|

Tô Thùy Yên, lá rơi về cội
Nghiêm Nguyễn

Nhà thơ Tô Thùy Yên
“… Sự ra đi của ông là một mất dấu của văn chương miền Nam.
Rồi sẽ không còn ai nữa trong mươi năm tới. Nỗi buồn này vì
vậy, nhiều hơn là nỗi buồn về một nhà thơ lớn tuổi vừa qua
đời.” Nhà thơ Phan Nhiên Hạo thuộc một thế hệ trẻ hơn đă viết trên
Facebook sáng thứ Tư, sau khi hay tin thi sĩ Tô Thùy Yên đă giă từ
trần thế vào lúc 9:15 tối thứ Ba, 21 tháng 5, 2019 tại Houston,
Texas, hưởng thọ 81 tuổi.
Tô Thuỳ Yên tên thật là Đinh Thành
Tiên, sinh năm 1938 tại G̣ Vấp, Gia Định, là cựu học sinh Petrus Kư
và Đại học Văn khoa Sài G̣n. Ông dạy học, làm báo tại Sài G̣n và
mang cấp bậc Thiếu tá trong quân đội miền Nam trước 1975.
Sau 1975 ông
bị chế độ Cộng Sản giam trong tù 13
năm v́ là sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa với cấp bậc thiếu
tá và v́ tội làm thơ. Năm
1993, ông cùng gia đ́nh sang Hoa Kỳ định cư theo diện cựu tù nhân
chính trị.
Ông là tác giả thành danh rất
sớm, từ năm 16,17 tuổi đă có văn thơ thường xuyên đăng trên các báo.
Tô Thuỳ Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các hoạ sĩ Duy
Thanh, Ngọc Dũng, là những người ṇng cốt của nhóm Sáng Tạo mà ông
là người miền Nam duy nhất trong nhóm. Bài thơ “Cánh đồng, con ngựa,
chuyến tàu” ông sáng tác năm 1956 khi c̣n là một thiếu niên có thể
xem như một khởi đầu, báo hiệu cho một tinh đẩu sáng chói vừa xuất
hiện trên bầu trời văn học miền Nam Việt Nam. Đó
không phải là một bài thơ t́nh học
tṛ với những rạo rực yêu đương, mộng tưởng, nhớ nhung lẩm cẩm - mà
lại là một bài thơ đẫm triết lư; không phải là một thứ triết lư vớ
vẩn, mà là chứa chất một cái nh́n rất bao quát. Toàn bài là một bức
tranh sinh động, rất đẹp, rất hoành tráng và chấm dứt bằng một bi
kịch đầy ấn tượng: tàu chạy mất và con ngựa th́ gục ngă. Một gục ngă
êm đềm, thẩm mỹ, một ẩn dụ triết lư tuyệt vời.
Tô Thùy Yên làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ
xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Có bài rất ngắn, “Tặng
Phẩm,” chỉ có 14 chữ; có bài rất dài, “Mùa Hạn,” gồm đến 188 câu,
1,326 chữ. Một trong những đặc điểm của thơ Tô Thùy Yên là sự pha
trộn giữa truyền thống và cách tân, bên cạnh những từ ngữ mang hơi
hướng hiện đại như mặt trời con, lịch sử sanh cầm, sự can trường của
hiện hữu…. ông lại xử dụng những chữ rất cổ điển như thiên thu, phù
du, vạn cổ….
Chẳng hạn như "Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng/Giăng qua đôi
bờ vực lạnh hư vô", ta lại đọc thấy "Có gă hề cuồng ra giữa
chợ/Hát ngao những đoạn sấm truyền xưa “. Thêm vào đó, cũng như
Trịnh Công Sơn, ông sáng tạo nhiều từ ngữ mới lạ. Nếu ở TCS, ta có
nào là: tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ
trắng…th́ ở thơ Tô Thùy Yên chúng ta có: lăng quên xanh, u hoài mốc,
mịt mùng nghi hoặc, lưu cữu gió….
Thơ của ông mang nhiều khái niệm, h́nh tượng triết lư, siêu h́nh
nhưng lại không thiếu những h́nh ảnh rất hiện thực. Đó là phong cách
độc đáo của thơ Tô Thùy Yên.
Nhiều người cho rằng Chiều Trên Phá Tam Giang, Trường Sa Hành,
Ta Về... là những bài thơ tiêu biểu Tô Thùy Yên, có lẽ tiêu biểu
thơ chính khí, chính luận th́ đúng hơn.
Chiều trên phá Tam Giang đặt vấn
đề về chiến tranh, t́nh yêu và thân phận con người trong gịng trôi
nghiệt ngă của lịch sử.
Đề cập
về thân phận người lính trong cuộc chiến:
“Chúng ta
khác nào cánh quạt phi cơ
Phải quạt, phải quạt
Ta thương ta yếu hèn
Ta thương người khờ
khạo
Nên cả hai cùng cam
phận quay cuồng
Nên cả hai cùng mắc
đường Lịch Sử”
Và về t́nh yêu:
Giờ này có thể trời đang nắng
Em rời thư viện đi rong chơi
Dưới đôi ṿm cây ủ yên tĩnh
Viền ḍng trời ngọc thạch len trôi
Nhạc
sĩ Trần Thiện Thanh lấy một phần bài thơ mang ra phổ nhạc rất được
nhiều người ưa thích.
Một
kiệt tác văn chương khác được ông sáng tác trước năm 1975 nhưng ít
người biết đến hơn là bài Trường Sa hành.
Tháng
Ba năm 1974, hai tháng sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng
Sa, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đưa một phái đoàn đi thăm một đảo
trong quần đảo Trường Sa; chắc để ủy lạo tinh thần các quân nhân đồn
trú. Trong số người tham dự chuyến đi có Đại Úy Đinh Thành Tiên, tức
thi sĩ Tô Thuỳ Yên. Khi trở về Tô Thùy Yên viết bài thơ Trường Sa
Hành, đăng trên tạp chí Văn, ở Sài G̣n.
Nhưng
"Hành” là ǵ? "Hành" là một loại thơ cổ phong có từ đời Đường, của
truyền thống thi ca Trung Hoa, một số nhà phân tích, phê b́nh văn
học cổ đă xếp thể loại “Hành” cùng với những thể cổ phong khác như
“Ca, ngâm, hành, từ, khúc”. Trong thi ca VN thời tiền chiến
có 2 bài hành được nhiều người biết là bài "Tống Biệt Hành" của Thâm
Tâm và bài "Hành Phương Nam" của Nguyễn Bính.
Tuy
nhiên có người hiểu "Hành" một cách đơn giản hơn: Hành là đi, là đến
trong từ hành tŕnh, du hành, vi hành, bộ hành hay hành khách… Nhà
văn đi và viết th́ gọi là kư. Nhà thơ đi và làm thơ th́ gọi là Hành.
Đi Trường Sa làm thơ th́ đặt tên bài thơ là Trường Sa Hành. Dù hiểu
"Hành" theo nghĩa nào, bài "Trường Sa Hành" là một tuyệt tác phẩm
văn học, một bản bi hùng ca trong lịch sử bảo vệ biển Đông của các
chiến sĩ VNCH. Đó không phải là tiếng trống thúc quân, không là
những hô hào, cổ vơ chiến tranh, không có những câu thơ sặc mùi chém
giết và tôn sùng lănh tụ như của văn nô Tố Hữu:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung ḷng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin...bất diệt.”
Hay
Chúng ta đang ở trên đầu chúng nó
Đại bác ta sau rèm tre ngảnh cổ
Trông xuống khoanh đồi nọ
Ngon như một đĩa thịt ḅ tươi
Ở dưới kia chúng nó đang cười
Cười đi nhé các con ơi rồi chết.
Trường
Sa hành chỉ là những xúc
động rất thật của người thi sĩ khi đặt chân lên một ḥn đảo rất xa
nhưng vẫn thuộc về đất nước ḿnh, chia sẻ nỗi ḷng những người “lính
thú” đóng trên đảo.
“Trường Sa! Trường Sa! Đảo
chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng
bốn bề.
Lính thú mươi người lạ
sóng nước,
Đêm nằm c̣n tưởng đảo
trôi đi.
Bài
thơ diễn tả tâm trạng những người lính trấn đảo nhưng cuối cùng trở
về nỗi thao thức thân phận của con người.
Bốn trăm
hải lư nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác kḥm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh
Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.
Người thi sĩ không viết để tuyên truyền cho bất cứ một chế độ, một
chủ nghĩa hay một cuộc chiến nào. Tô Thùy Yên cũng như các văn nghệ
sĩ khác dù mặc áo lính nhưng họ được hoàn toàn tự do sáng tác theo
cảm hứng, cảm xúc cá nhân riêng tư của ḿnh. Không ai viết theo kế
hoạch, theo chính sách hay chỉ thị của cấp trên, không ai chấp nhận
thân phận của một bồi bút, văn nô như vẫn thường thấy ở các chế độ
độc tài, Cộng Sản.
Cho
tới nay, Trường Sa Hành có
lẽ là bài thơ về biển đảo hay nhất của Việt Nam. Nó như một viên
minh châu đang chiếu lóng lánh giữa ḷng dân tộc.
Năm
1985 sau khi được phóng thích của lần đầu ở tù cải tạo 10 năm, ông
cảm khái những dâu bể của cuộc đời, những đảo điên của thời thế nên
đă trước tác bài thơ Ta Về, một áng văn chương rực rỡ trong
văn học Việt Nam. Bài thơ làm theo thể thơ 7 chữ, dài tổng cộng 126
câu thơ, trong đó có những câu được xem như tuyệt cú:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đă v́ ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi
.....................................................
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua.
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn,
Đành không trải hết được ḷng ta.
Nhà phê b́nh văn học Thụy Khuê trong
bài viết “Tô Thùy Yên, thời gian, tồn tại, cô đơn và đá” ghi nhận về
bài thơ và nhà thơ Tô Thùy Yên:
"Đi từ những nghiệm sinh về sự tồn tại
và thời gian, rất Heidegger ấy, thơ Tô Thùy Yên đớn đau và sâu sắc,
ông tạo ra một mẫu cô đơn hành giả, có khả năng đi ngược thời gian,
suốt đời t́m lại chính ḿnh, đằng vân trong một vũ trụ đau thương, ô
nhiễm những lừa lọc, tội tù và chết chóc...
“Ở Tô Thùy Yên, c̣n một con người nữa
trong đó chất hành giả, ư niệm quân tử và hào hùng nhào nặn thành
một tâm hồn ‘tráng sĩ’ hiện đại. H́nh ảnh này rất được quần chúng (di
tản) ngưỡng mộ. Giọng thơ quan hoài, biên tái, mang hào khí của
người (anh hùng) bại trận, bất khuất. Coi nhẹ tù đầy. Xem thường
gian khổ. Kể chuyện mười năm lao cải nhẹ như lông.
“Bài Ta Về được phổ biến ngay khi Tô
Thùy Yên c̣n ở trong nước như một bài ca ngất ngưởng của người tù
cải tạo, cao ngạo trở về...”
Bây giờ tác giả Ta Về đă thực sự đi về, như những hạt sương
trên cỏ, như lá rơi về cội. Không phải về miền đất ông đă từng bị
đày đọa, chịu khổ nạn mà đến một thế giới thật an lạc, b́nh yên. Với
kiếp người hữu hạn th́ làm sao có thể “trải hết được ḷng ta” dù là
một tài thơ lớn như Tô Thùy Yên.
(Tháng Năm, 2019)
Trường
Sa hành
Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm
thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm c̣n tưởng đảo trôi đi
Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả ḷng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ
Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thuỷ lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người măi đứng yên
Bốn trăm hải lư nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác kḥm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh
Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời
Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Băi Đông lở mất, băi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?
Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động măi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh
Mặt trời chiều ră rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân
Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi
Chú em hăy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu
Ai hét trong ḷng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê
Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm, tất cả chuyện trong ḷng
Băi lân tinh thức âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng
Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn
Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu ḍn như tiếng nứt hoa niên
Ôi lũ cây gầy ven băi sụp
Rễ
bung c̣n gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngă
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh
San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng măn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người
(3-1974)
Ta Về
Tiếng biển lời rừng
nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân
sang.
Ta về – một bóng trên
đường lớn.
Thơ chẳng ai đề vạt
áo phai…
Sao vẫn nghe đau mềm
phế phủ?
Mười năm, đá cũng
ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta-mười-năm
chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm
tiếng ngh́n thu.
Mười năm, mặt xạm soi
khe nước,
Ta hóa thân thành
vượn cổ sơ.
Ta về qua những
truông cùng phá,
Nếp trán nhăn đùa
ngọn gió may.
Ta ngẩn ngơ trông
trời đất cũ,
Nghe tàn cát bụi
tháng năm bay.
Chỉ có thế. Trời câm
đất nín.
Đời im ĺm đóng váng
xanh xao.
Mười năm, thế giới
già trông thấy.
Đất bạc màu đi, đất
bạc màu…
Ta về như bóng chim
qua trễ
Cho vội vàng thêm gió
cuối mùa.
Ai đứng trông vời mây
nước đó,
Ngàn năm râu tóc bạc
phơ phơ.
Một đời được mấy điều
mong ước?
Núi lở sông bồi đă
lắm khi…
Lịch sử ngơi đi nhiều
tiếng động,
Mười năm, cổ lục đă
ai ghi?
Ta về cúi mái đầu
sương điểm,
Nghe nặng từ tâm
lượng đất trời.
Cám ơn hoa đă v́ ta
nở.
Thế giới vui từ mỗi
lẻ loi.
Tưởng tượng nhà nhà
đang mở cửa,
Làng ta, ngựa đá đă
qua sông,
Người đi như cá theo
con nước,
Trống ngũ liên nôn nả
gióng mừng.
Ta về như lá rơi về
cội.
Bếp lửa nhân quần ấm
tối nay.
Chút rượu hồng đây,
xin rưới xuống,
Giải oan cho cuộc
biển dâu này.
Ta khóc tạ ơn đời máu
chảy
Ruột mềm như đá dưới
chân ta.
Mười năm chớp bể mưa
nguồn đó,
Người thức nghe buồn
tận cơi xa.
Ta về như hạt sương
trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế
chuyển dời.
Bé bỏng cũng th́ sinh,
dị, diệt.
Tội t́nh chi lắm nữa,
người ơi!
Quán dốc hơi thu lùa
nỗi nhớ.
Mười năm, người tỏ
mặt nhau đây.
Nước non ngàn dặm,
bèo mây hỡi,
Đành uống lưng thôi
bát nước mời.
Ta về như sợi tơ trời
trắng
Chấp chới trôi buồn
với nắng hanh.
Ai gọi ai đi ngoài
quăng vắng?
Phải, ôi vàng đá nhắn
quan san?
Lời thề truyền kiếp
c̣n mang nặng
Nên mắc t́nh đời cởi
chẳng ra.
Ta nhớ người xa ngoài
nỗi nhớ.
Mười năm, ta vẫn cứ
là ta.
Ta về như tứ thơ xiêu
tán
Trong cơi hoang đường
trắng lăng quên.
Nhà cũ, mừng c̣n
nguyên mái, vách.
Nhện giăng, khói ám,
mối xông nền.
Mọi thứ không c̣n
ngăn nắp cũ.
Nhà thương khó quá,
sống thờ ơ.
Giậu nghiêng, cổng đổ,
thềm um cỏ.
Khách cũ không c̣n,
khách mới thưa…
Ta về khai giải bùa
thiêng yểm.
Thức dậy đi nào, gỗ
đá ơi!
Hăy kể lại mười năm
mộng dữ.
Một lần kể lại để rồi
thôi.
Chiều nay, ta sẽ đi
thơ thẩn,
Thăm hỏi từng cây
những nỗi nhà.
Hoa bưởi, hoa tầm
xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ
người xa?
Ta về như đứa con
phung phá
Khánh kiệt đời trong
cuộc biển dâu.
Mười năm, con đă già
như vậy.
Huống mẹ cha, đèn sắp
cạn dầu…
Con gẫm lại đời con
thất bát,
Hứa trăm điều, một
chẳng làm nên.
Đời qua, lớp lớp tàn
hư huyễn.
Hạt lệ sương thầm
khóc biến thiên.
Ta về như tiếng kêu
đồng vọng.
Rau mác lên bờ đă trổ
bông.
Cho dẫu ngàn năm, em
vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn
chờ sông.
Ta gọi thời gian sau
cánh cửa.
Nỗi mừng ràn rụa mắt
ai sâu.
Ta nghe như máu ân
t́nh chảy
Từ kiếp xưa nào tưởng
lạc nhau.
Ta về dẫu phải đi
chân đất
Khắp thế gian này để
gặp em.
Đau khổ riêng ǵ nơi
gió cát…
Hè nhà, bụi chuối
thức thâu đêm.
Cây bưởi xưa c̣n nhớ
trăng hoa.
Đêm chưa khuya lắm,
hỡi trăng tà!
T́nh xưa như tuổi già
không ngủ,
Bước chạm khua từng
nỗi xót xa.
Ta về như giấc mơ
thần bí
Tuổi nhỏ đi t́m những
tối vui.
Trăng sáng lưu hồn ta
vết phỏng.
Trọn đời, nỗi nhớ
sáng không nguôi.
Bé ơn, này những vui
buồn cũ,
Hăy sống, đương đầu
với lăng quên.
Con dế vẫn là con dế
ấy,
Hát rong bờ cỏ, giọng
thân quen.
Ta về như nước tào
khê chảy.
Tinh đẩu mười năm
luống nhạt mờ.
Thân thích những ai
giờ đă khuất?
Cơi đời nghe trống
trải hơn xưa.
Người chết đưa ta
cùng xuống mộ.
Đêm buồn, ai nữa đứng
bờ ao?
Khóc người, ta khóc
ta rơi rụng.
Tuổi hạc, ôi ngày một
một hao.
Ta về như bóng ma hờn
tủi
Lục lại thời gian,
kiếm chính ḿnh.
Ta nhặt mà thương
từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp
vô danh.
Ngồi đây, nền cũ nhà
hương hỏa,
Đọc lại bài thơ buổi
thiếu thời.
Ai đó trong hồn ta
thổn thức?
Vầng trăng c̣n tiếc
cuộc rong chơi.
Ta về như hạc vàng
thương nhớ
Một thuở trần gian
bay lướt qua.
Ta tiếc đời ta sao
hữu hạn,
Đành không trải hết
được ḷng ta.
(7-1985)
|