ kẻ thù cha cậu nuôi trong lòng, không biết tự bao giờ đã bị xoi mòn. Kẻ thù vì sám hối về hành vi giết chủ mà nửa đời đã phải tự hành hạ mình đến nổi thân tàn ma dại. Thế nhưng chỉ cần mình xưng danh, ông ta đã đối đáp một cách lễ độ và  sẵn sàng vươn cổ ra chịu chết. Jitsunosuke tự hỏi  giết một lão tăng dở sống dở chết, cậu sẽ phục thù được cái gì? Dù vậy, khi nào cậu chưa đoạt mạng kẻ thù thì cậu sẽ không thể nào kết thúc những tháng năm dài trôi nổi và quay đầu trở lại Edo. Chẳng những thế, cậu chuyện phục hồi danh dự và cơ ngơi của dòng họ sẽ thành muối bỏ biển!  Tuy không còn căm ghét nhưng lòng của Jitsunosuke vẫn có sự so đo hơn thiệt trước ý nghĩ phải lấy mạng sống của lão tăng. Ông ta nào có biết những gì đang sôi sục trong lòng cậu, những tính toán khiến cho Jitsunosuke khó thể tha thứ và không giết ông. Nó đã làm cho sự thù ghét trên đà tan biến, một lần nữa lại bùng lên,  khiến cậu dù không muốn giết vẫn phải ra tay.

Lúc ấy bỗng nhiên có năm sáu người thợ đá từ trong hang chạy ra. Thấy Ichikurô đang gặp nguy hiểm, họ bèn lấy thân hình che chở. Họ trách mắng Jitsunosuke:

-Này! Ông định làm gì thầy Ryôkai đó?

Nhìn nét những mặt hầm hầm ấy, cậu biết rằng họ sẽ không để cho cậu tự tung tự tác.

-Vì ta có mối thù riêng từ nhiều năm trước với nhà sư già này nên hôm nay không hẹn mà gặp, buộc lòng ta phải bắt ông ta đền tội. Dù các ngươi đông cách mấy nhưng nếu định cản trở, ta sẽ không tha mạng cho đâu!

Lời lẽ của Jitsunosuke tỏ ra rất quyết liệt. Tuy nhiên, đám thợ đá mỗi lúc càng tụ họp đông đảo. Một vài người khách bộ hành cũng dừng chân bên cạnh. Họ vừa vây lấy Jitsunosuke, vừa đưa thân làm khiên che chắn nhà sư già, không để cho Jitsunosuke đụng đến một ngón tay ngón chân của ông. Mỗi người góp vào một câu, bắt đầu gây ra huyên náo..

Một người trong bọn đã lên tiếng bác bỏ nguyện vọng phục thù (katakiuchi) của Jitsunosuke, xem đó là một việc không còn thích hợp:

-Phục thù hay không phục thù là chuyện chỉ xảy ra lúc kẻ thù còn là người của thế gian kia kìa!. Nay thầy Ryôkai đã xuống tóc qui y thì đâu còn thuộc về thế gian này nữa. Người trong bảy thôn làng của vùng hang động Yamakuni chúng tôi đều kính ngưỡng thầy như một “trì địa bồ tát” tái sinh đấy!

Bị cản trở như thế lại là cái cớ để ngọn lửa phẫn nộ đối với kẻ địch của Jitsunosuke bốc lên phừng phừng. Đã mang  thân danh là người samurai, cậu không thể khoanh tay thúc thủ và rời khỏi hiện trường cho được.

-Dù trong lớp áo sa môn nhưng đại tội giết chủ làm sao có thể xí xóa! Ta sẽ không tha thứ ngay cả một mạng những ai muốn ngăn ta làm tròn đạo hiếu.

Jitsunosuke bèn rút kiếm ra khỏi vỏ. Quần chúng đang vây quanh cậu cũng sửa soạn thủ thế. Thì vào lúc đó, bỗng thấy Ichikurô cất cao cái giọng khàn khàn:

Các bạn ơi! Hãy khoan cho tôi nhờ. Nếu có chết, Ryôkai này cũng mười phần đáng tội. Ngay đào cái hầm này cũng là việc nhằm đền bù phần nào cái tội đó. Việc mượn bàn tay hiếu hạnh của cậu chủ để kết thúc cái thân dở sống dở chết này cũng là tâm nguyện một đời của Ryôkai . Cho nên, xin các bạn đừng cản trở cậu ấy!

Vừa nói, Ichikurô bèn lết gối tới để đến gần Jitsunosuke hơn nữa.Qua thái độ đó, người đứng chung quanh đều hiểu rằng ý chí kiên cường muốn đền tội của nhà sư  không hề lay chuyển và quyết tâm đó cũng không chệch đi một ly. Họ xem như tính mạng của Ichikurô sẽ kết liễu ngay tại chỗ này. Thì vào lúc đó, ông trùm của nhóm thợ đá chợt lên tiếng:

-Ông samurai kia ơi! Không hiểu lời tôi có nghe lọt tai ông không nhưng con đường hầm này là chí nguyện (đại thệ nguyện) một đời của thầy Ryôkai đấy. Gần hai mươi năm tân khổ đã hủy hoại tâm hồn và thể xác của thầy. Cho dù thầy mang một ác nghiệp thế nào đi nữa nhưng việc đạt thành đại nguyện nay đã đến trong tầm tay, lẽ nào ông lại không để cho .nó được thành tựu. Nếu thế sẽ đáng tiếc ngần nào! Bọn chúng tôi chỉ có chung một lời yêu cầu là xin ông hãy tạm  gửi mạng sống của thầy ấy cho chúng tôi đến khi đường hầm này được khai thông và chuyện này nhất định không cần bao nhiêu thời gian nữa. Lúc đường hầm hoàn thành, tức khắc chúng tôi sẽ nạp thầy ấy cho ông mặc sức xử lý.

Sau khi nghe ông trùm nói lên nguyện vọng thống thiết ấy, quần chúng chung quanh đã tỏ ý tán đồng:

-Bỏ qua đi ông! Bỏ qua đi ông!

Nghe xong, Jitsunosuke cũng nhận thấy rằng mình không thể làm ngơ trước ý chí của mọi người. Tiến lên một bước và vung kiếm giết kẻ thù ngay bây giờ,  dĩ nhiên đám đông chung quanh sẽ cản trở, nhưng ngoài ra, thái độ vươn cổ chịu chết mà không đợi cho con đường hầm hoàn thành đã biểu lộ rõ ràng nghĩa khí của nhà sư. Dẹp mọi tính toán qua một bên, tuy là kẻ thù nhưng nếu tạm dung tha để nhà sư già này đạt thành sở nguyện thì điều đó cũng không có gì làm cho cậu thấy  khó chịu. Do đó, Jitsunosuke bèn đưa mắt nhìn một vòng hết  Ichikurô đến quần chúng đang vây quanh rồi bảo:

-Thôi ta tạm tha cho kẻ đang nấp dưới chiếc áo thầy tu Ryôkai. Nhưng các ngươi cũng không được quên lời vừa cam kết với ta đấy nhé!

Ông trùm nhóm thợ đá bèn trả lời với một giọng từ tốn:

-Ông samurai ơi, chúng tôi nào dám có ý đồ gì khác. Khi đường hầm vừa thông được với bên kia dù chỉ mới một phân hay một tấc, ông đã có thể đến lấy tính mạng của thầy Ryôkai ngay tại chỗ. Trong khi chờ đợi, xin ông cứ nghỉ ngơi thoải mái  quanh đây cho chúng tôi nhờ.

Thấy cuộc giằng co đã được giải quyết êm thắm, và có lẽ sợ lãng phí  thời gian làm việc, Ichikurô liền xoay người bò vào trong hang.

Jitsunosuke hãy còn căm tức là trong lúc mình sắp sửa ra tay thì bị kỳ đà cản mũi nên vẫn chưa đạt thành ý nguyện. Tuy nhiên cậu cũng ráng làm đủ cách để dằn cơn giận xuống. Thế rồi, nhờ sự chỉ dẫn của một người thợ đá, cậu đã vào  trú trong một túp lều con bằng ván. Bây giờ ngồi một mình suy nghĩ, cậu thấy việc kẻ thù đã hiện ra trước mắt mà không làm gì được hắn đã khiến cậu cảm thấy như kẻ đánh mất mục đích, trong lòng không có gì ngoại sự tiếc nuối. Rồi không biết lúc nào, cơn giận dữ trước đây bùng lên lần nữa và lòng bao dung đối với kẻ thù lại biến mất. Cậu bèn lấy  quyết định là đêm nay sẽ lẻn vào trong động để thanh toán Ichikurô một lần cho trót. Tuy nhiên, nếu Jitsunosuke rình rập Ichikurô thì cùng lúc, những người thợ đá cũng đang theo dõi động tĩnh của Jitsunosuke.

Hai ba hôm đầu, mọi sự chỉ là dự tính và trôi qua trong trạng thái vô vi nhưng đến buổi tối ngày thứ năm, vì không thấy gì xảy ra, bọn thợ đá lo việc canh phòng đã bắt đầu mất cảnh giác. Đến khoảng đầu giờ Sửu (hai giờ sáng) thì một số trong bọn đã buồn ngủ đến díp mắt. Jitsunosuke mới nghĩ rằng đêm nay là lúc có thể hành sự. Cậu bèn bật tung người dậy, với tay lấy thanh kiếm ở đầu nằm và lặng lẽ bước ra bên ngoài lều. Đó là một đêm đầu tiết xuân, ánh trăng trong vắt. Dưới vầng trăng khuya, dòngYamakini .màu xanh lục vẫn chảy về xuôi với đôi chỗ có vũng nước xoáy.Thế nhưng Jitsunosuke vẫn tỏ ra vô cảm với cảnh vật chung quanh vì đang tập trung tinh thần để rón rén tiến đến gần cửa hang . Lúc đang bước, có lúc chân cậu nhói đau vì va phải những phiến đá vụn đang bày ra  la liệt trên mặt đất.

Bên trong đường hầm, dưới ánh trăng từ cửa hang chiếu vào và nhờ ở một số cửa sổ được trổ ra để tiếp lấy ánh sáng, nên đôi chỗ cũng lấp lánh trắng. Cậu đưa tay sờ lên bức vách đá nằm bên tay phải và lần mò bước, mỗi lúc càng đi  sâu vào bên trong.

Từ cửa hang vào độ khoảng hai “chô” (2x 109 m), cậu chợt nghe từ phía đáy của đường hầm  những tiếng lách ca lách cách vọng đến tai mình từng đợt một . Lúc đầu cậu không hiểu đó là tiếng gì nhưng càng lần bước vào phía trong, tiếng động ấy nghe càng to ra và cuối cùng, âm hưởng của nó còn vang rền vào hai bên vách hầm giữa bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya.  Đúng là tiếng chùy sắt (tettsui) đập mạnh vào thành đá chứ không thể là tiếng gì khác.. Jitsunosuke cảm thấy tiếng chùy bi tráng này như đập cả vào lồng ngực và khiến cho mình rúng động . Dần dần, khi càng đi vào sâu hơn nữa, cậu còn nghe có những tiếng đập thật sắc nhọn như tiếng ai đang cố đập cho nát những viên ngọc. Nó đã lan ra suốt một dãy đường hầm, tấn công mạnh mẽ vào màng nhĩ của Jitsunosuke.  Cậu bèn nương theo tiếng động đó và di chuyển lại gần. Tiếng chùy này tất đến từ Ryôkai, kẻ thù của cậu, chứ không ai khác. Cậu bèn thấm ướt chỗ tháo kiếm ra khỏi vỏ và nén thở để tiến sát hơn nữa. Chợt lúc đó, như để chấm câu cho những nhát chùy, Ryôkai đã tụng kinh nhưng qua những âm thanh đó, Jitsunosuke lại nghe như ông ta đang muốn thì thầm với ai. Tuy vậy, âm thanh khàn khàn nhưng bi tráng kia lại giống như những giọt nước mát đang tưới xuống lòng cậu. Trong đêm đã về khuya, không một bóng người, thảo mộc đều đã ngủ im lìm, hình dáng của nhà sư Ryôkai, ngồi  ngay ngắn trong bóng đêm như mực, tay không ngừng  bổ xuống những nhát chùy, đã ánh lên rờ rỡ trong tâm nhãn của Jitsunosuke. Làm như kẻ hiện ra trước mặt cậu không còn là con người tầm thường mà là một vị bồ tát đã vượt lên trên mọi tình cảm hỉ, nộ, ai, lạc và có một cái tâm dũng mãnh tinh tiến. Jitsunosuke cảm thấy bàn tay đang nắm chuôi kiếm của mình không biết vì đâu chợt lỏng ra. Rồi cậu  chợt  hoàn hồn và suy nghĩ. Cớ sao đối với một vị cao đức có Phật tâm, chịu nếm trải mọi thứ tân khổ, hy sinh cả bản thân để cứu độ chúng sinh mà mình lại có hành động ám toán, đâm chùng đánh lén giữa đêm khuya? Nhìn lại bản thân thì khi vung lưỡi kiếm uất hận kia lên, không khéo mình đã trở thành một loài cầm thú?  Nghĩ đến đó, cậu liền cảm thấy một luồng khí lạnh vừa chạy qua người.

Tiếng chùy mạnh mẽ làm rung chuyển cả hang động lẫn tiếng niệm Phật bi tráng đã làm cho trái tim cố chấp của Jitsunosuke tan ra từng mảnh.Cậu chỉ còn có cách đợi đến ngày công sự hoàn thành để đạt được chí nguyện phục thù.

Jitsunosuke mang tấm lòng cảm kích sâu xa ấy, nhìn theo ánh trăng thanh và bò ra bên ngoài cửa hang mà về. 

*** 

Sau khi câu chuyện nói trên xảy ra được một ít lâu, trong số những người thợ đá ra vào cửa hang, người ta thấy cả cái dáng dấp con nhà võ của Jitsunosuke. Trong lòng cậu ta không còn có những ý nghĩ âm hiểm như cái hôm nửa đêm lẻn vào trong hang định ám sát nhà sư già rồi rút lui.  Cậu biết rằng Ryôkai không hề có ý định bỏ trốn cho nên cứ nhẩn nha đợi ngày đại nguyện của nhà sư ấy đạt thành.

Tuy nhiên cậu lại không có ý định chờ đợi không khống. Cậu thừa biết nếu mình giúp được một tay cho việc đào hầm thì kỳ hạn phục thù sẽ ngắn đi. Cho nên cậu bắt đầu gia nhập đội ngũ thợ đá và cùng vung chùy với họ.

Hai kẻ địch  sắp hàng bên nhau và cùng ra sức giáng những  đường chùy vào vách đá.  Phần Jitsunosuke thì mong  ngày đại nguyện của nhà sư mau đến nên dốc toàn lực, còn Ryôkai từ lúc gặp lại cậu chủ trẻ và  cũng là kẻ địch, đã mong mình sớm thông hầm cho cậu mau làm tròn chữ hiếu nên đã tinh tiến, vung mạnh tay chùy phá núi như một gã điên.

Trong khi đó, hết con trăng này tới con trăng nọ, cái tâm dũng mãnh của Ichikurô đã hoàn toàn lung lạc trái tim của Jitsunosuke.Trước cái sự nghiệp thông hầm vĩ đại, dường như cậu đã quên đi mối hận giết cha.

Đám thợ đá cũng vậy,  giữa đêm khuya, đáng lẽ là lúc phải nghi ngơi  cho hết cái nhọc mệt ban ngày, cũng dàn hàng bên nhau, không nói năng gì, cứ thế mà lặng lẽ vung chùy.

Như thế, kể từ ngày nhà sư Ryôkai bổ nhát chùy đầu tiên để khai thông đường hầm Hida   cho đến nay, đã được hai mươi mốt năm rồi, và kể từ ngày Jitsunosuke đến nơi đây tìm kiếm ông cũng đã một năm sáu tháng. Nó đúng vào đêm  mồng mười tháng chín năm Diên Hưởng thứ ba (Enkyô 3, 1746). Đêm đó, bọn thợ đá đều rút về lều để nghỉ ngơi, chỉ còn mỗi Ichikurô và Jitsunosuke là không quản mệt nhọc lúc ban ngày, vẫn tiếp tục làm việc tiếp. Gần đến khắc thứ 9 (12 giờ đêm), một nhát chùy mà Ichikurô dồn hết sức lực để quật vào vách đá đã bật lại như thể nó vừa  đập vào một thanh gỗ mục  không sức đề kháng. Lúc Ichikurô đưa bàn tay phải cầm chùy sờ vào bức vách, miệng ông chợt  thốt lên một tiếng “Aaaaa!”. Cũng chính vào thời điểm đó, đôi mắt già nua của nhà sư đã nhìn thấy một vệt ánh sáng mơ hồ chiếu vào trong đường hầm. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là ánh trăng trong trẻo phản chiếu từ mặt nước con sông Yamakuni từ bên ngoài đã chui qua cái lỗ nhỏ vừa bị cây chùy sắt phá vỡ, vào đến nơi đây. Ryôkai lại  “Ôôôô!” thêm một  tiếng nữa như muốn đáp lại cái rúng động ông vừa cảm thấy từ bên trong thân thế. Liền sau đó chỉ còn  mỗi chuỗi khóc cười thể hiện một sự hoan hỉ cuồng nhiệt, tưởng chừng có thể làm  rung rinh vách đá.

Ichikurô bèn đưa tay nắm lấy bàn tay của kẻ thù, vừa chỉ cho cậu thấy hình ảnh dòng sông Yamakuni đang chảy ở bên kia cái lỗ hổng nhỏ vừa tâm sự:

-Cậu Jitsunosuke ạ! Hãy nhìn mà xem! Đêm nay, lời đại thệ nguyện vô biên mà tôi mang theo suốt hai mươi mốt năm trời rốt cuộc đã trở thành sự thật

Nhìn xuống bên dưới dòng sông nơi có một dải đất đen kịt, họ mới thấy bờ sông và con đường cái quan chạy men theo nó đã hiện ra rõ rệt. Hai kẻ địch lúc ấy đã nắm lấy tay nhau và những giọt lệ nóng hổi vui mừng đã chen trong tiếng nấc.

Được một lúc bỗng Ryôkai lui người ra phía sau:

-Cậu chủ ạ! Giờ giao ước đã điểm.Xin hãy chém tôi đi. Nay được vãng sinh trong niềm vui của Phật pháp thì thế nào linh hồn tôi sẽ sinh về nơi Tĩnh Thổ cực lạc. Xin cậu chém tôi ngay bây giờ! Nếu đợi sáng ra, các chú thợ đá sẽ ngăn trở cậu. Xin cậu chém ngay cho!

Trong bầu không khí tĩnh mịch của trời đêm, cái giọng khàn khàn của nhà sư già dội lại từ hai bên vách đá. Thế nhưng Jitsunosuke vẫn ngồi khoanh tay trước mặt ông, thổn thức trong nước mắt. Nhìn khuôn mặt đầm đìa những giọt lệ hoan hỉ đến từ đáy lòng của lão tăng, cậu không còn nghĩ rằng đây là kẻ đại cừu mà cậu từng muốn đoạt mạng. Cậu không còn nghĩ về mối thù nhà, có chăng là niềm vui  thành tựu một sự nghiệp vĩ đại mà những cánh tay nhỏ bé, yếu ớt của con người đã chung sức thực hiện giữa khoảng trời đất này. Trong lòng cậu giờ đây chỉ đầy ắp một sự ngạc nhiên và cảm kích.. Cậu bèn ngồi vào sát hơn và nắm lấy bàn tay của lão tăng thêm một lần nữa. Thế rồi hai người hầu như quên đi tất cả và cứ để cho dòng lệ cảm kích cùng tuôn trào.

 

Dịch ngày 18 tháng 9 năm 2024

 

Văn bản:

-Kikuchi Kan, Onshu no kanata ni (Bên kia bờ ân oán), trong tuyển tập bỏ túi “Tôjuurô no koi. Onshu no kanata ni (Mối tình của kép hát Tôjuurô, Bên kia bờ ân oán) do công ty Shinchô xuất bản lần đầu năm 1970. Đã tái bản lần thứ 53 năm 2005, Tokyo. 

Bên lề tác phẩm:

Trên đây là một tác phẩm thông tục mẫu mực của một cây bút văn chương thông tục (văn chương bình dân) cự phách là nhà văn Kikuchi Kan (1888-1948). Loại tiểu thuyết này có mục đích mua vui và khuyến thiện trừng ác trong truyền thống văn chương Gesaku (Hí tác) của thời Edo, vốn chứa đựng nhiều chi tiết với một lối hành văn không kém phần hấp dẫn. ”Trân Châu phu nhân” (Shinjuu Fujin, 1920) nói về cuộc đời tình ái gian truân và tấm lòng chung thủy của một mỹ nhân Nhật Bản là một thành công lớn của ông trong lãnh vực này.

Văn chương thông tục tuy có mục đích nhắm vào các độc giả bình dân nhưng cũng đề cập tới một triết lý sống nhân bản. Ở đây là sự dẹp mọi oán thù, giết chóc (mà biểu tượng phong tục katakiuchi,(vendetta) quá lỗi thời) để cùng nhau xây đắp những công trình chung có ích cho mọi người.

Theo các nhà chú dẫn thì “Bên kia bờ ân oán” đã lấy cảm hứng từ truyền thuyết về  một nhà sư đã khai thông con đường hầm Yabakei (Da Mã Khê) thuộc tỉnh Oita trên đảo Kyushyu.

 


[1] Có lẽ thông tin này thiếu chính xác vì việc đường hầm hoàn thành vốn là việc đến sau lại xảy ra trưc đó nghĩa là vào năm Diên Hưởng thứ ba (1746). Theo các nhà chú dẫn, có lẽ đây là một ngộ nhận của Kikuchi Kan.

[2] Kihachijô : áo bng la màu vàng (Ki), sn phm có tiếng ca vùng đo Hachijô, ngoài khơi Edo.

[3] Đon văn này Kikuchi Kan viết theo phong cách bin ngu Michiyukibun (Văn t cnh đi đưng) ca các tác gi gesaku (hí tác) ph biến sut thi Edo và đu đi Meiji.

[4] Theo duđi lc (Vong dương chi thán). Ch sách Lit T ý nói “bi ri, không biết phi làm cách nào”

[5] Yagyuu (Liu Sinh), tên kiếm phái ly lng ca Nht Bn, nhiu đi làm thy dy kiếm cho các Shôgun nhà Tokugawa.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com