|

Lá Diêu Bông, 1 bài thơ, 3 bài hát
Nghiêm Nguyễn
Không ít người lầm tưởng rằng bài “Lá Diêu Bông” c̣n có tên “Sao
Em Nỡ Vội Lấy Chồng” của Trần Tiến là được phổ từ bài thơ Lá Diêu
Bông của thi sĩ Hoàng Cầm. Thật ra nhạc sĩ Trần Tiến chỉ mượn bài
thơ làm nguồn cảm hứng sáng tác chứ lời và ư nghĩa của bản nhạc hoàn
toàn khác hẳn với bài thơ của Hoàng Cầm.
Mối t́nh trong “Sao
Em Nỡ Vội Lấy Chồng” là một mối t́nh trai gái anh - em b́nh thường
chứ không phải là một mối t́nh thơ ngây, thuần khiết chị – em theo
nguyên tác.
Nếu nói bài thơ được phổ nhạc th́ đó là bài Lá Diêu
Bông (Hoàng Cầm 2) được nhạc sĩ Phạm Duy
phổ nhạc vào giữa thập niên 1980.
Đây là ca khúc phổ
nhạc có lời ca gần nhất với bản gốc bài thơ của thi sĩ Hoàng Cầm.
Nhạc sĩ Phạm Duy hầu như không sửa đổi ǵ lời thơ.
Dường như để làm rơ thêm ư tứ của Hoàng Cầm, Phạm Duy đă đặt thêm
hai câu cuối cùng bài hát
Em đi trăm núi ngh́n sông
Nào t́m thấy lá diêu bông bao giờ…
Trong một lần giới thiệu bản nhạc này, nhạc sĩ Phạm Duy đă diễn
giải thi sĩ Hoàng Cầm đă dùng lối ẩn dụ khi sáng tác bài thơ. Lá
Diêu Bông theo ông chỉ là chiếc lá tưởng
tượng không có thật ngoài đời giống như những lư thuyết trong chủ
nghĩa Cộng Sản, đó là những điều không tưởng không thể nào có hay
thực hiện được. Chạy đi t́m lá diêu bông là chạy đi tin
theo những giáo điều hoang tưởng, huyễn
hoặc của chủ nghĩa Cộng Sản.
Lá
Diêu Bông (Hoàng Cầm Ca 2)
(Phạm Duy phổ thơ Hoàng Cầm)
Đứa nào t́m được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Đứa nào t́m được lá diêu bông...
Vài ngày sau em t́m thấy lá
Chị chau mày: đâu phải lá diêu bông!
Mùa Đông sau em
t́m thấy lá
Chị lắc đầu nh́n nắng văn bên sông.
Đứa nào t́m được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ nhận là chồng
Tao sẽ nhận là chồng
Đứa nào t́m được lá diêu bông...
Ngày cưới Chị, em t́m thấy lá
Chị mỉm cười, se chỉ, cắm trôn
kim
Chị đă ba con, em t́m thấy lá
Xoè tay, phủ mặt, Chị không nh́n...
Đứa nào t́m được lá diêu bông
Th́ từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Đứa nào t́m được lá diêu bông...
. . . . . .
Từ thuở đó, em cầm chiếc lá
Nơi đầu non cuối bể, em đi
Lời vi vút gió quê lắng gọi
Diêu bông hời hỡi diêu bông
Em đi trăm núi ngh́n sông
Nào t́m thấy lá diêu bông bao giờ...
Tuy nhiên theo lời kể của thi sĩ Hoàng Cầm th́ bài thơ Lá Diêu
Bông được viết từ một câu chuyện có thật của chính đời ông, về mối
t́nh đầu khi ông c̣n là một cậu bé 10 tuổi với một người thiếu nữ
tên Vinh 16 tuổi ở cạnh nhà.
“Bài thơ “Lá diêu bông” tôi viết về một câu chuyện có thật, câu
chuyện về mối t́nh đầu tiên trong đời tôi.
Vào một đêm năm 1959, khoảng 3 giờ sáng, tôi chợt tỉnh giấc rồi thao
thức không ngủ lại được. Căn nhà ở phố Lư Quốc Sư nằm sâu phía trong,
lại thêm thuở ấy ban đêm không có tiếng xe
tiếng c̣i ầm ĩ như bây giờ, nên đêm khuya càng thêm thanh vắng. Chợt
tôi thấy lóe trong đầu văng vẳng mấy câu thơ do một người đàn bà đọc
bằng giọng lanh lảnh: Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng...
Tôi lấy ngay cây bút ch́ và tập giấy luôn để sẵn trên đầu giường ghi
lại.
Rồi từng mẩu kư ức cứ hiện lên trong đầu tôi,
h́nh ảnh người đàn bà, người Chị năm xưa cứ rơ nét dần để đi trọn
hết bài thơ.
Tôi nhớ đâu hồi lên 4 tuổi, cha mẹ tôi từ làng quê chuyển lên sống ở
một phố nhỏ dọc đường quốc lộ.
Gọi là phố nhưng thực ra chỉ có khoảng 14, 15
ngôi nhà dựng dọc hai bên đường, cách thị xă Bắc Giang chừng 6 cây
số. Nhà tôi quay về hướng tây, phía trước là đường cái, sau
nhà có một mảnh vườn nhỏ có hàng rào dâm bụt, tiếp đấy là đường
xe lửa. Người trong phố làm các nghề thợ
may, cắt tóc. Cha tôi có tủ thuốc bắc và gánh
hàng xén của mẹ.
Lên 5, cha tôi đă cho tôi đến trường, cách nhà chừng 2 cây số.
Nhưng đi học xa, dọc đường hay bị trẻ chăn trâu
bắt nạt, v́ vậy năm sau ông gửi tôi lên tỉnh học.
Lên 6 tôi đă đọc thông viết thạo, lại thêm vơ vẽ
chữ Pháp, nên được nhận vào trường công ở thị xă Bắc Giang.
Tôi được gửi ở nhà thầy kư ga Núi Tiết.
Mỗi chiều thứ bảy, tôi đi thẳng từ trường ra sân
ga lấy vé, đi tàu mất 10 phút là về đến ga gần nhà. Thuở ấy
đi tàu dễ dàng nên trẻ con đi một ḿnh cũng không sợ. Cuộc đời của
một thằng bé cứ lặng lẽ trôi nếu không có một biến đổi về t́nh cảm
mà dấu ấn của nó sẽ để lại trong ḷng tôi nhiều cảm nghĩ đến tận sau
này.
Năm đó tôi lên 10, đă học đến lớp ba (cour
élémentaire). Một buổi chiều thứ bảy, tôi
về nhà như thường lệ. Đang dừng lại ngoài
sân nh́n vào trong nhà, tôi thấy có một người đàn bà đang cúi xuống
bồ hàng xén của mẹ tôi chọn mua một cái ǵ đó.
Chị mặc chiếc áo phin trắng, ngoài có chiếc gilê
màu thẫm. Khi đó nắng xiên khoai dọi vào nhà, lúc chị ngửng
đầu lên th́ cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng, tôi thấy
bừng lên một khuôn mặt khiến tôi choáng váng cả người.
Không hiểu cái máu đa t́nh có từ bao giờ, mà chỉ
mới lên chín lên mười, tôi đă bị khuôn mặt đó làm cho tôi ngơ ngẩn
suốt buổi chiều. Mua hàng xong chị ra về, khi đi ngang qua
tôi trông theo, th́ biết chị là người
hàng xóm, ở ngôi nhà ngay bên kia đường hơi xế cửa nhà tôi. Hỏi mẹ
th́ biết gia đ́nh nhà đó mới dọn về, có ba mẹ con, chị là con gái
lớn, c̣n một cậu em trai nhỏ. Thảo nào tuần
trước tôi về chưa gặp. Tên chị là Vinh.
Cả ngày chủ nhật hôm sau, tôi cứ ngong ngóng nh́n sang nhà đàng
trước, chờ xem chị có xuất hiện không. Đến sáng thứ hai tôi lại quay
trở về thị xă.
Về đến Bắc Giang, tôi làm ngay một bài thơ gửi chị,
theo thể lục bát. Hồi
đó tuy chưa học niêm luật, nhưng tôi đă biết làm thơ lục bát.
Nguyên tôi trọ học ở nhà ông kư ga, buổi tối nhà
chủ thường tập trung các bà, các chị trong xóm đến làm hàng xáo.
Buổi tối khoảng 9 giờ học xong, trước khi đi ngủ, các bà các chị
thường gọi tôi xuống nhà dưới đọc truyện cho mọi người nghe, trong
khi họ đang giần sàng thóc gạo. Mỗi tối tôi đọc chừng một tiếng rồi
đi ngủ, các bà thường thù lao, khi th́
bát chè, khi th́ phong kẹo. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi được đọc hết
mọi truyện thơ dân gian, từ Phạm Công Cúc Hoa, đến Nhị độ
mai, rồi Hoàng Trừu... Tôi có giọng
tốt, lại biết ngâm nga, nên được các bà tín nhiệm, và cũng v́ vậy mà
thơ lục bát cứ ngấm vào người tôi, không cần học cũng biết cách gieo
vần.
Tôi chép bài thơ vào tờ giấy học sinh.
Trang đầu chép bốn câu có vẽ hoa bướm, trang sau
chép nốt bài. Tôi không c̣n nhớ bài thơ
t́nh đầu tiên đó viết những ǵ. Chỉ nhớ
là tôi nắn nót viết lên đầu trang giấy ḍng chữ "Em gửi chị Vinh của
em". Tôi bỏ thơ vào phong b́, chờ hôm về nhà, t́m gặp chị
trao tận tay nói: “Em gửi chị cái này.”
Chị không mở ra xem, chỉ mỉm cười hơi bí mật rồi
bỏ vào túi, không nói ǵ. Sau đó chị
không nhắc đến bài thơ đó, và tôi cũng không hỏi lại.
Từ đấy tôi không chỉ về nhà chiều thứ bảy, mà ngày thứ năm được nghỉ,
tôi về cả chiều thứ tư.
Mục đích là để được gặp chị. Ngày nghỉ,
hễ thấy chị đi đâu là tôi đi theo đấy,
đôi khi chị thấy tôi đi theo th́ đưa tay dắt. Mỗi khi chị ôm chiếu
ra sông giặt, tôi lại lẽo đẽo đi theo,
ngồi trên bờ nh́n chị cúi khom ḿnh giặt chiếu ven sông. T́nh yêu
tôi dành cho chị chỉ có thế, nhưng nó cứ đeo đẳng tôi hết năm này
sang năm khác. Tôi càng lớn th́ t́nh yêu đó càng
thêm đằm thắm, nhưng tôi chưa biết làm thế nào để bày tỏ mối t́nh
của ḿnh.
Lên 12 tuổi, những đêm sáng trăng, chị Vinh thường tập hợp trẻ em từ
10 đến 15 tuổi cả trai lẫn gái, tụ tập trên băi cỏ sau ga để tập hát.
Chị Vinh có giọng ca tốt, thường cùng một vài
chị trong xóm hát Quan họ. Chúng tôi được chị dạy hát đủ loại
dân ca như Trống quân, C̣ lả... Mỗi khi đứng hát, tôi thường
chen vào đứng cạnh chị, có khi tôi đứng
trước chị, đầu tôi vừa đúng ngang tầm ngực của chị.
Có khi chị ôm lấy vai tôi, tôi hơi ngả đầu vào
người chị, chị khe khẽ vuốt cổ xoa lên hai vai tôi.
Tôi có một cảm giác là lạ, đó là những giờ phút
say sưa nhất của tôi. Những đêm tháng chín tháng mười, trời
hơi se lạnh, đứng dưới gốc cây trên băi cỏ, tôi được hơi ấm từ người
chị truyền sang. H́nh như chị cũng cảm thấy sự
ham muốn của tôi. Mặc dù lúc đó tôi c̣n bé, nhưng là một cậu
bé khôi ngô tuấn tú, lại có đi học, khác hẳn với những đứa trẻ khác
trong xóm. Được chị ôm trong ḷng, nhưng tôi
chưa bao giờ dám chủ động ôm người chị.
Lần ấy, trong dịp lễ Noel, tôi được nghỉ mấy
ngày. Đang đứng ở sân, tôi chợt thấy chị
Vinh bỏ cửa hàng đi ra cánh đồng. Tôi vội đi
theo. Thấy chị rẽ
xuống ruộng, bới các bụi cây ven bờ ruộng. Tôi cũng nhảy
xuống theo, không biết chị có nh́n thấy
tôi hay không. Chợt chị ngẩng lên hỏi: "Sao mày cứ
theo tao lẵng nhẵng như thế này nhỉ?" Tôi
không trả lời, nhưng thấy sung sướng v́ đă được chị chú ư tới.
Rồi chị tiếp tục cúi xuống t́m, cuối cùng bước
lên trên một cái g̣ nhỏ có nhiều bụi cây dại.
Tôi hỏi chị t́m cái ǵ. Chị dừng lại
thẳng người lên, nh́n vào mắt tôi nói: “Chị t́m cái lá...” (tôi
không nhớ là chị gọi cái lá ǵ nữa). Rồi chị tiếp lời: “Đứa nào t́m
được ta gọi làm chồng...” Nghe câu nói đó, tôi cảm thấy sung sướng
vô cùng, người nóng ran lên. Tôi nghĩ đó là một
cái lá ǵ kỳ diệu lắm, có thể dùng làm thuốc, hoặc dùng đắp lên mặt
như các cô gái hồi đó thường làm. Tôi cảm
thấy giữa chị và tôi có một t́nh yêu mănh liệt.
Mà t́nh yêu đó giống như t́nh yêu tôi dành cho
mẹ. Tôi không có chị gái, v́ vậy đây là
lần đầu tiên tôi cảm thấy một t́nh yêu đối với người chị.
Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện đi t́m lá của chị Vinh hiện lại
trong bài thơ mà tôi đặt cho cái tên là “Lá diêu bông.”
Chị thẩn thơ đi t́m
Đồng chiều
cuống rạ
Chị bảo
- Đứa nào t́m được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng...
Một tuần sau, khi tôi từ trên tỉnh trở về, nh́n sang trước nhà thấy
cửa đóng im ỉm. Tôi vội hỏi mẹ nhà đó đi đâu rồi.
Mẹ tôi trả lời, trong giọng nói như có nước mắt: "Nó đi lấy chồng
rồi con ạ." Tôi ̣a lên khóc, gục đầu vào ḷng mẹ.
Không biết mẹ tôi có biết mối t́nh của tôi đối
với chị Vinh không, mà sao mẹ lại nói bằng giọng nghẹn ngào?
Khi đó cha tôi vừa về, tôi vội lau nước mắt,
không dám để cho cha nh́n thấy. Về sau mẹ
kể cho tôi biết có một ông Quản khố xanh đi qua đây, trông thấy chị
đă mê v́ nhan sắc. Chị bằng ḷng lấy lẽ,
ông Quản đưa cả mấy mẹ con về Phủ Lư quê ông.
Từ đấy tôi không gặp chị nữa.
Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đấy.
Năm đó tôi đă 17 tuổi, vừa thi đỗ tú tài xong,
đang sống ở Hà Nội. Nhân ngày nghỉ, có một người bạn ở Sen Hồ
có người anh cưới vợ, đă rủ tôi về nhà chơi, luôn tiện
ăn cỗ cưới. Cỗ bàn
xong, chiều hôm đó tôi dạo ra phố Sen Hồ chờ tàu về Bắc Giang.
Lúc đó tôi đă viết báo nên cũng có tiền.
Tôi mặc bộ complet, thắt ca vát, đầu đội mũ phớt,
ra dáng người dân chốn thị thành. Đang thả bộ đi dọc phố,
chợt nghe có tiếng gọi: "Cậu Việt ơi!" Nghe giọng quen quen, tôi
nh́n sang bên kia đường, th́ thấy chị
Vinh đang ngồi bên một cái tủ bày bánh kẹo, cạnh một cái chơng bán
nước chè. Tôi bước sang đường, chị Vinh mừng rỡ chạy ra, đặt hai
tay lên vai tôi rồi kéo vào nhà nói
chuyện. Bà mẹ đă già nhưng c̣n nhớ tôi, hỏi thăm
cha mẹ tôi. Một lát sau bà bảo bà có việc
phải đi vào làng, tối có thể không về, cậu cứ ở lại xơi cơm.
Cậu em đă lớn cũng theo mẹ đi.
H́nh như cả hai đều biết giữa tôi và chị Vinh
c̣n có nhiều điều muốn nói với nhau. Chị
kéo tôi ngồi xuống chơng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi.
Tôi nhẹ nhàng khẽ gỡ tay chị ra.
Chị kể cho tôi biết t́nh cảnh của chị sau khi
lấy chồng. Chị lấy ông Quản đă có một mặt
con. Mấy mẹ con chị về Phủ Lư cũng vẫn tiếp tục buôn bán làm
ăn. Nhưng dần dần ông Quản ruồng bỏ chị, đi theo
người khác. Cuối cùng ông đă đuổi mấy mẹ con đi.
Gia đ́nh chị không muốn trở về chốn cũ, nên đưa nhau về Sen Hồ.
Tôi ái ngại nh́n chị. Lúc này trong tôi
không c̣n cái t́nh yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy
thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đă tàn phai.
Bảy tám năm đă trôi qua, nhưng h́nh ảnh của chị
năm tôi lên 10 vẫn c̣n đọng măi trong tôi.
Ngày cưới Chị
Em t́m thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Và cảm giác khi đánh mất chị như vẫn c̣n đi suốt đời thơ tôi:
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hời!...
... ới diêu bông!...”
Hoàng Cầm
(17-9-2004)
Dưới đây là nguyên tác bài thơ Lá Diêu Bông
Lá Diêu Bông
Hoàng Cầm
“Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng
Chị thẩn thờ đi t́m
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo:
Đứa nào t́m được Lá Diêu
Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em t́m thấy lá
Chị chau mày: Đâu phải Lá
Diêu Bông.
Muà đông sau em t́m thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng văng bên sông.
Ngày cưới chị
Em t́m thấy lá
Chị cười xoe chỉ cắm trôn
kim.
Chị ba con
Em t́m thấy lá
Xoè tay
phủ mặt chị không nh́n.
Từ thuở
ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu
Bông!”.
Nhạc sĩ Trần Tiến sang tác ca khúc “Lá Diêu Bông” hay “Sao Em Nỡ
Vội Lấy Chồng" vào năm 1990, mang âm hưởng dân ca Bắc Bộ. Bài hát
này được Trần Tiến viết để tuyên truyền cho phong trào Dân số - Kế
hoạch hóa gia đ́nh - một phong trào được Liên Hợp Quốc bảo trợ.
Nhạc
sĩ Trần Tiến cho biết khi viết ca khúc này gặp nhiều khó khăn, ông
có ư tứ, có giai điệu ban đầu nhưng chúng không trọn vẹn để bật ra
thành ca khúc hoàn chỉnh.
"Trong
một lần nhậu, bạn tôi ngân lên câu thơ: "Bướm vàng đậu trái mù u/Lấy
chồng càng sớm, lời ru càng buồn". Tôi nghe và
tỉnh cả người. Trên chuyến xe về nhà,
giai điệu ca khúc và lời nhạc cứ ngân vang lên dần dần nhưng vẫn
chưa hoàn thiện", nhạc sĩ chia sẻ. Sau đó,
ca khúc được phát triển thêm khi nhạc sĩ Trần Tiến nhớ về người phụ
nữ mà chú ruột muốn ông kết hôn. Nhưng
đến đây, ca khúc vẫn chưa thể hoàn thiện, người nhạc sĩ này nhớ lại
cô cháu gái xấu số qua đời năm 16 tuổi của ḿnh.
Bướm vàng là h́nh ảnh ông liên tưởng về cô cháu
gái xinh đẹp nhưng vắn số.
Cũng theo nhạc sĩ Trần Tiến, lá Diêu
Bông không phải là lá tưởng tượng, lá huyền thoại không có thật.
Trong một lần lên Điện Biên biểu diễn, Trần Tiến t́nh cờ gặp một bà
cụ và được hỏi: 'Anh Tiến có thích đi t́m lá diêu bông không?'
Bà cụ này cho biết lá diêu bông có thật trên đời.
Tuy nhiên loại lá này rất khó t́m v́ phải đi vào
đúng mùa trăng, canh ngày giờ cẩn thận vào đúng khu rừng có lá mới
có thể t́m được. 'Người dân ở đó nói ai
nh́n thấy chiếc lá diêu bông dưới trăng th́ sẽ hạnh phúc cả đời.
Lá Diêu Bông
(Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng)
Trần Tiến
Lời ru buồn, nghe mênh mang, mênh mang
Sau lũy tre làng, khiến ḷng tôi xôn xao
Ngày lấy chồng, em đi qua con đê
Con đê mọc lối cỏ về, có chú bướm vàng bay theo em
Bướm vàng, đă đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm ǵ, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
C̣n đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu ṣng vui bên anh
Ru em, thời con gái kiêu sa
Em đố ai t́m được, lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
Ru em, thời thiếu nữ xa xôi
Ḿnh tôi lang thang muôn nơi, đi t́m lá cho em tôi
Ru em, thời con gái hay quên
Thương em tôi t́m được, lá diêu bông
Sao em nỡ vội, lấy chồng?
Lời ru buồn, nghe mênh mang, mênh mang
Sau lũy tre làng, khiến ḷng tôi xôn xao
Ngày lấy chồng, em đi qua con đê
Con đê mọc lối cỏ về, có chú bướm vàng bay theo em
Bướm vàng, đă đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm ǵ, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
C̣n đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu ṣng vui bên anh
Ru em, thời con gái kiêu sa
Em đố ai t́m được, lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
Ru em, thời thiếu nữ xa xôi
Ḿnh tôi lang thang muôn nơi, đi t́m lá cho em tôi
Ru em, thời con gái hay quên
Thương em tôi t́m được, lá diêu bông
Sao em nỡ vội, lấy chồng?
Ru em, thời thiếu nữ ca xôi
Ḿnh tôi lang thang muôn nơi, đi t́m lá cho em tôi
Ru em, thời con gái hay quên
Thương em tôi t́m được, lá diêu bông
Sao em nỡ vội, lấy chồng?
Sao em nỡ vội... lấy chồng?
Ngoài 2 ca khúc trên, ca khúc thứ ba cần phải kể đến là ca khúc Chuyện
T́nh Lá Diêu Bông do nhạc sĩ Nguyễn Tiến viết lại lời trên nền nhạc
dân ca Thanh Nghệ Tĩnh. Với ca khúc này, h́nh ảnh, nội dung, ư tứ
thơ của thi sĩ Hoàng Cầm hầu như được giữ lại nguyên vẹn, nhạc sĩ
Nguyễn Tiến chỉ thay đổi chút ít cho phù hợp với giai điệu nhạc.
Chuyện T́nh Lá Diêu Bông
Nguyễn Tiến
Nhớ đồng chiều cuống rạ
Chị thẩn thơ đi t́m
Em ở đầu làng chiều xuống ven đê
Theo sau chị đi t́m chợt nghe lời
chị nói:
"Ai mà t́m được lá diêu bông
Từ nay chị sẽ lấy làm chồng".
Hai ngày sau em t́m thấy lá
Chị chau mày: "Đâu phải lá diêu bông".
Mùa đông sau em
lại t́m thấy lá
Chị lắc đầu nh́n nắng bên sông.
Lần cuối chị qua đồng chiều cũ
Tay em cầm lá diêu bông
Chị cười quay đi không nh́n lá
Để gió quê vi
vút, diêu bông hỡi diêu bông...
Ngày cưới xe hoa qua làng cũ
Tay em cầm chiếc lá đứng ven đê
Chị buồn quay đi không nh́n lá
Để gió quê vi vút, diêu bông hỡi,
diêu bông hời..
Trong 3 bản nhạc có lẽ nhạc của Phạm Duy hay hơn hết, nhưng bài
của Phạm Duy và Nguyễn Tiến tương đối khó hát trong khi bản nhạc của
Trần Tiến mang âm điệu dân ca gần gũi, du dương dễ hát nên được phổ
biến hơn. Có một dạo hầu như ở các tiệc cưới đều
thấy người ta hát bài này. Ngày cưới có người than thở “Sao
em nỡ vội lấy chồng” vậy mà thiên hạ vẫn nhiệt liệt vỗ
tay khen, miệng của cô dâu chú rể th́
luôn cười rạng rỡ. Đúng là “Ở chỗ nhân gian
không thể hiểu” *.
Dù tưởng tượng hay có thật, chiếc lá Diêu Bông huyễn hoặc đó là
nguồn cảm hứng sáng tác những vần thơ, gịng nhạc tuyệt vời điểm tô
khu vườn thi ca Việt Nam thêm nhiều hương sắc. Chắc hẳn nhiều người
chúng ta đă từng t́m kiếm chiếc lá diêu bông cho đời ḿnh, cho những
lư tưởng cao vời, những hoài băo hằng ấp ủ hay cho một t́nh yêu rướm
máu, đam mê chất ngất.
(Mùa lễ Tạ Ơn 2023)
……………………………………………………………………
* :Thơ
Du Tử Lê
|
|