|

Nhìn lại vấn
đề tranh dành chủ quyền giữa Argentina và Anh
trên các quần
đảo Malvinas-Falkland
Ngô Khôn Trí (Exryu
Canada)
Từ ngày 21 tháng 2 năm 2010. Công ty Desire Petroleum của Anh đã
bắt đầu khai thác dầu hỏa tại 1 điểm phía bắc gần quần đảo mà người
Argentina gọi là Malvinas, người Anh gọi là Falkland,
là nơi có trữ lượng dầu khí khá lớn,
ước tính trữ lượng 60 tỷ thùng dầu.Việc khai thác này đã làm cho
Argentina giận dữ vì nơi đây vẫn còn nằm trong vùng tranh chấp chủ
quyền của 2 nước, làm gia
tăng căng thẳng trở lại mối quan hệ giữa hai nước vốn lạnh nhạt từ
sau cuộc chiến năm 1982. Dư luận thế giới nhớ lại
cuộc chiến tranh đẫm máu vào năm 1982, cách đây 28 năm, kéo dài 74
ngày giữa Argentina và Anh về việc tranh dành chủ quyền trên các
quần đảo Malvinas-Falkland.

Malvinas-Falkland, nằm ở Nam Đại Tây Dương, có
diện tích 12 173 cây số vuông, cách bờ biển Argentina chỉ có 483 km
nhưng cách nước Anh tới 4000 km, dân số chỉ có 3140 người (2008).
Nguyên thủy, đó là những hòn đảo hoang vắng,
người Patagonian Indians đã đến đầu tiên bằng những chiếc xuồng
(canoe). Vì nằm trên vị trí có nhiều tàu bè qua lại nên các hòn đảo
này đã bị chiếm đóng bởi Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Argentina. Các
nước ghi lại các sự kiện lịch sử theo chủ quan của riêng mình.
Năm 1501, nhà mạo hiểm Tây Ban Nha, Amerigo
Vespucci khi du hành vòng quanh vùng Nam Đại Tây Dương, đã quan sát
các hải đảo này, nhưng ông ta không đặt tên cho chúng. Năm 1520,
các thủy thủ của đoàn thám hiểm Magallan gọi các đảo đó là "Islas de
Sansón y de los Patos" ("Islands of Samson and the Ducks").
Năm 1690, thuyền trưởng người Anh, John Strong
đã đến 1 eo biển nằm giữa các hòn đảo chính và đặt tên là “Falkland
Sound”.
Năm 1764, Louis Antoine de Bougainville, người
Pháp, chiếm làm thuộc địa đầu tiên, đặt tên là
Port St. Louis (cảng St.Louis).
Năm 1765, John Byron, Anh,
không biết sự hiện diện của Pháp nên đã khai thác phía tây của quần
đảo, chiếm làm thuộc địa năm 1766 và đặt tên là Port Egmont.
Năm 1767, Pháp đã bán các quần
đảo thuộc địa choTây Ban Nha với giá 603000 livres. Bougainville
dùng số tiền đó để sửa tàu và mua đồ dự phòng cho chuyến du hành
vòng quanh thế giới.
Năm 1770, Tây Ban Nha đã dùng
vũ lực tấn công Port Egmont, trục xuất cư dân Anh ra khỏi đảo. Việc
này đã đưa 2 nước đến bên cạnh hố chiến tranh. Nhưng sau đó, Anh
trở lại nhờ 1 hiệp ước hoà bình.
Năm 1774, vì áp lực kinh tế do
bởi Chiến tranh Độc lập của Mỹ (1775-1783), Anh đơn phương quyết
định rút khỏi các thuộc địa. Nhờ đó, từ năm 1771 đến 1811 Tây Ban
Nha bảo quản nhưng sau đó bỏ đi vào năm 1811.
Năm 1828, Argentina thành lập
thuộc địa dùng làm nơi giam giữ tội nhân.Tháng 11 năm 832 các tù
nhân và hải tặc đã nổi loạn và giết chết Thống đốc.
Tháng giêng năm 1833, lực lượng
Anh trở lại, xây dựng căn cứ hải quân cho Hoàng gia Anh và sau đó
trở thành 1 căn cứ chiến lược quan trong trong suốt 2 cuộc đệ nhất
và đệ nhị thế chiến.
Chủ quyền của các hải đảo này
trở thành đề tài tranh cãi trong nữa sau của thế kỷ 20.
Năm 1945, khi ký vào hiến
chương Liên Hiệp Quốc, Argentina khẳng định chủ quyền của mình và
tuyên bố đòi lại các hải đảo này. Nhưng Anh trả lời rằng điều kiện
tiên quyết và thiết yếu là phải thi hành nghi quyết 1514(XV) của LHQ.
Đối với các thuộc địa vẫn còn đang bị chiếm đóng, vấn đề rút quân
phải tùy vào kết quả của cuộc trưng cầu dân ý của dân cư trên các
hải đảo đó. Gần 1800 của 2000 cư dân là gốc Anh, muốn Anh ở lại.
Chính vì thế các cuộc đàm phán giữa 2 nước vào những thập niên 1960
đã không đi đến kết quả.
Vào ngày 2 tháng 4 năm 1982
Argentina đã dùng 8000 lính và 20 chiến xa đổ bộ lên quần đảo, nắm
quyền kiểm soát, lấy lý do là vì họ đã dành được độc lập, thoát khỏi
nền cai trị của Tây Ban Nha từ năm 1816 và Tây Ban Nha đã để lại các
quần đảo đó cho họ.
Ngày 3 /4 /1982 Liên Hiệp Quốc
biểu quyết yêu cầu quân đội Argentina rút lui nhưng Argentina từ
chối. Thủ tướng Anh đương thời là bà Margaret Thatcher (mệnh danh là
Iron lady) đã ra lệnh cho 27 000 lính và 100 tầu chiến xuất trận (rất
ít người Anh biết về những hải đảo đó). Chiến tranh diễn ra trên
biển và trên không. Argentina đã sử dụng chiến đấu cơ A-40 Skyhawks
mua của Mỹ để đánh chìm 3 chiến hạm Sheffield, Coventry và
SirGalahad của Anh.Tuy nhiên, cuối cùng, vào ngày 14/6/1982, sau 72
ngày giao chiến, Anh bao vây và Argentina đầu hàng. Phía Anh có 225
lính tử vong, 3 cư dân chết 777 người bị thương và 59 tù binh. Phía
Argentina có 649 lính tử vong, 1068 người bị thương và 11 313 bị bắt
làm tù binh. Kể từ 1/1/1983 tất cả cư dân phải nhập tịch Anh.
Argentina thua đậm
vì nhiều lý do :
-Anh có nhiều vũ khí tối tân
hơn trong khi vũ khí của Argentina cũ kỷ
và ít hơn.
-Argentina không được sự ủng hộ của Liên Hiệp Quốc.
-Argentina lại không có đồng minh mạnh như Mỹ, Pháp,
Nga hay Bồ Đào
Nha. Các nước láng giềng lại là những nước còn kém phát triển và
không đoàn kết.
-Trận chiến xảy ra trên những hải đảo xa xôi, cho dù tinh thần chiến
đấu chống ngoại xâm của Argentina lên rất cao trong thời gian tướng
Galtieri nắm quyền. Niềm kiêu hãnh tự hào của đất nước không được
phát huy đúng chỗ.
Trong lần tranh chấp lần này
Argentina đã không dùng giải pháp chiến tranh.
Họ đã :
-Yêu cầu Tổng thư ký Liên Hiệp
Quốc can thiệp và đồng lúc yêu cầu Mỹ đóng vai trò trung gian để ép
London ngồi vào bàn đàm phán.(Ngày 1/3/2010 Ngoại trưởng Mỹ, bà
Hiraly Clinton nói sẽ ủng hộ cho việc đối thoại nhưng tránh né phát
biểu công khai. Tại Uruguay, Bà đã phát biểu là sẽ sẳn sàng giúp đỡ
2 phía, nhưng khi đứng bên lãnh đạo Argentina bà từ chối không đứng
ra hòa giãi vụ này.)
-Nữ Tổng thống Cristina
Fernandez de Kirchner đã tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của các
nước tham dự Hội nghị Thượng Đỉnh các nước Nam Mỹ và Caribean. Tổng
thống Hugo Chavez của Venezuela tuyên bố ; « Nếu xẩy ra xung đột,
Argentina sẽ không đứng riêng rẽ 1 mình. ».
-Dùng biện pháp cứng rắn bằng
cách ra sắc lênh bắt buộc các tàu bè ra vào quần đảo phải xin phép
khi đi qua lãnh hải hoặc sử dụng các cảng của Argentina.
Việc đấu tranh dành lại chủ
quyền trên các hải đảo từ các cường quốc là 1 nhiệm vụ vô cùng khó
khăn vì không tranh thủ được sự ủng hộ của các nước lớn, bản thân
các nước lớn đều là những nước đang có vấn đề với các thuộc địa mà
họ đã và đang chiếm đóng. Sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc cũng bị
giới hạn vì mọi nghị quyết của Hội đồng Bảo an chỉ được thông qua
với sự nhất trí của 5 nước thành viên cố định là
Hoa
Kỳ,
Anh,
Pháp,
Nga
và
Trung Quốc. Mỗi khi có một nghị quyết của
Hội đồng Bảo an không được thông qua do 1 nước thành viên cố định bỏ
phiếu chống, thì coi như là đã
phủ
quyết. Do đó, việc tranh thủ các nước
thành viên mới như :
Đức,
Nhật Bản,
Brasil,
Ấn
Độ, Nam phi hoặc Nigeria rất cần thiết
cho tương lai. Cho dù tinh thần dân tộc có lên cao đi nữa nhưng nó
không thể thể hiện được trên những hòn đảo xa xôi với những chiến
hạm yếu kém và ít ỏi. Có những quốc gia bằng lòng hợp tác khai thác
tài nguyên chia sẻ quyền lợi thay vì chạy đua vũ trang làm nghèo
ngân sách quốc gia, cũng có những quốc gia đấu tranh quyết liệt để
dành lại chủ quyền. Nhưng cũng có những quốc gia dùng ngoại giao và
sức mạnh mền để làm vũ khí chống lại, v.v…
Một vấn đề trọng đại cần
được xem xét cẩn thận và nhìn xa.
Lạm bàn (bàn luận ngoài phạm
vị hiểu biết của mình).
Montréal, ngày 30/3/2010
N.K.Trí
|