|
|
Tổng quan Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim
Các Moga (Modern Girls ), phụ nữ mới Nhật Bản thời Taishô (1912-26) Về sự “thất bại của lư trí”, chính Akutagawa đă nhận định như thế này trong Aru aho no isho (Truyện đời một thằng ngốc): “Hắn giương đôi cánh nhân tạo ra, tung tăng bay bượn trong bầu trời. Cùng một lúc, bao nhiêu niềm vui nỗi buồn của đời người chan ḥa ánh sáng của lư trí đang hạ thấp xuống dưới tầm mắt hắn. Hắn tung những câu nói mỉĩa mai và nụ cười chế nhạo trên các phố phường đang thu nhỏ lại, bay vút lên ṿm cao không thoáng gợn về hướng mặt trời, dường như quên bẵng chuyện cái người Hy Lạp([2]) ngày xưa, vào lúc đó, cũng mang đôi cánh nhân tạo bị mặt trời thiêu cháy và rơi vùn vụt xuống biển mà chết.’’ Sau đây là đôi lời ông phát biểu trong thư tuyệt mệnh gửi cho Kume Masao, người bạn thân và cũng là văn hữu trong nhóm Trào Lưu Mới. “Tôi chưa thấy ai viết ra một cách không che đậy về tâm lư của một người tự sát. Lư do có thể là người sắp tự sát c̣n chút ḷng tự trọng hoặc bản thân họ thấy tâm lư người ở trong cảnh ngộ của ḿnh không có ǵ hấp dẫn để mà t́m hiểu. Tuy vậy, trong lá thư cuối cùng tôi gửi cho cậu đây, tôi muốn thuật lại thật rơ ràng tâm lư ấy, nhưng nếu bảo tôi không đặc biệt cho cậu biết động cơ nào đă đẩy tôi đến chỗ tự sát th́ cũng được. Régnier([3]) trong một truyện ngắn của ông có lần miêu tả người tự sát. Anh chàng vai chính trong truyện này cũng chẳng biết lư do tại sao anh ta muốn kết liễu đời ḿnh. Chắc khi cậu mở trang ba mục tin lặt vặt mấy tờ báo cũng nhận ra được là có biết bao nhiêu động cơ có thể thúc đẩy người ta đến chỗ tự sát, nào là cuộc sống khó khăn, bệnh hoạn dày ṿ hay đau khổ tinh thần. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, tất cả những thứ đó chỉ là một phần của động cơ. Cùng lắm nó chỉ là những cái mốc đánh dấu những chặn đường đưa đến động cơ ấy mà thôi. Có lẽ người tự sát, giống như Régnier đă miêu tả, không biết lư do ǵ đưa anh ta đến chỗ chết. Nó cũng giống như hành vi của ta vẫn thường xuất phát từ nhiều động cơ phức tạp. Riêng trường hợp của tôi th́ chỉ là nỗi lo âu mơ hồ. Làm như có một sự lo lắng bàng bạc về tương lai. Cậu có thể không tin lời tôi nói v́ không ai chung quanh đă sống hoàn cảnh tương tự của tôi suốt mười năm qua. V́ thế, dù cậu có coi lời của tôi đây như tiếng hát tan vào cơn gió thoảng, tôi sẽ chẳng trách cậu đâu.” (Trích dịch Thư gửi một người bạn cũ - Aru kyuyuu e okuru shuki)
Căn nhà ở Tabata (Tôkyô), nơi Akutagawa tự sát. Trong đêm 23 tháng 7 năm 1927, ông đă b́nh tĩnh uống một lần hai loại thuốc ngủ trí mạng dù vợ đă biết trước và canh pḥng kỹ lưỡng. Thuốc ở đâu ra, ông viết cho biết có một người đàn bà nào đó mang đến. Thế thôi![4] Miyamoto Kenji bảo ông tượng trưng cho “sự thất trận của văn chương tiểu tư sản (petit bourgeois)”. Kobayashi Hideo, ngược lại, ca ngợi mỹ học của ông và đổ cho định mệnh éo le([5]). Donald Keene([6]) cũng như nhiều nhà b́nh luận thường nhấn mạnh về ảnh hưởng bệnh tật của bà mẹ ruột đối với tâm tính ông. Một người mẹ mặt xám xịt như thây ma, có thể suốt ngày ngồi không nói không rằng, lâu lâu lại lấy ống điếu cốc đầu thằng bé con, chả bù với bà mẹ nuôi dịu dàng mà ông rất yêu quư. La Sinh Môn (Rashômon) được ông coi như một trong những tác phẩm “lạc quan” nhất của ḿnh mà đă đậm màu sắc chán đời. Rashomon là cái cổng thành bề thế (nhưng sau lưng không có cái thành nào) giống như cái bản mặt (men) của vũ sĩ đạo oai nghiêm nhưng trong đó chất chứa nhiều tàn ác và giả dối đă làm cho Akutagawa hoài nghi về giá trị của văn hóa nói riêng và con người nói chung. Trong La Sinh Môn, ngoài mươi ḍng đầu ông mượn ở “Truyện giờ đă xưa,” cảnh thành phố Kyôto trung cổ được ông phác họa theo Phương trượng kư (Hôjôki) của Kamo no Chomei([7]). Truyện thẩm tra hiện tại bằng cách sử dụng tư liệu quá khứ là một nét đặc biệt của văn chương “truyện cũ viết lại” (cố sự tân biên) ([8]) của ông. Sự hoài nghi, bi quan trong văn ông thường được kèm theo cái tàn khốc trong lối miêu tả như khi ông viết về Kyôto của thế kỷ XII khi bị thiên tai tàn phá (trong La Sinh Môn hay Bọn đạo tặc (Chuto) chẳng hạn), hay Nagasaki thế kỷ XVI chung quanh những cảnh cực h́nh thời cấm đạo. Ông đă t́m thấy trong vũ sĩ đạo, khuôn vàng thước ngọc của người Nhật Bản có cái ǵ giả tạo v́ đầy kịch tính. Người mẹ xé nát chiếc mùi - soa (trong Chiếc mùi soa) để gh́m không cho sự đau khổ lộ ra người ngoài biết, rốt cục cũng chỉ làm theo một phương pháp diễn xuất có cái tên là... văn hóa v́ nó đi ngược lại sự chân thành tự phát, vốn là bản tính đích thực của con người[9]. Ngoài cái bóng đen của bà mẹ trùm lên suốt cuộc đời, Akutagawa c̣n nhận ảnh hưởng lớn lao của nhà văn Natsume Sôseki, một người ông rất ái mộ. Chúng ta biết Sôseki là một nhà trí thức mang một tâm sự u uất, nhất là từ sau những năm tháng du học London trở về. Chính Sôseki đă nhận chân được tài năng và khuyến khích ông cứ đeo đuổi nghề văn cho dù lối viết của ḿnh không được sự tán thưởng của độc giả chăng nữa. Tháng 12 năm 1916, khi Sôseki mất, ông giữ ấn tượng sâu đậm về nhà văn bậc thầy này. Người ta thấy ảnh hưởng của Sôseki với chủ đề “sự ích kỷ của người đời” qua Cánh đồng khô, trong đó, đám đệ tử của thi hào Bashô họp lại chung quanh giường bệnh của thầy mà chỉ nghĩ những lợi lộc của chính bản thân họ một mai khi thầy không c̣n nữa. Nhà nghiên cứu người Mỹ Donald Keene cũng nhắc cho ta là chủ đề về ḷng ích kỷ từng được khai triển bởi nhà văn La Rochefoucauld, theo đó “ngay cả lúc hành động một cách cao thượng, con người cũng vâng theo một động cơ: đó là ḷng ích kỷ của họ”. Ḷng ích kỷ c̣n thấy cả trong Sợi tơ nhện (Kumo no ito), 1918, khi tên cướp Kandata dầu đă được Đức Phật cứu giúp thoát khỏi cảnh trầm luân hỏa ngục, đă v́ ḷng ích kỷ mà đánh mất dịp may cuối cùng của chính ḿnh và biết bao người khác. Thái độ trí thức khô khan, lạnh lùng khi trực diện với nhân vật và sự t́nh trong truyện ngắn, ông đă học hỏi được ở một người đi trước khác: Mori Ôgai. Ít nhất đây cũng là ư kiến của nhà phê b́nh Nakamura Shin.ichirô, người cho rằng Ôgai đă trao cho Akutagawa ch́a khóa của sự thành công trong lĩnh vực nghệ thuật khi truyền thụ một cách gián tiếp lối viết tiểu thuyết lịch sử kiểu Tây phương, trong đó, người viết cần giữ một khoảng cách với nhân vật ḿnh tạo ra. Từ đó, Akutagawa chỉ sử dụng lịch sử như một bàn đạp để giải thích nó theo quan điểm của cá nhân ông. Anh chàng Goi (ngũ vị), tên gọi theo chức quan hạng bét ở Kyôto thèm ăn cháo khoai phải lặn lội xa xôi, đến khi có cháo trong tay th́ lại chán không muốn ăn nữa, chẳng phải là một trường hợp cá biệt mà tượng trưng cho tính phổ quát (universality) con người vào bất cứ thời đại nào. Trong những năm tháng cuối cùng, ng̣i bút của Akutagawa không c̣n đem đến cho ông những thành công buổi đầu. Tuy loại tiểu thuyết tự truyện nhuốm màu sắc bệnh tâm thần (neurotic I novel) của ông dành được cho ông một chỗ đứng riêng trên văn đàn nhưng đă thấy xuất hiện Shiga Naoga, một cây bút viết truyện ngắn lỗi lạc khác và những nhà văn vô sản của tạp chí Người gieo mầm (Tanemaku hito). Ông tỏ ra ḥa hoăn với cả Shiga lẫn nhóm Người gieo mầm. Tuy hăy c̣n chủ trương nghệ thuật trên hết và giữ bản chất hoài nghi của người theo chủ nghĩa hư vô (nihilism) nhưng ông cũng đă có vài tác phẩm phê b́nh chủ nghĩa tư bản và đạo đức truyền thống (như trong Kappa) cũng như quan tâm đến cuộc sống khổ cực của nông dân (như trong Ikkai no tsuchi) hay mô tả thế giới đen tối trong một gia đ́nh trưởng giả mà chủ nhân đang nằm đợi chết (Sơn trang Gengaku). Tuy nhiên lúc đó Akutagawa đă mệt mỏi quá rồi. Trong Xă hội thủy quái Kappa, ông đă mơ tưởng được sống trong một thế giới “phi nhân gian” (non human world). H́nh ảnh siêu thực của xứ sở loài thủy quái Kappa tương tự như thế giới loài chim cánh cụt (penguin) trong tác phẩm của Anatole France, một tác giả Akutagawa yêu thích. Nó cũng có thể là nước người tí hon mà Gulliver đă đến thăm hay nơi cô bé Alice lạc đến. Tiếng là “quái” nhưng loài Kappa c̣n đầy đủ nhân tính hơn cả loài người: “Dần dần tôi bắt đầu quen với ngôn ngữ của loài Kappa và nhân đó, hiểu được phong tục tập quán của chúng. Trong đó có tập quán lạ là những ǵ con người chúng ta cho là trang nghiêm th́ chúng lấy làm kỳ cục. Ngược lại những ǵ ta cho là kỳ cục th́ chúng lấy làm trang nghiêm. Ví dụ ta bảo “chính nghĩa” hoặc “nhân đạo” là những điều trang trọng th́ khi nghe tới đó, bọn Kappa ôm bụng mà cười. Có nghĩa là quan niệm về sự khôi hài giữa ta và chúng hoàn toàn khác nhau. Khi tôi có dịp nói chuyện về hạn chế sinh đẻ với một bác sĩ nhi khoa Kappa tên là Chak th́ ông ta mở mồm há hốc rồi cười sặc sụa thiều điều rơi cả kính gắn trên sống mũi. Dĩ nhiên tôi cáu sườn nên mới cật vấn ông ta xem hạn chế sinh đẻ th́ kỳ cục ở chỗ nào. Lúc đó tôi chưa giỏi tiếng Kappa cho lắm, chỉ hiểu câu trả lời của Chak đại loại như thế này: - Kỳ khôi ở chỗ chỉ giúp cha mẹ khỏe thân mà thôi. Thế là quá quắt chứ sao! Ngược lại, dưới cái nh́n của loài người chúng ta th́ thật không có ǵ kỳ quái hơn là cảnh tượng sinh nở ở xứ Kappa. Sau đó ít lâu, tôi có dịp đi đến căn nhà nhỏ của Bag để xem cảnh vợ ông ấy lâm bồn. Lúc Kappa sinh nở th́ cũng giống như chúng ḿnh vậy, nghĩa là có bác sĩ, bà đỡ đến giúp. Tuy nhiên lúc sanh th́ ông bố lại châu mồm vào chỗ kín của bà vợ như người đang nói điện thoại, to giọng: “ Thế con có muốn ra đời hay không? Nghĩ cho kỹ rồi trả lời nhé! ”. Bag vừa khom gối, hỏi đi hỏi lại nhiều lần như thế. Sau đó th́ ông ta lấy thuốc nước sát trùng để trên bàn mà súc miệng. Một chốc, coi bộ đứa bé trong bụng vợ của Bag có vẻ do dự rồi thấy nó lí nhí trả lời: - Con không muốn ra đời làm ǵ. Nhất là để mang chứng bệnh tâm thần di truyền từ bố th́ khổ lắm! Hơn nữa, giống Kappa sinh ra không biết để làm chi? Bag nghe câu trả lời, bẻn lẻn đưa tay lên găi đầu. Tức thời bà đỡ đứng chực sẵn bên đă cầm ngay một ống thuỷ tinh đút vào chỗ kín của bà vợ, như thể chích một thứ thuốc ǵ đấy. Chỉ thấy bà ta thở phào một cái như trút đi gánh nặng, đồng thời, cái bụng x́u xuống tựa quả bong bóng vừa thoát hết hơi ”. (Trích Xă hội thủy quái Kappa, đoạn 4) Nên nhớ Akutagawa viết Xă hội thủy quái Kappa năm 1927 (và có thể trước đó), lúc Jean - Paul Sartre (1905 - 1980), ông tổ của thuyết hiện sinh thời hậu chiến, người đặt câu hỏi thời danh “sinh ra tôi sao không hỏi ư kiến tôi?” mới có hai mươi hai tuổi. Akutagawa có phải muốn từ giă cuộc đời này để đi t́m một xứ lạ” như thế giới của loài thủy quái Kappa?
Một trong những bức ảnh cuối Masuko, người đàn bà đáng lẽ chết chung Cái chết bằng tự sát của ông có nhiều lư do, từ cảnh ngộ gia đ́nh đến bệnh hoạn, chứ không riêng mỗi lư do tinh thần. Có người c̣n cho những lư do tinh thần ông nêu ra chỉ là để “làm dáng, điểm trang cho cái chết”. Thế nhưng, văn chương ông tự buổi đầu đă nặng tính hoài nghi yếm thế. Có lẽ trong ông tiềm ẩn nỗi khổ tâm của một nhà nghệ sĩ “nhân bản”, đầy ḷng yêu cuộc sống (yêu quá hóa hờn), phải đứng trước một lựa chọn có tính bức bách mà không t́m được lời giải thỏa đáng: nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh? B) Vai tṛ của Shiga trong nhóm Shirakaba (Bạch Hoa): Tháng 4 năm 1910, một nhóm sinh viên từng học ở Đại Học Gakushuuin (Học Tập Viện), trường dành riêng cho con nhà gia thế đă họp nhau lại thành văn đoàn Shirakaba. Dù tính t́nh và lư tưởng nghệ thuật của những người trong nhóm có khác nhau nhưng họ đều đối đầu với chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) và có cảm t́nh với chủ nghĩa nhân bản (Humanism) kiểu Tây Phương thông qua những nhà văn nhà thơ như Tolstoy và Maeterlinck. Họ có cái ǵ giống như Tự Lực Văn Đoàn của Việt Nam v́ thành viên của hai nhóm đều cũng là những người sinh trong gia đ́nh tư sản, có văn hóa Tây Phương không những trong văn chương mà c̣n trong những lănh vực nghệ thuật khác, có tinh thần vị tha bác ái, có tham vọng làm tốt xă hội nhưng không chấp nhận những thay đổi quá đột ngột và đảo lộn. Giống nhau hơn nữa là cả hai nhóm đều đă thất bại trong những cố gắng của họ và bị nhận ch́m bởi làn sóng đang lên của văn học vô sản thời ấy. Họ chọn cái tên Shirakaba bởi v́ nó là một loại cây tượng trưng cho sự trẻ trung tươi tắn và c̣n là biểu tượng của văn chương Nga mà họ đều ái mộ. Cả Natsume Sôseki và Akutagawa Ryuunosuke đều tán thưởng công việc của nhóm. Hai anh em Arishima Takeo (Hữu Đảo, Vũ Lang, 1878-1923) và Satomi Ton (Lư Kiến, Tốn, 1888-1983), Mushakoji Saneatsu (Vũ Giả Tiểu Lộ, Thực Đốc, 1885-1976), Nagayo Yoshirô (Trường Dữ, Thiện Lang, 1888-1961)… là những nhân vật cốt cán của nhóm này bên cạnh Shiga Naoya. Shiga rất tận tụy với nhóm và việc ông cùng một người bạn trong nhóm bỏ ngang Đại Học là để có thời giờ đóng góp trọn vẹn cho Shirakaba.
Với Mushakoji Saneatsu (tay trái), người bạn thân thiết trong nhóm Shirakaba Cũng như Nagayo Yoshirô, Shiga đứng giữa Arishima (tả) và Mushakoji (hữu). Trong khi Mushakoji khắc khổ như một người thanh giáo th́ Shiga tỏ ra có khuynh hướng hưởng thụ (hedonism). Dù có một vài người trong nhóm sau chuyển hướng về phía chủ nghĩa xă hội nhưng Shiga lại đi theo con đường ngược lại họ. Chủ nghĩa nhân bản (hummanism) theo kiểu ông và Satomi Ton là tiến về chủ trương thực hiện hoài băo cá nhân (self-realization), không muốn vướng mắc với những ưu tư có tính cách xă hội. Shiga là thành viên của nhóm được làng văn kính nể nhất. Các nhà phê b́nh gọi ông là “ông thánh văn chương”, “ông thầy truyện ngắn”. Trong khi đó, tác phẩm của nhà văn lớn cùng nhóm là Arishima Takeo bị hững hờ, một phần bởi v́ không phù hợp với một Nhật Bản đang ở trong cơn say của chủ nghĩa quốc túy những năm 1930-40. Măi về sau, Arishima mới t́m được lại chỗ đứng của ḿnh. C) Vai tṛ của Shiga trong tư trào Shi-Shôsetsu (Tư Tiểu Thuyết): Loại tiểu thuyết mang tên Shi-shôsetsu của Nhật Bản có lẽ đă bắt nguồn từ một mạch nước ngầm là ḍng tùy bút, nhật kư và văn chương du hành đă có mặt từ nhiều thế kỷ trước nhưng cuốn tiểu thuyết thời hiện đại có nhuốm màu sắc tự thuật của một Ich Roman “Tiểu thuyết nói về cái tôi” sớm nhất có lẽ là Maihime “Nàng vũ công” của Mori Ôgai. Sau đó mới đến Michikusa “Cỏ bên đường” của Natsume Sôseki, Futon “Tấm nệm giường” của Tayama Katai rồi Hakai “Xé rào” của Shimazaki Tôson. Ta biết rằng tiểu thuyết tự thuật sau đó sẽ phân ra làm hai nhánh: nhánh theo chủ nghĩa tự nhiên ( với Kasai Kenzô, Makino Shin.ichi, Uno Kôji, Kamura Isota)[14] và một nhóm thứ hai chịu ảnh hưởng của Shiga có thể mệnh danh là nhóm “tiểu thuyết tâm trạng” (mental attitude novel) gồm bà Amino Kiku (Vơng Dă, Cúc, 1900-78), các ông Takii Kosaku (Lũng Tỉnh, Hiếu Tác, 1894-1984), Ozaki Kazuo (Vĩ Kỳ, Nhất Hùng, 1899-1983) nếu chỉ kể những nhà văn thuộc loại có tên tuổi. Ảnh hưởng của Shiga nhiều khi ra ngoài lănh vực văn chương mà tác động cả vào cuộc sống của các đệ tử. Trường phái tiểu thuyết tự thuật của Shiga nổi bật với những đặc tính sau: một cốt truyện có nghiên cứu kỹ lưỡng, nhiều chi tiết có chất thơ, mang màu sắc khắc kỷ (stoic) và đầy những t́nh huống cá nhân bất hạnh. Tuy nhiên, phải nh́n nhận là trong nhóm đệ tử của ông, không ai đạt được tŕnh độ thượng thừa trong bút pháp như thầy ḿnh. TIẾT III: LIÊN HỆ GIỮA AKUTAGAWA VÀ SHIGA: Akutagawa và Shiga không đi lại với nhau nhiều. D. Keene kể lại theo lời của Shiga th́ ông và Akutagawa chỉ gặp nhau có bảy lần trong thời gian bảy năm họ quen biết nhau. Shiga cũng cho biết là Akutagawa hay đọc truyện của ông nhưng ngược lại, ông không đọc Akutagawa bao nhiêu. Shiga c̣n chống đối một số thủ pháp của Akutagawa như việc ông để người viết giữ lại một số chi tiết của câu chuyện mà không cho độc giả biết. Ví dụ trong Hôkyônin no Shi ““Cái chết của một con chiên”, Akutagawa đă đợi đến phút cuối cùng mới tiết lộ cho độc giả việc sư huynh Lorenzo chính ra là một phụ nữ giả trai. Akutagawa đặc biệt chú ư đến tác phẩm của Shiga, từng viết cho một người bạn vào năm 1917: “Từ khi đọc Wakai “Làm Lành”, tôi chán không muốn viết tiểu thuyết nữa”, có lẽ v́ ông bị ấn tượng mạnh từ lối viết khác lạ của Shiga. Mikan “Mấy trái quưt”(1919) tả cảnh đứa bé gái nghèo đi ra tỉnh kiếm ăn, từ trên toa tàu, ném mấy quả quít cho lũ em, cảnh tượng làm Akutagawa cảm động nên ghi lại, đă bị ảnh hưởng phong cách “tiểu thuyết có chất thơ” (poetic fiction) của Shiga. Truyện ngắn Torokko “Chiếc xe gọng” (1922) của Akutagawa nói về hai đứa trẻ đẩy một chiếc xe gọng trên đường ray đi quá xa, lúc trời sập tối, phải chạy băng băng về nhà trong sợ hăi tột cùng, cũng có nội dung giống như truyện Manazuru (1920), trong đó Shiga tả hai đứa bé đi mùa quà ở thị trấn bên cạnh bị bóng tối bao vây trên con đường về. Chính “Chiếc xe gọng” cũng mở đầu cho loạt bài viết của Akutagawa có tính cách tự truyện theo lối Shiga. Về các bài ấy phải kể đến Yasukichi no Teichô kara “Trích từ sổ tay của Yasukichi” (1923), ghi lại những kỷ niệm lúc ông làm giáo sư Anh Văn ở trường Hải Quân Yokosuka và Haruguma “Trong guồng máy” (1927). Trong Haguruma, tác phẩm cuối của ḿnh, Akutagawa đă nói về xúc động làm ông phát khóc khi đọc về sự xâu xé trong nội tâm nhân vật của An.ya Kôrô “Đi trong bóng tối” của Shiga. Akutagawa đi đến chỗ ngưỡng mộ Shiga như lúc ông viết Bungeiteki na, amari ni bungeiteki na “Văn nghệ, văn nghệ quá đỗi” (1927), cho rằng Shiga c̣n viết hay hơn cả Tolstoy và kính phục sự tự ư thức có tính cách một sĩ quân tử chính cống nơi Shiga, khác hẳn với con người “bàng hệ” (epigonen) như ông, chỉ mô phỏng v́ bị chủ nghĩa cá nhân kiểu Tây Phương thu hút. Trong buổi văn niên, với t́nh trạng sức khỏe suy sụp và thần kinh rối loạn, Akutagawa đă chịu thế hạ phong đối với Shiga dầu ông cũng tỏ ra cao thượng khi tỏ ḷng ngưỡng mộ “địch thủ”. Nhân đây, cũng nói thêm rằng Akutagawa hăy c̣n một địch thủ thứ hai, đó là phong trào văn học vô sản. Tuy vào thời điểm đó, ông cũng bó tay trước khí thế đang lên của phong trào này nhưng đă kết luận trong một bài luận thuyết như sau: “Điều duy nhất tôi đặt hy vọng vào là tự do về mặt tinh thần, dù là vô sản hay tư sản, không bao giờ phải bị hủy diệt. Có nghĩa là ta phải nh́n thấy sự ích kỷ vừa là kẻ thù nhưng cũng là người bạn. Nếu tất cả những người vô sản đều tốt và tư sản đều xấu th́ cuộc đời thực là quá đơn giản. Để được đơn giản như thế th́ cả làng văn Nhật phải đổi tên thành làng văn chủ nghĩa tự nhiên”. Trích Puroteria Bungei no Kahi “Chấp nhận hay không văn học vô sản? (1/1923) [1] Tập tùy bút gồm 250 đoạn thật ngắn nói lên những nhận định cực kỳ độc đáo của tác giả đối với cuộc đời, con người, đạo đức, nghệ thuật và cả bản thân. Shuuju (người thấp bé, dwarf) là người mà tứ chi không phát dục kịp người thường, ư khiêm xưng là hèn kém, dốt nát. ([2]) Thần thoại Hy Lạp về Icarus trong, người gắn cánh bay lên mặt trời bị sáp nóng chảy và rơi xuống chết. ([3]) Henri de Régnier (1864 - 1936), nhà văn Pháp phái tượng trưng sau chuyển qua phái tân cổ điển.Chết rất trẻ. [4] Người đàn bà ấy có thể là Hiramatsu Masuko (B́nh Tùng, Tố Ma Tử), bạn thân từ hồi trung học của bà Fumi, vợ ông. Bà là người có lúc đă hẹn quyên sinh với ông ở Khách Sạn Đế Quốc nhưng sau đổi ư. ([5]) Có lẽ người ta xem động cơ tự sát của văn nhân lúc nào cũng phức tạp hơn người thường. Trường hợp Romain Gary (Pháp), Ernest Hemingway (Mỹ), Dazai, Arishima, Mishima và Kawabata (Nhật) đă làm tốn nhiều mực. ([6]) Trong Dawn to the West. ([7]) Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh, 1155? - 1216), người thời Kamakura, cất am trong núi. Hojoki là một tác phẩm cổ điển của ḍng văn học ẩn sĩ. ([8]) Trong ḍng văn học này c̣n có Lỗ Tấn (Lu Xun, 1881 - 1936), một tên tuổi vĩ đại khác. ([9]) Giáo sư Hasegawa trong “Chiếc mùi soa” thất vọng với Vũ Sĩ Đạo rốt cuộc chỉ c̣n biết đặt ḷng tin vào “cái lồng đèn Gifu bằng giấy phết có vẻ h́nh mấy cọng cỏ thu”, tượng trưng đơn sơ của tâm hồn Nhật Bản đích thực, treo trước hiên nhà. [10] Uchimura Kanzô, 1861-1930, chủ trương theo đạo Ki-Tô nhưng không cần có giáo hội. Chống chiến tranh Nhật-Nga. Năm 1907, Shiga Naoya chia tay với Uchimura. [11] Chất độc mỏ đồng Ashio ô nhiễm nước sông Watarase gây tai họa cho nông dân là một vụ án lớn nhất thời Meiji, nguyên đơn nhờ cả thiên hoàng can thiệp. Giới trí thức Nhật Bản thời đó rất xúc động. Cha của Shiga ủng hộ tài phiệt Furukawa tức giới chủ, tranh luận với ông và do đó, cha con đă bất ḥa trong một thời gian dài. [12] Về sau ông lập gia đ́nh với bà Sadako (Khang Tử), em họ của Mushakoji Saneatsu, một cô gái góa, lại bị gia đ́nh chống đối nhưng họ sống rất hạnh phúc bên nhau. [13] Katô, Shuuichi, sđd, quyển 3, trang 206. [14] Xin tham khảo thêm bài số 21 về Nhóm Shirakaba và Tiểu Thuyết Tự Thuật.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả |