|

LỊCH SỬ KHAI
THÁC DẦU Ở IRAN
Ngô Khôn Trí (Exryu
Canada)
Hơn 111 năm trước đây, vào ngày 26/5/1908 dầu mỏ
đă được t́m thấy đầu tiên tại Iran. Kể từ đó, đă tạo ra nhiều thay
đổi lịch sử của đất nước này và của cả thế giới nói chung.
Ngày 28/5/1901, nhà đầu tư người Anh tên là
William D'Arcy được đại sứ của nước Anh tại Iran là Sir Henry
Drummond Wolff giới thiệu, nên đă kư được một hợp đồng khai thác dầu
hỏa với quốc vương Mozaffar al-Din Shah Qajar của Ba Tư (Iran) . (Trước
đó, vào tháng 3 năm 1890 , Wolff đă từng dùng cương vị của ḿnh ép
vua Nasir al-Din Shah cho phép bạn của ông là Thiếu tá G. F. Talbot
độc quyền kinh doanh thuốc lá tại Iran ) .
Theo thỏa thuận, D'Arcy nộp 20 ngàn bảng Anh (2,1
triệu £ ngày nay) cho tiền thuê khu đất rộng 1.200.000 km2, chiếm
75% diện tích Iran, trong 60 năm và có quyền khai thác dầu ở mọi nơi
trên lănh thổ Iran trừ năm tỉnh ở phía Bắc. Đổi lại, chính phủ Iran
sẽ nhận được 16% lợi nhuận hàng năm của công ty dầu mỏ. Sau khi hết
hạn, tổng tài sản của công ty dự kiến sẽ trở thành tài sản của nhà
nước Iran.
Sau đó , D’Arcy đă gửi nhà địa chất George B.
Reynold và một nhóm khoan đến Ba Tư để t́m kiếm dầu . Họ đă thực
hiện nhiều lỗ khoan nhưng không có kết quả.

Sau 7 năm t́m kiếm, D'Arcy chi hơn 500.000 bảng
Anh để trang trải mọi chi phí nên tài sản cá nhân của D'Arcy đă hoàn
toàn cạn kiệt, ông phải bán hai ngôi nhà ở nông thôn và một biệt thự
ở London. D'Arcy buộc phải t́m thêm hỗ trợ tài chính, liên doanh với
Burmah Oil Company Ltd , đồng ư đưa thêm 100.000 bảng vào liên doanh.
Nhờ đó, dàn khoan được chuyển tới nhiều nơi khác để khoan thăm ḍ
nhưng cũng không t́m ra dầu. Liên doanh sắp sụp đổ và D'Arcy gần như
phá sản, ông với Burmah quyết định từ bỏ thăm ḍ ở Iran . Đầu tháng
5 năm 1908, họ gởi cho Reynold một bức điện nói rằng họ đă hết tiền
và ra lệnh cho anh ta "ngừng công việc, sa thải nhân viên, tháo dỡ
bất cứ thứ ǵ đáng giá và chở đến bờ biển để tái vận chuyển trở về
nhà”. Reynold tŕ hoăn lệnh, dùng cơ hội cuối cùng đem dàn khoan đến
1 địa điểm Masjed Soleyman và đă khoan tới 1.160 feet và sau đó dừng
lại.

Vào lúc 4 giờ sáng ngày 26/5/1908 Reymond bỗng
nhiên ngửi thấy mùi lưu huỳnh bay lơ lửng trong không khí tại
Masjed-Soleyman. Đó là một dấu hiệu tốt cho một người có kinh nghiệm
như Reynold. Ông cho khoan tiếp, khi mũi khoan chạm tới 1.180 feet
(360 m) dưới sa mạc và đâm trúng mỏ dầu. Một phát nổ như tiếng súng
từ giàn khoan phát ra và dầu từ giếng dầu khổng lồ được bắn lên
không trung cao đến 75 feet (23 mét ).

Gần 1 năm sau, vào ngày 14/ 4 /1909, Burmah Oil đă
thành lập Công ty Dầu mỏ Ba Tư ( Anglo-Persian Oil Company, viết tắc
là APOC) và bán cổ phần cho công chúng. D'Arcy trở thành giám đốc
của công ty này. Sau này, công ty này trở thành Công ty Dầu mỏ
Anglo-Iranian vào năm 1935, rồi trở thành Dầu khí Anh năm 1954 và BP
năm 2000.
Tiếp theo là nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới
được xây dựng tại Abadan (gần biên giới Iran-Iraq) vào năm 1913. Năm
1914, chính phủ Anh bắt đầu đưa vốn vào công ty, mua 51% cổ phần và
đă trở thành cổ đông đa số nắm quyền kiểm soát và là 1 thế lực tiềm
ẩn đằng sau công ty dầu mỏ này. Bởi v́ chính phủ Anh muốn hiện đại
hóa Hải quân Hoàng gia Anh bằng cách thay thế các tàu hơi nước đốt
than thành tàu chạy bằng nhiên liệu dầu mặc dù Anh có rất nhiều than
đá. Điều quan trọng nhất mà Thủ tướng Churchill mong muốn là giải
phóng Anh khỏi sự phụ thuộc vào các công ty dầu Standard Oil (Mỹ) và
Royal Dutch Shell(Hà Lan).

Anglo-Persian Oil Company (APOC)
Năm 1920, APOC thâu tóm được quyền khai thác dầu ở
phía Bắc mà vua Iran đă cấp cho Nga vào năm 1916 , nên đă thành lập
một công ty con mới, "Công ty Dầu mỏ Bắc Ba Tư" nhưng người Iran từ
chối chấp nhận công ty mới, dẫn đến tranh chấp kéo dài về dầu mỏ
phía bắc Iran.
Năm 1923, một lượng lớn dầu đă được t́m thấy tại
Naftkhana (nay là Khanaqin ở tỉnh Diyala), nơi được coi là "lănh thổ
được chuyển nhượng" dọc biên giới Iran-Iraq. Công ty Dầu Khanaqin
này đă được đăng kư tại Luân Đôn với tư cách là công ty con của APOC.
Năm 1923, Burmah nhờ Winston Churchill làm tư vấn
(trả tiền) để vận động chính phủ Anh nên APOC đă được phép độc quyền
đối với tài nguyên dầu mỏ của Ba Tư .
Từ năm 1928 đến năm 1932, đại diện cho chính phủ
Iran và Chủ tịch của APOC đă có nhiều cuộc đàm phán để sửa đổi các
điều khoản trong thỏa thuận giữa D'Arcy với vua Mozaffar al-Din Shah
Qajar được tổ chức tại ở Tehran, Lausanne, London và Paris .
Abdolhossein Teymūrtāsh, Bộ trưởng Tư Pháp Iran
cho rằng tài sản của quốc gia bị phung phí bởi thỏa hiệp không công
bằng đă kư bởi 1 chính phủ phi hiến pháp. Để củng cố vị trí của ḿnh
trong các cuộc đàm phán với người Anh, Teymourtash đă sử dụng các
kiến thức chuyên môn của các chuyên gia dầu mỏ của Pháp và Thụy Sĩ.
Ông yêu cầu được nhận 25% tổng số cổ phần của APOC (dựa trên cơ sở
50-50) và mức lăi được bảo đảm tối thiểu là 12,5% từ cổ tức. Ngoài
ra, ông c̣n xác định rằng công ty sẽ giảm diện tích nhượng bộ hiện
tại. Mục đích của việc giảm diện tích nhượng bộ là đẩy hoạt động của
APOC về phía tây nam để Iran có thể tiếp cận và lôi kéo các công ty
dầu mỏ khác phát triển các mỏ dầu theo các điều khoản công bằng hơn
trong các lĩnh vực không thuộc khu vực nhượng quyền của APOC. Ngoài
ra, ông cũng yêu cầu các công ty phải đăng kư tại Tehran cũng như
London, các quyền vận chuyển dầu độc quyền phải được trả lại cho
chính phủ Iran và các công ty nước ngoài sẽ phải trả thuế 4% cho lợi
nhuận tiềm năng kiếm được ở Iran, ông cũng cho phép báo chí soạn
thảo các bài xă luận chỉ trích các điều khoản của nhượng bộ D'Arcy .
Ông Abdolhossein Teymūrtāsh được cho là người đóng
vai tṛ quan trọng trong việc đặt nền móng cho Iran hiện đại trong
thế kỷ 20.

Abdolhossein Teymūrtāsh
Năm 1931, Teymourtash yêu cầu xem xét lại các cuộc
đàm phán v́ có sự nghi ngờ về báo cáo tài chánh của APOC, Công ty đă
khái báo cho chính phủ Iran rằng tiền dành cho quốc vương trong năm
chỉ có 366.782 bảng trong khi công ty đă trả thuế thu nhập cho chính
phủ Anh lên tới khoảng 1.000.000 bảng. Hơn nữa, theo kế toán của
công ty , lợi nhuận của công ty giảm 36% trong năm nhưng số tiền trả
cho chính phủ Iran giảm 76%.
Tháng 11 năm 1932, quốc vương Reza Shah đă ra lệnh
viết một lá thư gửi nội các hủy bỏ thỏa thuận D'Arcy. Chính phủ Iran
đă thông báo cho APOC rằng họ sẽ ngừng các cuộc đàm phán tiếp theo
và yêu cầu hủy bỏ thỏa thuận D'Arcy. Chính phủ Anh tự khẳng định
rằng họ "có quyền áp dụng mọi biện pháp có thể để bảo vệ Công ty"
nên phản đối yêu cầu hủy bỏ của Iran và tuyên bố sẽ thay mặt cho
APOC đưa vụ tranh chấp này ra Ṭa án Công lư Quốc tế thường trực tại
Hague.
Trong thời gian tranh chấp tại Hague, Bộ trưởng
Ngoại giao Séc làm trung gian ḥa giải đă cho phép các bên tranh
luận để t́m ra hướng giải quyết tranh chấp. Trớ trêu thay, quốc
vương Reza, người đă kiên quyết yêu cầu băi bỏ sự nhượng bộ D'Arcy
trước đó đột nhiên chấp nhận các yêu cầu của Anh, gây ra sự thất
vọng cho Nội các của nước ḿnh.

John Cadman - Quốc vương Reza Shah
Quốc vương Reza thay đổi ư kiến sau khi tiếp kiến
riêng với chủ tịch APOC, John Cadman đến thăm Iran vào tháng 4 năm
1933(?). Một thỏa thuận mới đă được thành h́nh sau đó và được Hội
đồng tư vấn quốc gia phê chuẩn vào ngày 28/5/1933 và nhận được sự
đồng ư của Hoàng gia vào ngày hôm sau.
Với thỏa thuận mới này APOC được phép thuê đất
tiếp 60 năm nhưng giảm diện tích kiểm soát xuống c̣n 260.000 km2 ,
hàng năm phải thanh toán thuế thu nhập của Iran, cũng như đảm bảo
khoản thanh toán tối thiểu 750.000 bảng cho chính phủ Iran.
Những điều khoản này, trông có vẻ thuận lợi nhưng
đă thể hiện một thỏa thuận cũng không công bằng cho chính phủ Iran.
Thỏa thuận kéo dài tuổi thọ của thỏa thuận D'Arcy thêm 32 năm nữa,
vô t́nh cho phép APOC chọn 260.000 km2 tốt nhất, số tiền bảo đảm tối
thiểu quá khiêm tốn đối với một công ty dầu hỏa to lớn được được
miễn thuế nhập khẩu và thuế hải quan.
APOC tiếp tục phát triển , mở rộng hoạt động lớn
và đổi tên thành AIOC vào năm 1935. Thế nhưng, tại Iran, phong trào
phản đổi AIOC ngày càng cao v́ AIOC đă không thực hiện những lời hứa
là sẽ mang lại cho người lao động mức lương cao hơn , xây dựng
trường học, bệnh viện, đường xá và hệ thống điện thoại cho Iran.
Khi Thế chiến II bùng nổ, Iran chính thức tuyên bố
trung lập trong cuộc chiến nhưng tháng 8/1941, Đế quốc Anh và Liên
Xô chiếm đóng các mỏ dầu lửa của Iran nhằm đảm bảo an toàn cho con
đường tiếp tế của các đồng minh phương Tây.
Năm 1952, được quốc hội đồng ư, Thủ tướng dân cử
Mohammad Mossadegh đă quốc hữu hóa AIOC. Sau đó Mosaddegh bị đảo
chánh bởi "Chiến dịch Ajax" do CIA của Hoa Kỳ thực hiện với sự giúp
đở của cơ quan t́nh báo bí mật của Anh .

Cuộc đảo chính Iran năm 1953
Khi Shah Mohammad Reza Pahlavi lên làm vua (tháng
9/1941), chế độ của Shah không được những tín đồ Hồi giáo Shia ưa
chuộng v́ ông chịu quá nhiều ảnh hưởng của thế lực phi Hồi giáo
phương Tây (Hoa Kỳ). Những người này tin rằng nền văn hóa của phương
Tây đang làm ô uế đất nước Iran và chế độ của Shah thối nát. Từ đó
phát sinh ra nhiều cuộc biểu t́nh , đưa đến Cách mạng Hồi giáo vào
tháng 2/1979

Cách mạng Hồi giáo năm 1979
Sau cách mạng Hồi giáo năm 1979, Công ty Dầu khí
Quốc gia Iran (NIOC) nắm quyền kiểm soát ngành dầu khí của Iran và
hủy bỏ các thỏa thuận dầu khí quốc tế của Iran. Iran đă hủy bỏ thỏa
thuận và dùng một quy tŕnh trọng tài phức tạp để giải quyết mọi bất
đồng phát sinh. Từ năm 1995, Hoa Kỳ đă cấm vận thương mại và đóng
băng tài sản của Iran . Từ năm 1979 đến năm 1998, Iran đă không kư
bất kỳ thỏa thuận dầu khí nào với các công ty dầu khí nước ngoài .
Khi Mohammad Khatam lên làm tổng thống(1997-2005),
Iran đă đầu tư hơn 40 tỷ USD vào việc mở rộng công suất của các mỏ
dầu hiện có và khám phá các mỏ dầu mới. Nhiều dự án được tài trợ
dưới h́nh thức đầu tư chung với các công ty nước ngoài hoặc nhà thầu
trong nước hoặc thông qua đầu tư trực tiếp của NIOC. Theo luật mới,
đầu tư nước ngoài vào phát hiện dầu chỉ có thể được thực hiện dưới
h́nh thức thỏa thuận mua lại, theo đó NIOC được yêu cầu hoàn trả chi
phí và duy tŕ quyền sở hữu hoàn toàn mỏ dầu.
Năm 2011, mặc dù Iran đang trong thời gian dài bị
trừng phạt của Hoa Kỳ nhưng doanh thu từ dầu hỏa vẫn tăng . Việc kư
kết thỏa thuận hạt nhân JCPOA vào tháng 7 năm 2015 đă giúp việc xuất
dầu của Iran trở lại như xưa , không bị cản trở trên thị trường thế
giới.
Thế nhưng, tháng 5 năm 2018, T/thống Mỹ Donald
Trump đơn phương rút khỏi JCPOA và áp dụng lại lệnh cấm vận đối với
Iran. Tháng 7/2019, Mỹ yêu cầu Anh bắt giữ tàu chở dầu Grace 1 của I
ran tại Gibralta. Vụ việc là một trong nhiều vụ được coi là cuộc
khủng hoảng vùng Vịnh Ba Tư 2019. Từ đó căng thẳng giữa 2 nước Mỹ và
Iran ngày càng leo thang.
Hiện nay, Iran là nước thứ năm trên thế giới có
lượng trữ dầu lên đến 150,31 tỷ thùng , chiếm khoảng 10% của tổng số
trữ lượng dầu của toàn cầu (1.780 tỷ thùng). Iran cũng là nước có
trữ lượng khí tự nhiên thứ hai thế giới (sau Nga) .
Trước đây, Iran xuất khẩu khoảng 2,6 triệu thùng
dầu thô mỗi ngày, là nhà xuất khẩu lớn thứ hai trong số các Tổ chức
Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Mức cao nhất mọi thời đại là 3.987.000
thùng / ngày vào tháng 7 năm 2005. Nhưng kể từ khi Mỹ áp dụng lại
lệnh trừng phạt, số lượng dầu xuất cảng đă hạ đến mức thấp kỷ lục là
2.102.000 thùng / ngày vào tháng 11 năm 2019.
Một số nền kinh tế mới nổi lớn phụ thuộc vào dầu
của Iran: 10% lượng dầu nhập khẩu của Hàn Quốc đến từ Iran, 9% của
Ấn Độ và 6% của Trung Quốc. Dầu Iran chiếm 7% của Nhật Bản và 30%
tổng lượng dầu nhập khẩu của Hy Lạp. Iran cũng là nhà cung cấp dầu
lớn cho Tây Ban Nha và Ư.
Như đă tŕnh bày ở phần nhập đề, việc t́m thấy DẦU
ở Iran tuy đă đem lại sự phồn vinh cho đất nước Iran nhưng cũng v́
đó mà MÁU đă đổ ra do phát sinh nhiều xung đột tranh giành quyền lực
giữa các phe phái trong nội bộ nước Iran và giữa Iran với các nước
láng giềng và nhất là đối với 2 cường quốc Anh và Mỹ. Nhiều cuộc
biểu t́nh lớn đă đưa đến cách mạng Hồi giáo, biến Iran từ một nước
theo chế độ quân chủ thành một nước Cộng ḥa Hồi giáo , làm thay đổi
lịch sử của nước này và xa hơn là lịch sử của thế giới nói chung.
Con người đă đổ mồ hôi để t́m ra dầu nhưng con
người phải đổ máu để sử dụng nó .
Hiện nay, tại biển Đông, DẦU là nguyên nhân chính
của các cuộc tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực. Mong rằng
MÁU sẽ không phải đổ ra khi người ta t́m ra DẦU.
Montreal, ngày 10/01/2020
Ngô Khôn Trí
|