|
TUỒNG NÔ CỦA ZEAMI
ATSUMORI
(ĐÔN THỊNH)
Nguyên tác: Zeami Motokiyo
Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

Taira no Atsumori (tranh minh
họa)
Dẫn
nhập:
Nhân vật
Atsumori tượng trưng cho số phận bi đát của con người yêu ḥa b́nh
nhưng vẫn phải chết v́ một cuộc chiến tranh mà ḿnh không có quyền
chọn lựa. Chủ đề này đă được lồng khung trong một vở tuồng bất hủ,
nhờ tài năng của soạn giả Zeami và sự nối kết văn bản giữa ḍng văn
học chiến kư (Truyện Heike) với sân khấu Nô qua trung gian của triết
lư nhà Phật.
Về tác
giả:
Zeami
Motokiyo (Thế A Di, Nguyên Thanh, 1363-1443) được xem như soạn giả
lừng lẫy nhất trong lịch sử tuồng Nô. Ông là đích tử được chỉ định
để nối nghiệp Kan.ami Kiyotsugu (Quan A Di Thanh Thứ, 1333-1384),
người khai sáng chi lưu Nô gọi là Kanze (Quan Thế, kết hợp tên của
hai cha con) (1). Năm 1374, mới 12 tuổi, ông đă theo cha đi
tŕnh diễn. Tài mạo của hai người lọt vào mắt xanh của Shôgun họ
Ashikaga là Yoshimitsu (Nghĩa Măn, tại vị 1368-1394), nhà lănh đạo
đầy quyền lực đương thời và cũng là người đỡ đầu cho các ngành nghệ
thuật. Khi đến tuổi trưởng thành, Zeami đă tập đại thành một kiểu Nô
gọi là Kabu Yuugen Nô (Ca vũ u huyền) (2). Ông viết rất đều
tay và có thể nói 1/3 các vở Nô c̣n đang lưu hành là đều do một tay
ông (sáng tác hay cải biên). Ông đẹp trai, múa đẹp, có kiến thức sâu
rộng về văn chương, kịch nghệ, giỏi ca từ, sành nhạc lư và trên hết,
đă viết ra nhiều truyền thư nói về lư luận mỹ học Nô. Trong số đó,
đáng kể nhất là Fuushi Kaden (Phong tư hoa truyền) và Kakyô (Hoa
kính). Khi Shôgun Yoshinori (Nghĩa Giáo, tại vị 1429-1441) lên nắm
chính quyền, không chuộng Nô của ông và thay vào đó, ái mộ lối diễn
xuất của On.nami (Âm A Di) tức Kanze Motoshige (Nguyên Trọng,
1398-1467) - cháu gọi ông bằng bác ruột - nên đâm ra lạnh nhạt với
ông và con trai. Người con của ông, Motomasa (Nguyên Nhă, ? –
1432), một tài năng sáng giá mà ông đặt nhiều kỳ vọng, lại qua đời
quá sớm khi mới ở ngoài cái tuổi 30. Cuối đời, Zeami – có lẽ v́ làm
phật ư lănh đạo - c̣n bị lưu đày ra đảo Sado, một vùng hoang dă đầy
sóng gió nh́n ra biển Nhật Bản và sau đó không c̣n ai biết đến tin
tức ông nữa.
(1)
Các soạn giả tuồng Nô thường lấy tên hiệu bằng đạo hiệu nhà Phật
(như A Di) có lẽ v́ ảnh hưởng lớn lao của Phật giáo đối với sân khấu
Nô.
(2)
Yuugen (U huyền) là một thuật ngữ Thiền tông. Nó ám chỉ phần nằm
ch́m bên dưới (ẩn dụ, gợi ư) chứ không phải là những cái ǵ thuộc
ngoại h́nh (bên trên) mà giác quan chúng ta dễ dàng nắm bắt. Yuugen
Nô (Nô u huyền) c̣n có thể gọi là Mugen Nô (Nô mộng huyễn).
Về xuất
xứ bản tuồng:
Atsumori
của Zeami được xếp vào loại Shuramono (Tu la vật) tức tuồng miêu tả
địa ngục chiến tranh v́ Shura (Tu la), lược xưng của Ashura là chữ
nhà Phật để nói về cảnh tượng chém giết không ngơi nghỉ dưới địa
ngục. Bối cảnh thời gian là mùa thu (tháng 8 âm lịch) và không gian
là khu vực Ichinotani – Suma (trong một vùng xưa kia có tên là Tsu
no kuni), ngày nay nằm gần Kobe. Có lẽ là vào tháng hai âm lịch,giữa
mùa xuân năm 1192, tám năm sau tấn bi kịch ở Ichinotani (7-11-1184).
Theo
Arthur Waley, gốc gác của vở tuồng nằm ở chương 9 Truyện Heike
(Heike Monogatari) ra đời khoảng đầu thế kỷ 13, tiểu đoạn nói về cái
chết của viên tướng trẻ Taira no Atsumori, lúc đó mới 16 tuổi (1).
Truyện
bắt đầu như sau:
Vào thời
trung cổ Nhật Bản (thế kỷ11), hai tập đoàn vũ sĩ là họ Taira (c̣n
gọi là Heike) và Minamoto (hay Genji) tiếp tục đối kháng bằng vũ lực
để nắm lấy quyền hành. Năm 1181, Kiyomori - thủ lĩnh họ Taira - chết
và kể từ đó, vận hội của tập đoàn đi đến chỗ suy vong. Năm 1183,
cánh nhà Taira buộc ḷng phải tháo chạy khỏi kinh đô (Kyôto), mang
theo cả ấu chúa là Thiên hoàng Antoku (An Đức, 1178-1185), ḥn máu
của gia đ́nh (v́ Taira là ngoại thích). Sau bao nhiêu gian khổ, trôi
dạt, họ đến được vùng biển Suma, nơi đoàn chiến thuyền đang có mặt
để sẵn sàng bảo vệ những kẻ vừa thoát nạn.
Thế
nhưng, đầu năm 1184, tập đoàn vũ sĩ tân hưng Minamoto – kẻ thù đang
tranh thiên hạ với họ - tấn công và hầu như tiêu diệt cánh Taira
trong trận Ichinotani, gần khu rừng Ikuta. Trong trận này, họ Taira
mất nhiều binh tướng, kể cả hai chàng thiếu niên tài hoa phong nhă.
Đó là Atsumori (thiện nghệ thổi tiêu), cháu gọi Kiyomori bằng
bác, và người anh em của cậu là Tsunemasa (danh thủ đàn t́ bà).
Khi một
samurai thiện chiến thuộc binh đoàn Minamoto là Kumagai giết được
Atsumori, ông cúi xuống nh́n xác kẻ địch và nhận ra bên cạnh cậu có
một cái ống tiêu bằng trúc đựng trong bọc gấm. Ông bèn đoạt lấy và
đem về cho con trai của ḿnh...
Nói về
băi biển Suma - bối cảnh của tấn bi kịch - th́ trước đó nó đă được
biết như một địa danh nổi tiếng trong văn chương. Nơi này từng in
dấu chân lưu đày của một nhân vật tiểu thuyết là ông hoàng Genji
(Hikaru), và cũng là nơi một ông hoàng khác, Ariwara Yukihira
(818-893, người anh của vương tử đa t́nh Narihira thời Heian) sống
đời ẩn dật.
(1)
Theo Armen Godel th́ tiểu đoạn về Atsumori trong Truyện Heike quá
đơn sơ và đồng ư với Noel Peri khi cho rằng Zeami phần lớn đă dựa
vào truyện kư về Atsumori trong Genpei Jôsuiki (Nguyên B́nh thịnh
suy kư), một dị bản không mấy xuất sắc của nó.
Phối vai:
Waki:
Nhà sư Rensei (tức Kumagai sau khi xuất gia).
Maejite:
Chàng tuổi trẻ cắt cỏ (hóa thân của Atsumori).
Shite
tsure: Ba người cắt cỏ trẻ tuổi.
Ai
Kyôgen: Một thường dân ở vùng Suma.
Nochijite: Hồn ma của Atsumori.
Nhắc lại
một số thuật ngữ tuồng Nô liên hệ đến vở này:
Ageuta
(Thượng
ca):
Điệu hát với cung bậc cao, dùng vào những lúc như giới thiệu vai
chính (Shite)..
Sageuta
(Hạ
ca):
Điệu hát với cung bậc trung b́nh hay thấp.
Butai:
(Vũ
đài)
Sân khấu tŕnh diễn, múa hát. Thường là một sân khấu cao đặt trước
sân đền chùa hay băi cỏ, bằng gỗ, bốn cạnh vuông vức.
Hashigakari:
(Kiều
quải)
Hành lang giống như chiếc cầu bắc từ buồng tṛ dẫn đến sân khấu, nơi
các diễn viên bước ra.
Kagami-ita:
(Cảnh
phản / Kính phản)
Tấm phông trên sân khấu, đặt sâu vào trong, trên đó có một vây tùng
già (Oimatsu) tượng trưng cho thời gian trường cửu.
Kiridoguchi:
(Thiết hộ khẩu)
Cửa hông, lối ra vào của nhạc công hay ban hợp xướng. Nó nằm bên tay
phải khi từ vị trí khán giả nh́n vào, đối diện với lối ra vào từ tay
trái của diễn viên (Hashigakari).
Waki:
(Hiệp)
Cái nách, bên sườn tức Vai phụ. Có nhiệm vụ dẫn đường, sẽ giải thích
lư do vai chính (shite) bước ra sân khấu. Tuy nhiên, trong một số
tuồng Nô, vai phụ có khi lại quan trọng hơn vai chính. Vai Waki
trong vở Atsumori là nhà sư Rensei (Liên Sinh) tức người samurai đất
Musashi trong binh đoàn Minamoto tên Kumagai no Jirô Naozane trước
kia, nay xuất gia v́ hối hận việc ḿnh làm.
Shite:
(Vi thủ)
Người
hành động tức Vai chánh. Có hai loại Shite: một cho phần đầu, một
cho phần sau. Vai chánh phần đầu (maejite) là gă con trai cắt cỏ
(kusagari) vong hồn của Atsumori, viên tướng trẻ tài hoa nhà Taira
bị chết dưới bàn tay của Kumagai. Vai chánh phần sau (nochijite) là
Atsumori lúc chàng đă giác ngộ Phật đạo.
Tsure:
(Liên)
Tùy
tùng. Mỗi Waki hay Shite có tùy tùng riêng. Tuy nhiên, có khi các
vai này không cần đến họ.C̣n khi dùng tới, họ có thể lên đến mười
hay mười hai người. Trong vở tuồng này, Atsumori có 3 tùy tùng, đều
là những gă con trai cắt cỏ. Nhà sư Rensei th́ không.
Ai:
(Gián)
Xen kẻ.
Vai phụ chen vào giữa khoảng trống giữa hai màn. Trong Atsumori, họ
là những thường dân sống trong vùng Suma, muốn t́m hiểu về câu
chuyện.
Thường
th́ trong tuồng Nô, các vai đều do đàn ông đóng, ngay cả vai phụ nữ.
Waki phải là một vai đàn ông.
Jiutaiza:
(Địa dao tọa)
Chỗ ban hợp xướng hát các bài gọi là Jiuta (Địa dao). Ban hợp xướng
có từ 8 đến 12 người ngồi thành hàng hai bên lề sân khấu. Nhiệm vụ
là hát ca từ của các vai khi họ đang bận múa để giúp họ được thong
thả trong động tác.
Shidai:
(Thứ
đệ)
Khúc hát giáo đầu để giới thiệu vai diễn phụ gọi là Waki lúc
bước vào sân khấu, nêu lên lư do người ấy xuất hiện và về địa điểm
đang xảy ra câu chuyện.
Atoza:
(Hậu tọa)
Chỗ ngồi
của giàn nhạc: Giàn nhạc ngồi sâu trên sân khấu đằng trước chỗ có
cây tùng già. Nhạc cụ gồm trống lớn, trống con và ống tiêu. Trống
lớn được đánh bằng dùi nhưng không phải trong vở tuồng nào cũng có.
Trống con đánh bằng những ngón tay chụm vào. Ống tiêu chỉ được sử
dụng trong những khoảng trống đặc biệt ví dụ như lúc tuồng mới bắt
đầu, các chỗ gay cấn hay ở cuối vở.
Mai:
(Vũ)
tức điệu múa. Hầu như mọi vở tuồng đều có những vũ khúc. Có nhiều
loại vũ nhưng vũ ở đây gồm những động tác rời rạc và chậm chạp,
trịnh trọng, không linh hoạt như vũ Âu Mỹ. Shite có năm động tác
chính trong khi các vai phụ chỉ có ba. Trong khi vũ hay lúc làm điệu
bộ mà không nói năng (monomane), những cái dậm chân đóng một vai tṛ
quan trọng.
Men:
(Diện)
Mặt
nạ.Thông thường Shite (vai chánh) và tùy tùng của vai này là những
người mang mặt nạ).Khi đóng vai đàn bà hay người già, Shite luôn
luôn đeo mặt nạ. Người trẻ - đặc biệt là vũ sĩ – th́ không đeo, vai
trẻ con cũng vậy.Trong Atsumori, lớp đầu Shite để mặt mộc (Hitamen)
nhưng trong lớp sau th́ mang mặt nạ gọi là Juuroku (Thập lục) ư nói
vai chánh đă trở về với cái tuổi 16 lúc chết của ḿnh.
Dôgu:
(Đạo
cụ)
Vật dụng để tŕnh diễn. Đồ dùng trong tuồng Nô đều có tính cách
tượng trưng cao. Cung điện, nhà cửa, cḥi tranh vv..chỉ là bốn cái
trụ và một cái mái. Giường ngủ, bàn ghế chẳng qua là một cái bục
trơn. Quạt chẳng hạn c̣n dùng để làm đao kiếm hoặc bút viết vv...
Jôza
(Thường tọa):
Chỗ ngồi qui định của Shite (vai chánh) ở phía tả trên sân khấu (khi
nh́n từ phía khán giả) để trở về nghỉ sau một động tác tŕnh diễn.
Yôkyoku:
(Dao khúc)
tức ca
từ tuồng Nô. Một phần được viết bằng văn xuôi, một phần bằng thơ, có
thể hát được. Diêm dúa, đẽo gọt, liên kết với nhiều điển cố và nặng
về từ hoa (luyến láy, gợi ư và sử dụng các h́nh thức chơi chữ), nói
chung là rất ư nhị, dựa trên khả năng liên tưởng của người xem
thường là phải có kiến thức. Do đó, khán giả của Nô rất chọn lọc.
Đáng lẽ nhiều chỗ phải được dịch ra thơ nhưng lần này v́ chủ đích
nhắm vào ư nghĩa (bóng và đen) nghĩa là học thuật chứ không phải văn
chương nên dịch giả xin phép chỉ dịch ra văn xuôi.
Bản
tuồng (cùng với lời giải thích in nghiêng)
Tiếng
nhạc nổi lên mở đầu vở tuồng. Thầy tăng vân du Rensei (có sách phiên
âm là Renshô) bước ra và hát khúc Shidai để xưng danh tánh (nanori),
làm bộ tịch như một người đi đường đă đến được nơi ḿnh muốn. Số là
Kumagai v́ hối hận về hành động tàn nhẫn của ḿnh trong thời chiến
nên đă xuống tóc đi tu và nay t́m đến vùng Ichinotani – chiến trường
xưa – để cầu siêu cho vong hồn một nạn nhân nổi tiếng của ông là
Atsumori.
Rensei
(vai Waki, hát khúc Shidai giáo đầu):
Ta giật ḿnh khi hiểu ra cơi đời này chỉ là mộng ảo. V́ biết đời là
mộng ảo nên mới xuất gia. Thế nhưng nay th́ việc lánh đời của ta
không phải mộng ảo mà là một hiện thực.
Rensei
(xưng danh, nanori):
Ta vốn người đất Musashi, con thứ (Jirô) nhà Kumagai tên là Naozane,
sau khi xuất gia lấy đạo hiệu là Rensei (Liên
sinh: sinh ra trên ṭa sen).
Bởi chưng trước đây trong trận Ichinotani, có kẻ địch tên Atsumori
đă chết dưới bàn tay của ta nên ta mới phải khoác tấm áo nhà tu này.
Nghĩ lại chuyện xưa ta quá đỗi thương tâm nên lần này trở lại chiến
trường Ichinotani để cầu siêu cho người bạc phước.
Rensei
(hát):
Như vầng trăng lộ ra từ chỗ ngụ trong mây (vân cư), ta ra đi từ chốn
kinh đô cao xa vời vợi (cửu trùng). Vầng trăng trôi về phương Nam
nên ta cũng nhắm hướng Nam. Cchiếc xe nhỏ của ta (1) vượt qua
các vùng Yodo và Yamazaki, đi ngang bờ hồ Koya và sông Ikutagawa rồi
đặt chân lên đất Ichinotani, một nơi nghe được tiếng sóng vỗ từ băi
biển Suma (2).
Rensei
: Chân bước gấp nên giờ đây đă đến được Ichinotani trong xứ Tsu.
Chuyện xưa rồi mà ta vẫn nhớ rơ như vừa xảy ra hôm nay. Này, có nghe
chăng, từ ngọn đồi xa dường vọng lại tiếng tiêu véo von của bọn
người cắt cỏ (3). Hay là ta cứ đợi họ ở đây để hỏi thăm cặn
kẽ về vùng đất này xem.
Theo
tiếng nhạc Shidai đưa đường, bọn người cắt cỏ (tức vai maejite và 3
tsure của chàng) vừa thổi tiêu vừa tiến ra sân khấu, người đi cuối
cùng trên lưng mang gùi chất đầy hoa và cỏ khô. Họ kể lể nỗi niềm.
Tùy tùng
(vai
tsure)
của chàng trai cắt cỏ
(đồng ca):
Không có giọng hát nào ḥa theo tiếng tiêu của bọn con trai cắt cỏ
(kusagari otoko) (4). Chỉ là làn gió thổi qua đồng rộng nghe
như tiếng thở dài.
Chàng
trai cắt cỏ
(vai maejite):
Những chàng trai cắt cỏ trên ngọn đồi kia đang vẹt lối trên đồng để
trở lại nhà v́ nắng chiều đă tắt.
Tùy tùng
(tsure, đồng ca):
Ngắn ngủi thay là con đường chúng ta đi từ băi Suma về đến nhà ḿnh.
Nó chỉ là con đường hẹp của những người đồng chung cảnh ngộ. Hết lên
đồi rồi xuống lũng, từ băi biển lại lên đồi. Làm măi công việc cắt
cỏ này như đeo theo cái Nghiệp (nariwai) của ḿnh, biết bao giờ mới
dứt.
Tùy
tùng:
Nếu ai có hỏi, ta cũng sẽ thưa. Rằng trên băi Suma, ta sống
đời cô quạnh. (5)
Tùy tùng:
Trên băi biển Suma. Cào rong rang lấy muối. Nếu ai muốn hỏi tên, ta
sẽ cho người biết. Xưa ta có bạn bè nhưng từ khi lâm khổ nạn, những
người thân thiết nhất cũng ngoảnh mặt làm ngơ (6). Nên giờ
đây ta phải sống vật vờ với bao niềm cay đắng.
Rensei
ướm lời hỏi chuyện những chàng trai cắt cỏ. Khi ông nhẹ nhàng nhận
xét rằng người đi cắt cỏ mà lại thổi tiêu th́ không hợp lư, họ đă
dựa vào câu “tiều ca mục địch” để giải thích rằng điều đó không đáng
làm lạ chút nào. Rensei (vai Waki) bèn ngồi xuống và trao đổi câu
chuyện với những người cắt cỏ. Xong, khi hợp xướng (Jiutai) nổi lên,
Chàng trai cắt cỏ (vai maejite) đi ṿng quanh sân khấu trong khi các
tùy tùng (tsure) của chàng theo cửa hông (kiridoguchi) mà vào buồng
tṛ.
Rensei:
Hỡi mấy chàng cắt cỏ, cho ta hỏi đôi lời!
Chàng
trai cắt cỏ:
Thầy muốn ngỏ lời với chúng tôi sao? Chẳng hay thầy muốn t́m hiểu
điều chi vậy?
Rensei:
Có phải một người trong các bạn vừa mới thổi tiêu đấy không?
Chàng
trai cắt cỏ:
Đúng vậy, chính chúng tôi vừa thổi.
Rensei:
Tiếng tiêu thánh thót quá đi thôi. Lại c̣n thi vị hơn nữa v́ không
ngờ những người thân phận cỡ các bạn mà có cái thú phong lưu tao nhă
như thế.
Chàng
trai cắt cỏ:
Thầy cho rằng thổi tiêu là hành động không hợp với những kẻ thân
phận thấp hèn ư ? Chả lẽ thầy chưa từng nghe câu: “Không ganh tị
người trên. Không khinh thường kẻ dưới” hay sao chứ?
Tùy
tùng:
Huống chi lại có chữ “tiều ca mục địch” (tiếng hát của gă tiều phu,
tiếng tiêu của đứa mục đồng). (7)
Tùy tùng:
Hoặc là “tiếng tiêu của người cắt cỏ, lời ca của gă tiều phu”...
Tùy
tùng:
Bao nhiêu nhà thơ đă ngâm vịnh như thế rồi và mọi người đều biết cả.
Vậy nên xin thầy đừng làm lạ khi nghe chúng tôi thổi tiêu.
Rensei:
Ta quả có sai lầm. Nhờ các bạn, nay ta mới biết đến mấy chữ “tiều ca
mục địch”.
Chàng
trai cắt cỏ:
Tiếng tiêu người cắt cỏ...
Rensei:
Khúc hát gă tiều phu...
Chàng
trai cắt cỏ:
Đă d́u dắt chúng ta đi qua cuộc đời ảm đạm.
Rensei:
Tiếng hát...
Chàng
trai cắt cỏ:
Và điệu múa...
Rensei:
Cùng giọng tiêu...
Chàng
trai cắt cỏ:
Cũng như tṛ diễn tấu ...
Hợp
xướng:
Mỗi người chọn một món để giải khuây theo ư ḿnh từ những lóng trúc
tấp vào bờ (yoritake). Bao nhiêu loại tiêu đă được chế ra. Nào là
Saeda (Tiểu Chi), nào là Semiore (Thiền Chiết)...Loại tiêu người cắt
cỏ dùng được gọi là Aoba (Thanh Diệp). C̣n như trên băi biển
Sumiyoshi, người ta chơi thần nhạc (kagura) bằng tiêu Komabue (Cao
Lệ địch). Riêng dân chài vùng Suma này th́ thổi loại tiêu Shioki
(Diêm Mộc) vốn đă được thui cháy một đầu bằng lửa ḷ rang muối.
(8)
Thấy bọn
người cắt cỏ đă ra về mà mỗi chàng trai vẫn đứng tần ngần, Rensei
mới hỏi lư do. Chàng trai nói bóng gió xa gần để tự tiết lộ ḿnh là
Atsumori và xin nhà sư niệm Phật để hồi hướng cho rồi sau đó bèn
biến mất.
Rensei:
Thật là kỳ lạ! Đám người cắt cỏ đă về tất cả, sao chỉ có chàng c̣n
luẩn quẩn nơi đây?
Chàng
trai cắt cỏ:
Thầy hỏi “tại sao ta c̣n ở lại” à? Ta đang đi t́m một tiếng tụng
kinh giữa lớp sóng chiều. Thầy có thể nào niệm Phật mười lần (Thập
Niệm) (9) giúp ta không?
(tiến
một bước về phía nhà sư).
Rensei:
Niệm Phật mười lần nào có khó khăn ǵ đối với tôi. Chỉ cần chàng
chịu cho biết quí danh.
Chàng
trai cắt cỏ:
Ta xin thưa thật với thầy. Ta là người có quen biết với Công tử
Atsumori.
Rensei:
Chàng quen biết ông ấy ư? Thật là mừng quá!
Thế rồi
nhà sư chắp hai tay lại, vào chỗ ngồi ở giữa sân khấu, qú xuống
trước mặt chàng trai và bắt đầu niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Rensei
và chàng trai cắt cỏ
(đồng thanh):
Nhược ngă thành Phật thập phương thế giới
niệm Phật chúng sinh
nhiếp thủ bất xả.
(Nếu ta
thành Phật, xin thệ nguyện cứu vớt tất cả chúng sinh mười phương thế
giới. Ta sẽ không bỏ sót một ai từng niệm danh hiệu của ta)
(10)
Hợp
xướng
(hát thay cho chàng trai):
Xin Đức Phật hăy cứu độ cho. Biết rằng chỉ niệm Nam Mô A Di Đà Phật
một lần là đă đủ nhưng xin người hăy tiếp tục niệm danh hiệu ấy mỗi
ngày mỗi đêm. Hạnh phúc thay v́ dù người chưa biết đến tên tuổi của
ta
(chàng
trai cúi mặt xuống)
mà từ
đây sớm chiều sẽ cầu nguyện giúp ta siêu thoát.
Thế rồi,
chàng trai biến đi và không c̣n thấy ǵ nữa.
***
Đến đây
là chỗ ngăn cách giữa hai màn, một vai đệm (Ai) tượng trưng cho
người dân làng sống trong vùng Suma bước ra giữa sân khấu và đóng
một lớp Kyôgen (Cuồng Ngôn). Lúc ấy sẽ có ca từ tŕnh bày về
cái chết của Atsumori, trong đó vai Waki nh́n nhận ḿnh chính là
Kumagai Jirô Naozane. Vai “Ai” sẽ lên tiếng khuyên bảo ông ta phải
cúng dường cho người chết. (Tuy nhiên đoạn này không phải là phần
chính thức của vở tuồng nên chúng tôi mạn phép lược dịch với mục
đích chính là để hiểu thêm về cấu trúc của một vở tuồng Nô mà thôi).

Kumagai sát hại
Atsumori (tranh cổ)
Dân làng
(vai
Ai ngồi ở chỗ Jôza):
Tôi là một thường dân sống bên băi Suma trong xứ Tsu này. Hôm nay
rảnh rổi mới ra đây, ngắm người qua kẻ lại cho đỡ buồn (tiến
ra trước làm bộ như t́m kiếm).
Coi ḱa, có một nhà sư lạ mặt đang đi tới...
Lữ khách
(vai
Waki):
Tôi là một người tu hành đến từ kinh đô. C̣n ông, có phải là người
sống ở vùng này không?
Dân làng:
Thầy đoán không sai. Tôi dân vùng này.
Lữ khách:
Thế à? Vậy xin tới đây cho tôi được hỏi thăm.
Dân làng:
Xin vâng (đến
đằng trước lữ khách và ngồi xuống).
Thầy muốn biết về điều chi vậy?
Lữ
khách:
Dám hỏi ông chứ đây có phải là nơi xưa từng xảy ra trận thư hùng của
hai họ Taira và Minomoto không ạ? Và ông có nghe nói ǵ đến số phận
các chiến tướng nhà Taira, nhất là Công tử Atsumori? Nếu ông biết sự
thực về họ th́ xin kể cho tôi nghe với.
Dân làng:
Không ngờ thầy lại hỏi tôi về chuyện ấy. Bọn dân làng chúng tôi tuy
sống ở trong vùng nhưng không rơ mấy. Dù sao, biết được tới đâu, tôi
sẽ kể cho thầy hay tới đấy.
Lữ
khách:
Thế c̣n ǵ hơn.
Dân
làng:
(Nh́n
ra đằng trước và kể):
Trước tiên là vào mùa thu năm Juei thứ hai, khi kinh đô bị đại tướng
(Minamoto no) Yoshinaka đất Kiso tấn công và thất thủ, cánh nhà
Taira đă chạy thoát được đến đây, đóng quân giữa thung lũng
Ichinotani và khu rừng Ikutanomori này. Họ vốn là những người có thú
vui tao nhă, thường hát các khúc Uta và Renga. Trong khi đó, binh
đoàn Minamoto xuất thân từ miền Đông, gốc săn bắn và chài lưới, chỉ
rành nghề cung mă. Lính miền Đông gồm hơn sáu vạn quân kỵ đă chia
làm hai đạo tả hữu (11) tiến đánh, phá tan quân của họ. Nhà
Taira nhiều người bị giết, số c̣n lại phải lên thuyền đào vong ra
ngoài biển. Kẻ nhanh chân mới thoát thân. Khốn thay, cậu con út của
đại tướng Tsunemori là Công tử Atsumori, tuổi c̣n quá trẻ và chưa có
danh phận (12), tuy được vời xuống thuyền nhưng khi đến bờ
biển th́ mới nhận ra ḿnh bỏ quên ở bản doanh cái ống tiêu gọi là
Saeda (Tiểu Chi), bảo vật cha truyền con nối. Chàng sợ mang tiếng
xấu cho đến cuối đời nếu địch quân nhặt được nó nên phải lui về lấy.
Khi trở lại được mé biển, đoàn thuyền đă đi rồi. Lúc ấy chàng mới
phóng con ngựa mạnh của ḿnh xuống nước những tưởng bơi ra tới
thuyền th́ bị viên vũ tướng người đất Musashi ở miền Đông là Kumagai
Jirô Naozane rượt theo rất gấp v́ ông ta (nh́n trang phục) biết ngay
chàng là một kẻ địch có giá. Ông ta vẫy quạt hô hoán: “Vị nào ḱa,
ngài hèn nhát hay sao mà đưa lưng cho địch thủ? Quày ngựa lại giao
đấu với ta nào!”. V́ mang trong người ḍng máu quí tộc Taira, Công
tử Atsumori không thể làm khác hơn là quay đầu lại để sống mái với
địch. Hai ngựa giao đầu, hai bên tiếp chiến bên bờ nước nhưng
Kumagai là một chiến sĩ lăo luyện trong khi Atsumori chỉ là một
thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi, khó ḷng đương cự nên bị sát hại.
Lúc Kumagai cúi xuống để cắt đầu chàng, ông ta mới nhận ra Atsumori
có đeo theo bên người cái đăy gấm trong đó đựng một ống tiêu
(13). Khi Kumagai đem thủ cấp và ống tiêu này về tŕnh cho viên
đại tướng chỉ huy (Yoshitsune), người chung quanh nh́n thấy nó
không ai cầm được giọt lệ. Riêng Kumagai th́ ḷng hối hận sâu sắc đă
khiến ông bỏ đi tu (14) rồi lên đường t́m dấu vết của
Atsumori để cầu siêu cho linh hồn chàng.
Nếu như
người tên là Kumagai kia hối hận đến mức phải bỏ đi tu th́ không
hiểu tại sao trước kia ông ta đă không tha mạng cho chàng. Ví bằng
lúc đó không thể tha mạng được th́ nay tôi chỉ mong sao người đó hăy
t́m tới băi chiến trường xưa là nơi đây để cầu siêu cho vong hồn của
chàng.
Lữ
khách:
Câu chuyện ông vừa kể thật hết sức thương tâm. Tôi c̣n biết nói chi
hơn. Xin thưa thật với ông, tôi là Kumagai Jirô Naozane, ngày nay đă
xuất gia với pháp danh là Rensei đấy ạ.
Dân làng:
Ôi, thầy làm tôi quá ngỡ ngàng. Xưa kia thầy chính là chiến tướng
Kumagai đấy ư? Xin lỗi thầy, hăy tha thứ cho những lời nhảm nhí mà
đứa quê mùa này đă buột miệng thốt ra.
Lữ
khách:
Ông không cần phải nhún nhường như thế. Ông đă chân thành tŕnh bày
những điều ḿnh nghĩ về Công tử Atsumori cho tôi nghe. Tôi xin cám
ơn ông.Thực ra trước đây, dưới lớp áo thầy tu này, tôi đă gặp được
đám người cắt cỏ và tṛ chuyện với họ. Một người trong bọn nhờ tiểu
tăng tụng Thập Niệm và tiểu tăng cũng đă nhận lời. Sau đó chàng ta
cho tôi hay ḿnh có quen biết với Công tử Atsumori nhưng rồi không
hiểu v́ sao lại chợt biến đi, không thấy bóng dáng đâu nữa.
****

Vẻ đẹp của công tử
Atsumori (tranh minh họa)
Rensei:
Nếu thế, ta sẽ cử hành mọi nghi thức để cầu siêu cho người chết và
niệm Phật cứu độ linh hồn Công tử Atsumori nhé!
Lúc này,
hồn ma Atsumori hiện ra trong trang phục chiến đấu của một vũ tướng
với trường kiếm bên hông và đến đứng ở vị trí chỉ định (Jôza) cho
vai Shite để nói chuyện với vai Waki. Sau đó có tiếng nhạc cùng lời
ca nổi lên, Shite đi ṿng quanh sân khấu và hướng về chỗ cũ của
ḿnh.
Atsumori
(vai
Shite thứ hai tức Nochijite):
Thầy có biết ta chăng? Như người giữ cửa ải Suma, ta đă thức giấc v́
tiếng kêu của bầy chim di (chidori) khi chúng ghé qua băi cạn Awaji.
Nghe đây, thầy Rensei! Ta chính là Atsumori! (15).
Rensei:
Lạ lùng thay! Giữa khi tôi c̣n đang gióng chiêng niệm Phật để làm
pháp sự cho chàng.... Không thể nào ngờ Atsumori lại hiện ra bên
cạnh. Tôi nằm mơ chăng?
Atsumori:
Đâu cần phải mượn đến giấc mơ. Để có thể giải thoát cái nghiệp nhân
quả lúc sinh tiền, ta mới hiện ra lồ lộ cho thầy thấy đây.
Rensei:
Không phải từng có câu “Nhất niệm A Di Đà tức diệt vô lượng tội”
(Một lần niệm Nam Mô A Di Đà Phật sẽ làm tiêu tan ngay vô số tội
lỗi)
hay sao? Nếu ra sức xưng danh niệm Phật và chuyên cần làm pháp sự
th́ cái nghiệp nhân quả sẽ tan biến đi cho dù chàng từng ngập lún
trong đó như dưới ḷng biển sâu bên ghềnh đá Ariso (16).
Atsumori:
Thế th́ xin thầy hăy khấn nguyện cho ta trồi lên khỏi biển sâu tội
lỗi.
Rensei:
Và điều đó rồi sẽ là cơ duyên để mở ra cho bản thân ta con đường đi
vào cơi giác ngộ.
Atsumori:
Đó cũng là nhờ công đức đến từ sự giác ngộ trong một kiếp trước (tha
sinh) (17).
Rensei:
Chúng ta xưa kia từng là cừu địch...
Atsumori:
Nay lại trở thành...
Rensei /
Atsumori:
Hai kẻ đồng hành đi t́m lẽ đạo.
Atsumori:
Và là bạn bè.
Hợp
xướng
(Jiuta hát thay cho Atsumori): Phải chăng đó là ư nghĩa của câu nói
“Xả ác nhân hữu, chiêu thiện nhân địch”
(Vứt bỏ
bạn bè xấu, mời gọi kẻ địch tốt đến với ḿnh)? (Khi hát đến vế thứ
hai th́ Shite tiến mấy bước về phía trước mặt, đến gần Waki và phất
ống tay áo bên trái).
Mừng thay, mừng thay, thật mừng thay! Câu nói ấy ứng nghiệm vào
trường hợp của thầy và thầy đă chứng minh được điều đó.
(Nh́n
chăm chú vào mặt Waki). (Xong, Shite đi về phía chỗ Jôza tức chỗ
ngồi chỉ định của ḿnh).
Hăy kể cho ta nghe kinh nghiệm sám hối của thầy và chúng ta sẽ cùng
nhau nhắc lại những ǵ đă xảy ra v́ đêm đă hầu tàn (18).
Atsumori
thuật lại kiếp vinh hoa bèo bọt của một nhà Taira, cuộc tháo chạy
khỏi kinh đô vào mùa thu năm Juei (Thọ Vĩnh) (ư nói năm Juei thứ
hai, tức tháng 7 năm 1183), việc đắp thành Ichinotani và cuộc sống
chung đụng với những người dân vùng Suma.
Hợp
xướng
(Jiuta):
Khi hoa xuân nở, chúng đều hướng lên đầu ngọn cây giống như tấm ḷng
t́m về nơi thanh cao mà chư Phật bồ tát muốn khuyến khích con người
phải có để đạt đến bồ đề. C̣n trăng thu in bóng xuống đáy nước là
h́nh ảnh mà chư Phật bồ tát phô bày tâm cảnh của họ khi xuống cơi
trần giáo hóa chúng sinh (19).
Atsumori:
Về phần vinh hoa tuyệt đỉnh của tập đoàn Taira (chúng ta) th́ đă
được thấy qua cảnh phủ đệ mọc san sát bên nhau như một cây đại thụ
xum xuê cành lá.
Hợp
xướng
(Jiuta
hát thay cho Atsumori):
(Nhà Taira) cũng giống như hoa mộc cẩn
(b́m,
mukuge)
chỉ xinh tươi được mỗi một ngày (20). Tội nghiệp thay! Họ
không biết nghe những lời dạy bảo của Đức Phật để hiểu rằng đời
người không khác nào một tia chớp (điện
quang hỏa thạch)
nháng lên và sau đó chỉ là bóng tối.
Atsumori:
Khi c̣n ở ngôi cao th́ làm khổ kẻ dưới.
Hợp
xướng
(Jiuta hát thay Atsumori):
Khi giàu có, lại sống coi thường người khác mà không biết ḿnh là
ngạo mạn.
Hợp
xướng
(Jiuta hát thay Atsumori):
Từ khi nhà Taira đoạt được thiên hạ, tính đến nay đă hơn hai mươi
năm (nhất tích) (21). Bao thế hệ qua đi trong khoảnh khắc một
giấc mộng con. Khi phải tẩu thoát khỏi kinh thành hồi mùa thu năm
Juei (Thọ Vĩnh), nhà Taira chúng ta đă tan tác khắp bốn phương trời.
Với những chiếc thuyền nhỏ như chiếc lá con (nhất diệp) (22),
chúng ta phải lấy sóng làm gối và lênh đênh giữa biển. Chúng ta chưa
có lần thấy lại kinh đô dù chỉ là trong giấc mộng. Giống như lũ chim
bị nhốt trong lồng nh́n ra bên ngoài, chỉ ước ḿnh được thong dong
như đám mây trời. Chúng ta chẳng khác chi đàn nhạn muốn về phương
bắc (qui nhạn) mà bay rời rạc không thành hàng, không đích đến, lạc
lơng suốt cuộc hành tŕnh. Bây giờ chỉ mong ngày tháng trôi nhanh để
mùa xuân chóng trở về. Lúc đó chúng ta sẽ từ Tây quốc
(Saigoku
= các tỉnh phía Tây, ư nói đảo Kyuushuu)
quay lại
(kinh đô). Giờ đây vẫn c̣n phải chịu bó gối trong thành Ichinotani
và sinh hoạt quanh vùng Suma này (mở
quạt ra và tiến về phía trước)
(23).
Atsumori:
Đằng sau lưng, gió núi đang thốc xuống (đưa
quạt chỉ lên cao)
cho đến khi cánh đồng khô khốc.
Hợp
xướng
(Jiuta
hát thay cho Atsumori đang diễn bằng điệu bộ):
Vùng bờ biển này là đất bằng nhưng sao mà lạnh lẽo. Chiến thuyền của
chúng ta đang đậu bên bờ. Không kể đêm hay là ngày, tiếng chim di (
chidori)
làm cho ḍng lệ của ta cùng với ngọn triều thấm đầm tay áo (quấn
ống tay áo bên trái đưa lên).
Chúng ta phải qua đêm trong những túp lều tranh của bọn dân chài (đứng
lên đi vào trong góc, quạt cầm trên tay trái)
đầu gối lên lớp cát đă khô ran v́ gió. Chúng ta không biết ai ngoài
đám cư dân Suma. Mỗi khi chiều xuống và khói bếp ḷ (kamado) trong
khu rừng tùng biển (sonarematsu) (24) quen thuộc với người
dân sở tại bốc lên (đứng
đối diện với Waki, nâng quạt lên và nh́n vào trong ḷng lá quạt),
chúng ta ngồi xuống bẻ những cái nhánh gọi là shiba (nhánh củi) trải
ra làm chỗ nằm mà ḷng ngổn ngang tâm sự (25). Trước khi nhà
Taira với những bậc vương hầu đến đây sống cuộc đời buồn bă
(hướng
về phía Waki, mặt cúi gầm)
th́ trên băi Suma hoang vắng này, chỉ có mỗi đám dân quê cư trú (ngẩng
mặt nh́n xung quanh và tiến ra đằng trước).
Atsumori
thuật lại cái cảnh mồng 6 tháng 2, các chiến tướng Taira họp trong
doanh trại, thổi tiêu và hát những ca khúc (rôei = lăng vịnh) lưu
hành (kim dạng = imayô) rồi múa
Atsumori:
Vào đêm mùng sáu tháng hai, phụ thân của ta là ngài Tsunemori
(26) họp chư tướng lại, bảo rằng: “Ngày mai là trận đánh quyết
định và chúng ta chỉ c̣n mỗi đêm nay nữa thôi”. Chúng ta đă hát
những bài ca lưu hành (imayô) và múa với nhau.
Rensei:
Tôi nhớ rơ lắm chứ. Đêm ấy chúng tôi đang ngồi trong quân doanh và
nghe được tiếng nhạc ấy. Cũng có giọng tiêu của ai thật ai oán từ
trong thành vọng đến lều trại chúng tôi.
Atsumori:
Cái ống tiêu bằng trúc đó, một người yêu âm nhạc như ta đă mang theo
bên người đến khi chết.
Rensei
: Tôi có
nghe tiếng ca...
Atsumori:
Những bài hát lưu hành (imayô rôei)...
Rensei:
Với nhiều giọng
(tiến về
phía Waki)
Atsumori:
Nhưng ḥa cùng một nhịp
(ṿng
qua phía bên phải và bắt đầu động tác múa).
Atsumori
múa
(Shite
múa theo tiếng hát của Hợp xướng không rời vị trí chỉ định Jôza).
V́ bị
địch đánh bại, viên tướng trẻ Atsumori phải theo mọi người thoát
thân bằng đường biển nhưng chàng đă bị Kumagai truy đuổi và giết
chết. Nay t́nh cờ gặp được Rensei (cũng là Kumagai trong lớp áo nhà
tu) là một người biết đem ân báo oán nên họ không c̣n xem nhau như
cừu địch. Atsumori bèn cảm tạ kẻ thù xưa và xin ông ta giúp ḿnh
siêu thoát.
Atsumori:
Đi đầu là chiếc Thuyền Ngự (Mifune) của Chúa Thượng...
Hợp
xướng:
Cả nhà Taira đă xuống thuyền lênh đênh trên mặt biển.
Atsumori
v́ đến trễ nên bị bỏ lại. Tuy chàng ruỗi ngựa tới tận bờ nhưng
Thuyền Ngự và các chiến thuyền khác đă ra xa. Bấy giờ c̣n biết làm
sao? Chàng đành giục ngựa phóng vào trong lớp sóng muôn trùng. Đầu
óc chàng hoảng hốt và bấn loạn. Th́ giữa lúc ấy...
Hợp
xướng
(hát
Jiuta thay Atsumori đang bận ra bộ điệu):
Nh́n ra phía sau chàng thấy Kumagai Jirô Naozane đang đuổi gấp theo
ḿnh. Biết không thể chạy thoát, Atsumori bèn quày ngựa lại (đưa
hai tay như nắm cương ngựa mà xoay)
nhưng con vật đă bị ngọn sóng bủa vây. Chàng bèn tuốt kiếm đối đầu
với địch. Đâm qua chém lại hai ba bận (đưa
kiếm lên chém nhứ hai nhát)
nhưng v́ đang chôn chân trong ḍng nước, xoay trở chậm chạp, chàng
đă rơi xuống ngựa và bị giết chết. Nay nhờ Bánh xe Nghiệp
(Karma)
chuyển sinh khiến cho nạn nhân t́nh cờ gặp lại kẻ địch. (Atsumori
từ chỗ ngồi của ḿnh đứng lên, tiến về phía nhà sư và nâng cao thanh
kiếm)
Hợp
xướng:
“Đây là kẻ thù của ta”! Một người (Atsumori) nói thế và nâng kiếm
lên định chém nhưng lại buông xuống v́ người kia (Kumagai) đă tỏ ra
biết xóa đi điều ân oán nay c̣n làm pháp sự và niệm Phật giúp cho
linh hồn kẻ địch được siêu thăng. Thế th́ mai sau khi tái sinh ở
chốn cao xanh, họ sẽ được ngồi chung cùng một ṭa sen (liên sinh).
Không, không, Rensei! Thầy không phải là kẻ thù của ta. Hăy niệm
Phật để cứu lấy linh hồn ta, cứu lấy linh hồn ta!
Phần
chú thích
(1)
Xe nhỏ ở đây cũng có nghĩa là bánh xe luân hồi nữa.
(2)
Đều là những “gối thơ” (utamakura) tức các địa danh nổi tiếng v́
được các thi nhân nhắc đến.
(3)
Kusagari: Cắt cỏ. Mục đích phát quang cánh đồng hoặc thu lượm chất
đốt, phân bón. Tuy nhiên đây là một tứ thơ của nhà thơ Kakinomoto
Hitomaro có chép cả trong Man.yô-shuu (Vạn Diệp Tập), Wakan
Rôei-shuu (Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập) và Shuui-shuu (Thập Di tập). Thơ
rằng: Kano oka ni / kusagari
otoko / shikanakiri so / aritsutsu mo /
kimi ga komasamu / mi makusa ni semu / Ư nói người con trai đến cắt
cỏ trên đồi nhưng chờ măi mà không thấy người con gái đến để cô nh́n
thấy được mớ cỏ tươi mới cắt (cũng như t́nh yêu chân thật của
chàng).
(4)
H́nh ảnh “chàng trai cắt cỏ (kusagari otoko) mượn từ Truyện Genji,
chương Suma.
(5)
Ư
nói cuộc sống ẩn dật và cô độc cũng giống như như vương tử
Ariwara no Yukihira trên băi biển Suma. Thơ Yukihira trong Kokin
Waka-shuu (Cổ Kim Ḥa Ca Tập, bài thứ 962), phần Tạp hạ có câu:
Wakura wa ni / tou hito araba / Suma no ura ni / moshio taretsutsu /
wabu to kotaeyo. Ư nói nếu có ai hỏi th́ hăy trả lời cho họ rằng ta
đang sống đời cô độc, cào rong lấy muối trên băi biển Suma.
(6)
Ư
thơ của Ki no Tsurayuki trong bài tựa Kokin Wakashuu viết bằng chữ
Kana (Kanajo): Ư nói ngày xưa khi sống cuộc đời cao sang, ta dương
dương tự đắc. Nay phải về ở ẩn, ta một ḿnh cô độc v́ bạn bè đều
ngoảnh mặt quay lưng.
(7)
Lời thơ thấy trong Wakan Ryôei shuu (Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập) phần Sơn
Hạ: Yamaji ni higurenu. Mimi ni michi teru mono wa shôka bokuteki. Ư
nói nắng đă tắt trên con đường núi, tai ta chỉ nghe toàn tiếng hát
của tiều phu và tiếng tiêu của kẻ mục đồng.
(8)
Ở
đây tác giả muốn liệt kê các loại tiêu nổi tiếng làm bằng loại trúc
trôi dạt tấp vào bờ (yoritake). Trúc này ngâm lâu trong nước nên
được xem là loại có phẩm chất cao để chế được những ống tiêu tốt.
Nhân v́ Atsumori là người thổi tiêu lăo luyện nên khi tŕnh bày lịch
sử các loại tiêu cặn kẽ như thế, soạn giả có dụng ư đề cao chàng.
Saeda (hay Koeda, Tiểu Chi) là tên ống tiêu mà Thái thượng hoàng
Toba (Điểu Vũ, 1103-1156) đă ban cho ông nội của Atsumori là
Tadamori (Trung Thịnh,1096-1153), truyền xuống cha chàng là
Tsunemori (Kinh Thịnh, 1124-1185) rồi vào tay chàng (Đôn Thịnh,
1168-1184) và chàng mang nó theo người cho đến lúc chết. C̣n như
Semiore (Thiền Chiết) là loại tiêu làm bằng trúc nhập từ đại lục,
đặc điểm của nó là có vết nứt (chiết = ore) nơi giống h́nh con ve
(thiền = semi) trên lóng trúc. Komabue (Cao Lệ địch) th́ dùng để
chơi nhạc ở đền thần. Sở dĩ nó có tên như thế v́ băi biển Sumiyoshi
– nơi có ngôi đền Thần đạo nổi tiếng - là nơi tàu buôn Triều Tiên
(Cao Lệ = Koma) hay ghé.
(9)
Thập Niệm tức tụng 10 lần Nam Mô A Di Đà Phật.Theo lời giảng của
phái Tịnh Độ th́ những người làm được điều đó sẽ được văng sinh cực
lạc.
(10)
Đây là câu nói bắt đầu của Quán Vô Lượng Thọ Kinh tức lời thệ nguyện
“Biến chiếu quang minh thập phương thế giới” (Gieo ánh sáng của chân
lư đến mười phương thế giới) của Đức Phật A Di Đà Như Lai. Nghĩa là
ngài muốn tiếp dẫn tất cả chúng sinh về miền Cực Lạc sau khi ḿnh
đắc đạo (Nhược ngă thành Phật).
(11)
Hai đạo quân gồm 5 vạn kỵ do tướng Minamoto no Noriyori và 1 vạn kỵ
do tướng Minamoto no Yoshitsune, cả hai đều là em trai thứ 6 và thứ
9 của Shôgun Yoritomo. Tướng Minamoto no Yoshinaka, người đă tiến
quân vào Kyôto đuổi nhà Taira đi, cũng là em họ của ông. Ba tướng
này sau đều chịu số phận hẩm hiu v́ bị Shôgun nghi ngờ.
(12)
V́ tuổi quá trẻ, cho nên tuy là ḍng dơi cao sang Atsumori vẫn “vô
quan” (không có chức tước của triều đ́nh). Theo Truyện Heike mô tả
th́ Atsumori là một thiếu niên thanh nhă, khi chết mà má vẫn c̣n
thấy đánh một lớp phấn mỏng và nhuộm răng đen như các quí tộc Kyôto.
(13)
Ống tiêu (fue) nhưng có chỗ viết là hichikiri, một nhạc khí cũng làm
bằng trúc, bé hơn ống tiêu và dùng cho nhă nhạc (gagaku) cung đ́nh.
(14)
Theo Truyện Heike, lúc Kumagai cúi xuống định cắt đầu Atsumori để
lập công như tục lệ thời ấy th́ ông quá cảm thương v́ thấy chàng vừa
trẻ, lại đẹp trai, làm ông chạnh nhớ con trai của ḿnh. Thế nhưng
lúc đó các đồng đội đă tới nơi và bao quanh. Nếu không giết A
tsumori, ông sẽ bị họ nghi ngờ và truy tố là kẻ ăn ở hai ḷng. Ông
đành phải hạ sát kẻ địch nhưng ḷng đầy hối hận cho nên sau khi b́nh
định xong miền Tây đă xuất gia đi tu theo phái Niệm Phật của Đại sư
Hônen (Pháp Nhiên) vào năm 1192 và sống đến năm 1208 mới mất (68
tuổi).
(15)
Ca
từ dựa trên câu thơ của Minamoto no Kanemasa (Nguyên Kiêm Xương) nói
về mùa đông trich từ Kin.yô Wakashuu (Kim Diệp Ḥa Ca Tập, 1124):
Awaji kayou chidori no naku koe ni iku yonezamenu Suma no sekimori.
Ư nói người giữ của ải Suma nửa đêm bỗng choàng thức v́ tiếng chim
chidori kêu ran làm cho ḿnh khó ngủ. Atsumori cũng xem ḿnh bị đánh
thức đột ngột (từ cơi u minh) sau một giấc ngủ dài. Chidori là một
loài chim di bé nhỏ (chim óc cau, chim choi choi) hay họp thành
đoàn.
(16)
Vùng biển ở vùng ghềnh đá Ariso rất sâu, ở đây nó được so sánh với
hố sâu của tội lỗi.
(17)
Tha sinh (tashô) vừa có thể hiểu là kiếp trước (tiền thế = zense)
hoặc kiếp sau (hậu thế = gose). Có nhà chú giải Nhật Bản cho rằng
tha sinh ở đây phải hiểu là kiếp sau nhưng theo thiển ư, như thế th́
hơi xa văn mạch. Arthur Waley hiểu là kiếp trước (former life).
Chúng tôi ngả theo kiến giải của Arthur Waley, người cho rằng
Atsumori chắc đă làm một điều thiện đối với Kumagai trong một kiếp
trước nên kiếp này Kumagai mới trả ơn bằng cách hối hận việc ḿnh
làm và đi t́m vong hồn Atsumori để cầu siêu cho.
(18)
Sở dĩ Atsumori muốn cả hai thổ lộ tâm sự nơi đây bởi v́ con người
chỉ có thể giác ngộ (thành Phật) sau khi đă xưng ra hết tội lỗi của
ḿnh.
(19)
“Thượng cầu bồ đề hạ hóa chúng sinh” là lời nguyện của các vị bồ tát
khi thụ giới. Câu này thường được chép trong các bài Wasan (Ḥa
tán).
(20)
Ư
thơ Wakan Rôei-shuu (Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập): Tùng thụ thiên niên
chung thị hủ. Cẩn hoa nhất nhật tự vi vinh (Tùng sống ngh́n năm thân
cũng mục. Hoa b́m một sáng đủ tươi rồi).
(21)
Ngày xưa “nhất tích” (hitomukashi, một quá khứ) đơn vị là 33 năm,
sau này chỉ để nói về một khoảng thời gian là 21 năm, trong thơ văn
th́ nó đủ cho một vực sâu (fuchi) hóa thành cái lạch (se).
(22)
Nhất Diệp (Ichiyô) thuyền nhỏ như chiếc lá. Tương truyền người ta
lấy cảm hứng từ cảnh tượng con nhện vượt qua ḍng nước trên một
chiếc lá liễu mà chế ra. Từ đó, thuyền nhỏ được gọi là “nhất diệp”.
(23)
Nhà
Taira xây thành Ichinotani dựa vào hai ngọn núi rất hiểm trở, lại
thêm có khu rừng Ikuta bên cạnh để làm thế pḥng ngự. Thế nhưng
Minamoto no Yoshitsune (Cửu Lang) đă dùng mưu lược bằng cách cho
quân kỵ đổ dốc Hiyodorigoe (một việc làm hầu như điên rồ v́ dốc rất
đứng) để tấn công bất ngờ nhưng đă khiến họ phải đại bại.
(24)
Loại tùng đặc biệt mọc bên bờ biển, v́ chịu nhiều gió nên cành hướng
về phía mặt đất, vốn quen thuộc với người dân địa phương nhưng lạ
lẫm đối với các chiến sĩ Taira. Đoạn tả cảnh “khói ḷ thổi cơm trong
rừng tùng ven biển” này có lẽ đă được Bashô dùng lại trong Oku no
Hosomichi.
(25)
Có thể hiểu là các chiến sĩ Taira đă bị quí tộc hóa, chưa từng sống
khổ, chưa biết lao động và không biết đến những cách sử dụng củi
(shiba).
(26)
Taira no Tsunemori, con trai thứ của Tadamori và cũng là em trai
cùng cha khác mẹ của thủ lĩnh tập đoàn Taira là Kiyomori. Trong trận
Ichinotani, ông mất hầu hết các con trai. Sẽ chấm dứt đời ḿnh dưới
đáy biển Dan no ura trong trận đánh quyết định giữa hai nhà.
Thư
mục tham khảo:
1)
Nguyên bản tiếng Nhật của vở Atsumori (Đôn Thịnh) theo trường phái
Kanze trong Tuyển tập kịch bản Nô (có chú thích và đối chiếu với các
bản khác) trong Nhật Bản Văn Học Đại Hệ (Nippon Bungaku Taikei)
2)
Arthur Waley, 1998, The Nô Play of Japan, An Anthology, Dover Books
Publication, USA.
3)
Armen Godel & Kano Koichi, 1994, La Lande des Mortifications,
Vingt-cinq pièces de Nô (Dịch sang tiếng Pháp và chú thích 25 vở
tuồng Nô). Gallimard, Paris, xuất bản. Phần liên quan đến Atsumori,
từ trang 479.
4)
Toida Michizô giám tu & Kobayashi Yasuharu chủ biên, Nôgaku
Handobukku (Cẩm nang tuồng Nô), Nxb Sanseidô, bản thứ 3 in năm 2008.
5)
H́nh ảnh và tư liệu Internet.
|