|

V́ sao Hồng Kông của Trung Quốc trở thành thuộc địa của Đế quốc
Anh ?
Ngô Khôn Trí (Exryu
Canada)
Bài viết sau đây là tổng hợp từ một số tài liệu lịch sử nhằm t́m ra
câu trả lời cho câu hỏi trên.Tuy chưa đầy đủ nhưng người viết hy
vọng rằng nó có thể làm tài liệu tham khảo cho bạn đọc.
Giao thương giữa Trung quốc (TQ) và châu Âu bằng đường hàng hải được
bắt đầu từ khi người Bồ Đào Nha thuê một tiền đồn từ nhà Minh tại Ma
Cao vào năm 1557 .
Việc giao thương trở nên phồn vinh khi nhiều tàu của Anh bắt đầu
xuất hiện quanh bờ biển TQ vào năm 1635. Lúc
đầu , các thương nhân người Anh chỉ được
phép buôn bán tại các cảng Chu San, Hạ Môn và Quảng Châu . Từ năm
1700 trở đi, Quảng Châu trở thành trung tâm thương mại hàng hải
chính của TQ .
Chính quyền nhà Thanh v́ muốn bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước và
duy tŕ ổn định xă hội, nên áp dụng "Hệ thống Canton" (Canton
: Quảng Châu) kiểm soát gắt gao đối với thương nhân nước
ngoài. Cấm họ không được tự do đi lại trong lănh thổ TQ, chỉ được
phép lưu trú trong khu vực qui định “mười
ba nhà máy”, không được phép học tiếng TQ , chỉ được phép kinh
doanh với một nhóm khoảng 6 đến 20 thương nhân do chính quyền TQ chỉ
định, gọi là "Công hành", các Công hành này được giao nhiệm vụ thẩm
định giá trị của các sản phẩm nước ngoài, cấp giấy phép xuất nhập
khẩu . Ngoài ra, các thương nhân châu Âu phải
trả lệ phí hải quan, thuế đo lường, cung cấp cống phẩm và thuê hoa
tiêu.
Vào thời đó, TQ nhập ít vải cotton dệt bằng máy, đồng hồ và các công
cụ bằng thép của châu Âu.
Châu Âu mua nhiều mặt hàng lụa, sứ và trà của TQ v́ rất được ưa
chuộng mặc dù bị xem là các mặt hàng xa xỉ .
Do đó, đă tạo ra sự mất cân bằng thương mại giữa TQ và châu Âu. Bạc
nước ngoài tràn vào TQ .
Các quốc gia châu Âu (Tây Ban Nha, Anh và Pháp)
phải đi t́m nguồn cung cấp bạc từ các thuộc địa của ḿnh với giá rẻ
để giao dịch với TQ.
Năm 1816 , Vương quốc Anh cử đặc phái
viên ngoại giao Earl William Amherst tới TQ để thiết lập quan hệ
thương mại thỏa đáng hơn cho 2 nước. Khi gặp Hoàng đế Gia Khánh,
Amherst đă từ chối thực hiện nghi lễ truyền thống Kowtow v́ cho rằng
đây là hành động thấp hèn (Kowtow: “khấu
đầu" là một nghi thức quỳ xuống và cúi đầu để biểu hiện sự tôn kính
cao nhất đối với cấp trên và đặc biệt là Hoàng đế, cũng như đối với
các đối tượng tôn giáo và văn hóa thờ cúng) . Nhà Thanh tức giận
xem đây là hành vi không tôn trọng lễ
tắc nên đă trục xuất Amherst và nhóm của ông ra khỏi TQ. Nhiệm vụ
bất thành, Amherst và đoàn tùy tùng lên tàu Alceste trở về Anh, sau
một hành tŕnh dọc theo bờ biển của Hàn Quốc ,
đến Quần đảo Ryukyu, tàu bị đắm v́ va chạm một tảng đá ch́m ở eo
biển Gaspar. Amherst và một vài thủ thủ thoát
chết nhờ những chiếc thuyền nhỏ. Khi trở về Anh năm 1817
Amherst đă yết kiến hoàng đế Napoleon .
Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Hoàng đế Napoleon đă phát
biểu : "Trung Quốc là một gă khổng lồ
đang ngủ. Hăy để nó ngủ. V́ khi nó thức
dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giới. Sau đó,
Amherst được thăng chức trở thành Toàn quyền Ấn Độ từ năm
1823 đến 1828. (Lord Amherst kết hôn 2 lần,
điều đáng chú ư là cả hai người vợ của ông đều là nữ bá tước của
Plymouth. Người vợ đầu tiên lớn hơn ông
10 tuổi và đă có 7 người con. Họ kết hôn
năm 1800 và có 3 con (2 trai, 1 gái). Năm
1839, một năm sau cái chết của người vợ đầu tiên, Lord Amherst, 66
tuổi, kết hôn với cô con dâu góa chồng của người vợ trước.
Mặc dù đây là một cuộc hôn nhân bất thường,
nhưng nó không bị cấm bởi luật Giáo hội hay luật dân sự. ông
qua đời vào tháng 3 năm 1857, thọ 84 tuổi )
Khi không có đủ bạc giá rẻ từ các thuộc địa, các thương nhân châu Âu
buôn bán với TQ bắt đầu lấy bạc trực tiếp ra khỏi thị trường trong
nước của ḿnh để thanh toán hàng hóa mua tại TQ.
Điều này đă khiến chính phủ Anh tức giận
v́ nền kinh tế của họ bị thu hẹp dần . Từ đó phát sinh ra mối thù
địch đối với TQ, chính quyền Anh đổ lỗi là do chính quyền TQ hạn chế
thương mại đối với châu Âu.
Các thương nhân Anh đă đưa thuốc phiện vào TQ thông qua Công ty Đông
Ấn Anh Quốc ( là một trong những công ty
cổ phần đầu tiên của nước Anh có nhiều người góp vốn, được Hoàng gia
Anh cấp giấy phép), số lượng đưa vào ngày càng tăng , năm 1800: 200
tấn, năm 1835: 1400 tấn, năm 1839: 2553 tấn , năm 1880: 6500 tấn .
Về sau , vào đầu thế kỷ 19, các thương
nhân Mỹ cũng đă tham gia đưa thuốc phiện từ Thổ Nhĩ Kỳ vào thị
trường TQ.

Năm 1810, Mặc dù Hoàng đế Đạo Quanh đă tuyên bố
:"Thuốc phiện có tác hại. Thuốc phiện là
một chất độc, làm suy yếu phong tục và đạo đức tốt của chúng ta.
Việc sử dụng nó bị cấm theo luật". Tuy
nhiên, số lượng thuốc phiện nhập lậu vào TQ vẫn tiếp tục tăng làm
cho số lượng người nghiện thuốc phiện tăng theo,
dẫn đến nhiều ảnh hưởng xấu trong xă hội TQ. Tham nhũng tràn
lan, nhiều quan chức địa phương ăn hối lộ.
Ḍng tiền dần dần bị đảo ngược v́ các thương
nhân TQ đă lén lút đem bạc để trả tiền mua thuốc phiện lậu.
Năm 1839, đề xuất hợp pháp hóa chất ma
túy để dễ kiểm soát và thâu thuế đă được nêu ra nhưng hoàng đế thứ
8 của triều đại nhà Thanh là Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang,
từ chối v́ cho rằng mặt hàng này là mặt hàng suy đồi, đă bị cấm bán
kể từ năm 1729 nên đă phái tướng Lâm Tắc Từ tới Quảng Châu đến ngăn
chặn . Tướng Lâm đă viết một bức thư gởi cho Nữ hoàng Victoria yêu
cầu ra lệnh cấm bán mặt hàng này vào TQ và kêu gọi trách nhiệm đạo
đức . Ông hỏi Nữ hoàng rằng Bà đă không
chấp nhận nha phiến ở Anh th́ sao bà có thể để chuyện đó xảy ra
với Trung Quốc ?.
Lời thỉnh cầu của ông bị phớt lờ.
Không thuyết phục được các thương nhân nước ngoài ngưng buôn bán nha
phiến, tướng Lâm đành phải dùng đến vũ lực , lục soát và tịch thu
tổng cộng 20.283 rương thuốc phiện (khoảng 1210 tấn).

Hai thương nhân Anh có thế lực lúc bấy giờ là William Jardine và
James Matheson (đồng sáng lập tập đoàn Jardine, Matheson & Co., một
công ty muốn bán thuốc phiện vào TQ) tức giận v́ 20.000 thùng thuốc
phiện của cty ḿnh định bán vào TQ bị tịch thu và bị phá
hủy . William Jardine
đă trở về London vào tháng 9/ 1839 mang theo một lá thư giới
thiệu của Giám thị Elliot và chuyển một số thông tin của Elliot cho
Bộ trưởng ngoại giao Palmerston, thúc đẩy Lord Palmerston dùng vũ
lực để giành quyền thương mại với TQ. Và ông đă thuyết phục thành
công nhờ tŕnh bày một kế hoạch chi tiết đầy đủ cho chiến tranh, bản
đồ chiến lược chi tiết, chiến lược chiến đấu, đ̣i bồi thường và yêu
cầu chính trị đối với Trung Quốc và ngay cả số lượng binh sĩ và tàu
chiến cần thiết.
Lord Palmerston đă soạn thảo một lá thư
gửi đến Thủ tướng William Melbourne kêu gọi một cuộc đáp trả quân sự.
Tại quốc hội Anh, phe tán thành chiến tranh (đảng Whig bảo vệ quyền
lợi của quư tộc) cho rằng chính người tiêu dùng TQ là nhân tố thúc
đẩy buôn bán thuốc phiện và việc trục xuất định kỳ các thương nhân
người Anh khỏi Quảng Châu của chính quyền nhà Thanh đối với Anh được
coi là một sự sỉ nhục đối với niềm tự hào dân tộc của người Anh. Phe
phản chiến (Đảng Tory) tố cáo sự vi phạm
đạo đức của việc buôn bán thuốc phiện. Sau ba
ngày tranh luận, cuộc bỏ phiếu đă diễn ra vào ngày 9/4/1840, phe
phản chiến bị đánh bại bởi 9 phiếu (271 ủng hộ chiến tranh và 262
chống chiến tranh). Việc ngăn chặn Chính
phủ tiến hành chiến tranh thất bại và các tàu chiến Anh lên đường đi
đến TQ. Ngày 27/7/1840, Hạ viện Anh đă
đồng ư trợ cấp 173.442 Bảng Anh cho các chi phí của cuộc viễn chinh
tới TQ. (Giữa năm 1841 và 1843, William Jardine là Nghị viện
thuộc đảng Whig, 1 đảng nằm trong chế độ quân chủ lập hiến, bảo vệ
quyền lợi của quư tộc ) .
Năm 1842, chính phủ Anh đáp trả bằng cách phái một lực lượng hải
quân đến TQ.
Nhờ sức mạnh hỏa lực vượt trội, quân đội của
Hoàng gia Anh đă chiến thắng một loạt các trận chiến quyết định đối
với quân đội của nhà Thanh. Người đời mỉa mai gọi đây
là lối " Ngoại giao pháo hạm" của Anh .
Triều đ́nh nhà Thanh buộc phải kư điều ước Nam Kinh (hiệp ước nhục
nhă bất b́nh đẳng), phải bồi thường thiệt hại, cấp một khoản đặc
quyền ngoại giao , mở 5 cảng và nhượng đảo Hồng Kông (HK) cho Đế
quốc Anh.
Kể từ đó HK trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh.
Vào năm 1898, để khống chế vùng lănh thổ này,
Anh đă thuê thêm các vùng lănh thổ phụ với cam kết sẽ trả lại HK cho
TQ sau 99 năm.
Montreal, ngày 06/12/2019
Ngô Khôn Trí
|
|