|

Chi phí quốc
pḥng và sức mạnh quân sự của một quốc gia
Ngô Khôn Trí (Exryu
Canada)
Năm 2012, chi phí quốc pḥng (hay chi phí quân sự)
của thế giới là 1750 tỷ USD, đây là lần đầu tiên kể từ năm 1998 chi
phí quốc pḥng của thế giới giảm, thấp 0,5% so với năm 2011. Nguyên
nhân chính là do Mỹ, Canada, các nước châu Âu giảm ngân sách quốc
pḥng. Sự thay đổi lớn nhất là Mỹ đă giảm 6 % chi phí quốc pḥng nhờ
giảm các hoạt động quân sự ở nước ngoài, nhất là chi phí cho cuộc
chiến ở Iraq và Afghanistan.

Chi phí quốc pḥng của thế giới năm
2010
Từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chánh 2007 đến
nay các nước giàu có bên châu Âu phải “thắt lưng buộc bụng”, t́m
cách tiết giảm chi phí quốc pḥng, trong khi đó các nước châu Á (phần
lớn c̣n đang nghèo) th́ ngược lại tiếp tục gia tăng chi phí này, tạo
thành một thị trường béo bở cho các công ty kinh doanh vũ khí. Năm
2012, ngân sách quốc pḥng khu vực châu Á tăng 4,94% đạt ngưỡng
287,4 tỉ USD, lần đầu tiên vượt các nước châu Âu. Một phần của số
tiền này được dùng để mua máy bay chiến đấu, tàu ngầm, tàu chiến,
tên lửa, đan dược.
Từ năm 2006 đến năm 2012, các nước châu Âu thuộc
khối NATO giảm ngân sách quốc pḥng 11%, và từ năm 2000 đến 2012, số
quân nhân của các nước này giảm 25%, từ 2,51 triệu người xuống c̣n
1,86 triệu người.
Trong khi đó, ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc
vào năm 2012 đă tăng đến 143 tỷ USD, tăng gấp đôi trong ṿng 5 năm.
Ấn Độ là 37 tỷ USD (là quốc gia nhập vũ khí nhiều nhất thế giới 3,3
tỷ USD vào năm 2010). Philippines đă công khai vào năm 2013 sẽ là
2,9 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2012. Indonesia khoảng 8,1 tỷ USD,
tăng 18% so với năm 2012. Malaysia tăng từ 4,3 tỷ USD lên 4,65 tỷ
USD. Thái Lan là 5,5 tỷ USD (năm 2012) và sẽ tăng 10% vào năm 2013.
Singapore là 9,8 tỷ USD (2010). Nam Hàn là 26,5 tỷ USD (2010). Nhật
Bản là 52,2 tỷ USD, chiếm 5,1% GDP. tăng 40 tỷ yên so với năm 2012,
là lần tăng ngân sách quốc pḥng đầu tiên của Nhật Bản sau 11 năm.
Việt Nam là 2,4 tỷ (3,4 tỷ ?) (năm 2012, 2% GDP, tăng 35 % kinh phí
mua sắm các loại vũ khí mới).
Theo tài liệu của SIPRI (Stockholm International
Peace Research Institute), chi phí quốc pḥng của Mỹ chiếm gần 45%
tổng chi phí quốc pḥng của toàn thế giới. Vị trí thứ hai thuộc về
Trung Quốc với 143 tỉ USD. Thứ ba là Nga với 71,9 tỷ USD, sau đó là
Anh, Pháp.



Chi phí quốc pḥng hay ngân sách quốc pḥng của 1
quốc gia là tổng chi phí có liên quan đến các hoạt động và chính
sách quân sự của quốc gia đó. Bao gồm những chi phí trả lương, huấn
luyện binh sĩ, bảo tŕ và mua sắm vũ khí mới, nghiên cứu chế tạo vũ
khí,v,v….
Lúc yên ổn ḥa b́nh không có chiến tranh th́ người
ta gọi chi phí này là chi phí duy tŕ quân đội, khi chiến tranh xảy
ra th́ người ta gọi là chi phí chiến tranh. Theo nghĩa hẹp là tổng
chi phí nhân sự (bao gồm lục quân, hải quân, không quận, t́nh báo
viên) cộng với chi phí phát triển và duy tŕ vũ trang. Thế nhưng,
tùy theo cách phân loại của mỗi quốc gia, chi phí quốc pḥng này có
khác nhau . Có quốc gia phát hành công trái để tài trợ cho các chi
phí quốc pḥng, cho nên các chi phí phát hành công trái và tiền lăi
vay cũng được gộp chung vô chi phí quốc pḥng.
Về cơ bản, nguồn chi tiêu này là tiền thuế của
người dân. Nh́n từ khía cạnh kinh tế th́ quân đội là 1 tổ chức phi
sản xuất, chi phí quân đội không phải là loại đầu tư có thể thâu hồi
lại vốn được, nó chỉ là chi phí tiêu thụ thiết tha. Ngoài những nước
như Algeria, Azerbaijan, Nga và Ả Rập Saudi tăng chi phí quốc pḥng
nhờ thâu nhiều lợi nhuận từ dầu hỏa và khí đốt, hay Trung Quốc và Ấn
Độ tăng chi phí quốc pḥng để chứng tỏ sức mạnh chính trị của ḿnh,
các quốc gia khác quyết định tăng chi phí quốc pḥng thường là do có
xung đột vũ trang và bị uy hiếp. Do đó, không phải chỉ có những quốc
gia có GDP lớn mới có chi phí quốc pḥng lớn mà có nhiều quốc gia
tuy GDP thấp hơn nhưng lại có chi phí quốc pḥng cao hơn bởi v́ đất
nước của họ đang ở trong t́nh huống bị uy hiếp.
Nhà toán học kiêm khí tượng học và tâm lư học
người Anh tên là Lewis Fry Richardson (11/10/1881 ~ 30/9/1953) đă
nghĩ ra mô h́nh để suy tính ra chi phí quốc pḥng của 1 quốc gia dựa
trên những thông số như sau:
△X=kY-aX+g
(với X : lực lượng quân đội của nước X, Y : lực lượng quân đội của
nước Y
k : hệ số uy hiếp, a: hệ số tiêu thụ, g: độ cảnh
giác của nước X đối với nước Y).
Ông Lewis Fry Richarson đă thử t́m cách phân tích
các tranh chấp quốc tế bằng toán học giống như phân tích khí tượng.
Theo ông chi phí quốc pḥng tỷ lệ thuận với độ bất tín đối với quân
địch và quân lực của quân địch, tỷ lệ nghịch với quân lực hiện tai.
Ngoài ra, ông cũng phân tích thống kê về nguyên nhân gây ra chiến
tranh bao gồm yếu tố kinh tế, tôn giáo và ngôn ngữ.
Năm 2010, trên thế giới có 28 quốc gia độc lập
không có quân đội. Phần lớn những quốc gia này có diện tích nhỏ, có
dân số không quá 500 000 người, đều tham gia vào hệ thống an ninh
tập thể hoặc nhận sự bảo vệ của 1 nước lớn. Những lư do tại sao các
quốc gia này không có quân đội là: -Ngoại giao : ví dụ như nước
Barbados, Antigua and Barbuda.
-Kinh tế : Liên bang Comoros không có đủ tiền để
thành lập quân đội,
-Tránh nội chiến và đảo chánh; Costa Rica, Haiti,
Commonwealth of Dominica.
-Quân đội bị giải thể bởi quốc gia chiếm đóng:
Grenada, Cộng ḥa Panama. Nhật Bản, chính thức theo điều 9 của hiến
pháp, không được quyền có quân đội tham chiến mà chỉ có tự vệ đội
thôi, thế nhưng Nhật Bản là quốc gia có chi phí quốc pḥng cao đứng
hàng thứ 6 trên thế giới và v́ được Mỹ bảo vệ nên mỗi năm Nhật Bản
phải chi 188 tỷ Yên (tương đương 2,3 tỷ USD) cho việc duy tŕ quân
Mỹ đóng tại Nhật.
Do t́nh h́nh căng thẳng ở vùng biển Đông, Việt Nam
một mặt tiếp tục duy tŕ 480 ngàn quân chính quy, 4,5 triệu quân dự
bị, một mặt tăng cường cho quân sự trong những năm qua. Đặc biệt
nhất là việc mua thêm những tàu ngầm, phi cơ chiến đấu hiện đại để
nâng cao khả năng chiến đấu ở khu vực có tranh chấp với Trung Quốc,
nơi có nhiều tài nguyên dầu khí và khí đốt.
Theo LES ECHOS DATA, chi phí phí quốc pḥng của
Việt Nam trong những năm qua được biểu thị qua đồ thị dưới đây:

Năm 2003, Việt Nam mua của Nga 12 chiếc tàu chiến
tốc độ cao mang tên lửa “Lightning”. Mua các loại tàu tấn công/tuần
tra tốc độ cao của Hàn Quốc “Dolphin”/ “Wildcat”. Mua của Ba Lan 4
tàu hộ vệ hạng nhẹ “Miners”, 1 tàu huấn luyện “Nick Ward”, 8 tàu
tuần tra bờ biển “Pilica”, và một tàu tuần tra cỡ lớn “Aubrey Lutz”
đă cải tiến.
Năm 2005, Việt Nam mua của Ba Lan 12 chiếc máy bay
tuần tra trên biển M-28, 4 máy bay trực thăng cứu hộ trên biển W-3RM
và 8 hệ thống trinh sát trên biển MSC-400.
Năm 2007, Việt Nam lại mua của Nga 2 tàu hộ vệ
“Cheetah” và một hệ thống tên lửa chống hạm trên bờ mới nhất để lắp
ráp tên lửa hành tŕnh chống hạm có tốc độ siêu âm "Ruby".
Năm 2008, Việt Nam đă kư hợp đồng mua của Nga 6
chiếc tàu ngầm Project 636M lớp Kilo. Giá mỗi chiếc tàu ngầm này là
300-350 triệu đô la và tổng giá trị hợp đồng là 1,8 - 2,1 tỷ USD.
Việt Nam cũng đă mua của Nga 12 chiếc máy bay chiến đấu Su-27SK/UBK
(giá khoảng 30 triệu USD/chiếc) và 24 chiếc Su-30MK2V (giá khoảng 53
triệu USD/chiếc) và dự định sẽ mua thêm loại Su-35 (giá khoảng 60
triệu USD/chiếc), là loại hạng nặng, tầm xa và đa năng.

Tàu ngầm Kilo 636

Máy bay chiến đấu Sukhoi Su-30MK2V
Trong những năm qua, Nga là quốc gia cung cấp vũ
khí chính cho Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đă trở thành một trong
tám nước bạn hàng lớn nhất của vũ khí Nga, chiếm hơn 6% trong tổng
tỷ lệ xuất khẩu vũ khí của Nga, tỷ lệ này sẽ tăng đến 9% trong vài
năm tới. Việt Nam sẽ tiếp tục mua máy bay chiến đấu đa năng Su-30,
Su-35 , tàu ngầm, tàu nổi thông thường, tàu hỗ trợ và tàu ngầm, hệ
thống tên lửa diệt hạm, hệ thống tên lửa pḥng không, các thiết bị
tác chiến điện tử.

Hải quân Việt Nam
Khi so sánh sức mạnh quân sự của 1 quốc gia, người
ta không thể chỉ dựa vào chí phí quốc pḥng hay số lượng binh sĩ
đang hiện hữu mà c̣n phải xem xét đến nhiều yếu tố khác như: tinh
thần chiến đấu của quân sĩ, kinh nghiệm chiến đấu, khả năng chỉ huy,
chiến lược quân sự, tính năng và số lượng của vũ khí đang sử dụng,
năng lực sản xuất vũ khí, số lượng tài nguyên năng lượng sở hữu, khả
năng sản xuất lương thực, môi trường địa lư, hệ thống xă hội, sức
mạnh của đồng minh của quốc gia đó, v.v…
Làm sao để có thể bảo đảm việc duy tŕ ḥa b́nh (
nguyện vọng tha thiết và chính đáng ) mà không cần phải chi tiêu cho
quốc pḥng quá nhiều là điều mà tất cả các quốc gia đều mong muốn.
Tuy nhiên, nếu phải chiến đấu để sống c̣n, để bảo vệ đất nước, người
dân của nước bé đó có thể hy sinh mạng sống của cá nhân ḿnh như anh
hùng Kamakaze của nước Nhật trong thế chiến thứ hai, để phá hủy
những chiến hạm khổng lồ của nước lớn đi uy hiếp các nước bé.
Liệu các đế quốc có thể thực hiện mộng bá chủ của
ḿnh được hay không ? Liên Hiệp Quốc với 192 thành viên chắc chắn sẽ
không tha thứ cho hành động xâm chiếm của bất cứ quốc gia nào.
Ai gieo gió ắt sẽ gặp băo ?
Montréal, ngày 16/5/2013
Ngô Khôn Trí
|
|