VẬN MỆNH (1) NẰM TRONG TAY TA?

“OF FORTUNE”

Tác giả: Francis Bacon (*)

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

 

***

Chúng ta không thể phủ định các sự kiện ngẫu nhiên xảy ra ở bên ngoài như: hảo ư của người khác, cơ hội tốt, hoặc việc qua đời của người khác, tác dụng mỹ đức (virtue) cống hiến lớn cho vận mệnh/vận may của một người.

Tuy nhiên, phần lớn cái khuôn đúc vận mệnh/vận may của một người đă có sẵn trong tay của họ. Trong một thi phẩm của ḿnh, một nhà thơ (2) đă viết: “Ai cũng là người tạo ra vận mệnh/vận may của ḿnh”.

Ngoài ra, điều thường xảy ra nhất trong những nguyên nhân bên ngoài là sự ngu xuẩn của ai đó đem lại vận may (fortune)(3) cho người khác. Bởi v́ không có ai th́nh ĺnh phồn vinh nhanh chóng như một người nhờ lầm lẫn của kẻ khác. Cách ngôn Hy Lạp có câu: “Một con rắn không nuốt trọn một con rắn khác th́ không thể thành rồng”. (Tác giả dùng cách ngôn này để dẫn chứng nội dung câu trên: không nhờ sụp đỗ của người khác th́ không thể nhanh chóng thành công vượt bực.)

Những đức tính (virtues) rơ ràng (4) có thể thấy biết được th́ được tán thưởng. Tuy nhiên, có những đức tính(virtues) bí ẩn mắt người không thể thấy được (4), đem lại vận mệnh/vận may. Nghĩa là, những loại đức tính phải nói là hành vi tự tại không gặp khó khăn, loại đức tính (hoặc tài năng) này không có tên gọi (trong tiếng Anh). Tên gọi bằng tiếng Bồ Đào Nha desenvoltura (nguyên văn: desemboltura, nhiều sách giải cho là do in sai), nghĩa là, lời nói và việc làm đều suôn sẻ như ư, xử lư công việc trôi chảy không gặp trở ngại. Tên gọi này diễn tả được phần nào của các đức tính (tài năng) nói trên. Tên gọi này để nói khi bản tính con người không gặp chướng ngại hoặc đối kháng mà bánh xe tinh thần của họ ḥa hợp nhịp điệu với bánh xe của vận mệnh/vận may của họ. Chứng cứ của điều này có thấy được trong sự việc sau đây.

(Sau khi đánh giá Marcus Porcius Cato (5) bằng lời nói sau “Bởi v́ ở ông ta đă có sẵn một sức mạnh rất kiên cố của thân thể và tinh thần nên dù ông ta có ra đời ở đâu, tôi nghĩ là ông ta có thể tự ḿnh vượt qua các trở ngại để tiến lên tạo ra vận mệnh của ḿnh”), Livy (6) đă kết luận “Một tài năng có thể làm bất cứ việc ǵ.”

 Do đó, nếu một con người tập trung chú ư nh́n sắc bén th́ nhất định thấy được VẬN MỆNH/ VẬN MAY, bởi v́ nữ thần vận mệnh không thấy đường chứ không phải con người không thể thấy được nữ thần.

Hành tung của vận mệnh/vận may giống như Ngân Hà trên bầu trời. Ngân Hà là tập hợp hay một khối của nhiều v́ sao nhỏ. Những v́ sao nhỏ khi phân tán rải rác th́ không thấy rơ được nhưng khi tụ hợp th́ chói sáng. Tương tự, TẬP HỢP của một số ĐỨC TÍNH NHỎ khó nhận ra, nói đúng hơn là TẬP HỢP của một số TÀI NĂNG và THÓI QUEN (7) đem lại VẬN MỆNH/ VẬN MAY cho con người.

Trong những đức tính nhỏ khó nhận ra nói trên, người Ư họ chú mục đến 2, 3 điều mà người nước khác hầu như ít nghĩ đến. Khi họ nói về những điều kiện của một con người không thể nào phạm điều sai lầm, th́ họ thêm một điều kiện là “có chỗ hơi ngu dại một chút” (nguyên văn: Poco di matto). Đúng là, không có đặc tính nào đem là vận may hơn “có chỗ hơi ngu dại một chút” và “không nên quá chính trực”.

Do đó, những người yêu thương quốc gia hoặc chủ nhân của họ một cách cực đoan nhất định không được may mắn, và cũng không thể được may mắn. Bởi v́ một con người chỉ suy nghĩ đến những việc không phải của chính ḿnh, (mà chỉ suy nghĩ đến việc của người khác) th́ không làm những việc cho bản thân ḿnh mà làm những việc v́ người khác.

(Người dịch chưa hiểu được tại sao “có chỗ hơi ngu dại một chút” và “không nên quá chính trực” lại giúp có vận may!

Người dịch nghĩ rằng lư do đúng như tác giả đă nói nhưng tại sao nói là không phải vận may của những người yêu thương quốc gia hoặc chủ nhân của họ? Nội dung họ cảm thấy hạnh phúc không phải là “của bản thân họ” mà là “của quốc gia, của chủ nhân họ” th́ không phải là vận may của họ sao?)

Vận may (fortune) nhanh chóng dễ làm con người trở thành con người mạo hiểm (nguyên văn là enterpriser, tiến sĩ Mary Augusta Scott trong phiên bản xuất bản năm 1908 chú thích là adventurer, người dịch cho là “người thích t́m lợi lớn trong rủi ro lớn”) và con người có khuynh hướng khích động người khác (8) (nguyên văn là remover, theo cùng chú thích trên là agitator) (từ tiếng Pháp entreprenant và remuant diễn tả nội dung thích hợp hơn). Tuy nhiên, vận may học được từ kinh nghiệm làm cho con người trở thành người có năng lực.

(Cũng có thể hiểu là, có kiên nhẫn cố gắng khắc phục và vượt qua những khó khăn trong thực tế giúp con người có năng lực hơn ngoài việc tạo những cơ hội may mắn.)

Vận may (fortune) cần phải được tôn sùng và kính trọng, nếu không phải v́ nữ thần Vận may th́ cũng v́ 2 cô con gái của người là Tự tin và Danh vọng mà cần tôn sùng và kính trọng. Bởi v́ tự tin và danh vọng phát sinh ra hạnh phúc (nguyên văn: Felicity).

(Có lẽ ư tác giả muốn nói là, thường nghĩ rằng thành công v́ vận may th́ không đáng tôn sùng và kính trọng nhưng tác giả cho rằng dù do may mắn mà thành công cũng đem lại kết quả tốt cho xă hội nên cần phải tôn sùng và kính trọng bởi v́ cần giữ ǵn tín nhiệm và danh vọng của người được may mắn?)

Bản thân người được vận may cảm thấy hạnh phúc v́ có được tự tín (bởi v́ đă thành công). Danh vọng phát sinh ra hạnh phúc bởi v́ những người khác (trong xă hội) tôn kính, ngưỡng mộ, khen ngợi người có vận may.

(Ư nói một cái tự có trong bản thân và một cái do người khác mang đến.)

Tất cả những người có trí tuệ để tránh sự ganh tị của người khác đối với những đức tính riêng của họ, họ cho rằng vận may của họ có được là do Quy luật của tự nhiên (hoặc Ư trời) (nguyên văn: Providence) và Vận mệnh  (nguyên văn:Fortune). Bởi v́ giải thích như vậy họ có thể chủ trương các đức tính của bản thân họ một cách chính đáng. Ngoài ra, việc được sức mạnh trác tuyệt (trời) trông chừng đến là một điều vĩ đại của con người.

(Cách giải thích trên của tác giả thật thú vị!)

Do đó, trong cuồng phong Caesar đă nói với người hướng dẫn thuyền “Ngươi đang lèo lái Caesar và vận mệnh của người”.

(Không tại sao tác giả dẫn chứng việc này? Ư nói Caesar khiêm nhượng và kích thích sự quan trọng của người hướng dẫn thuyền để họ gắng sức hết ḿnh?)

Tương tự, Sylla (9) (tiếng Latinh là Sulla) không chọn Magnus (nghĩa là vĩ đại) mà chọn Felix (nghĩa là Hạnh phúc (10)) để đặt tên cho ḿnh (là Lucius Cornelius Sulla Felix).

Ngoài ra, điều thường được biết rơ là, những người công khai nói nhiều ra rằng họ nhờ khôn ngoan và mưu trí th́ kết cuộc của họ là bất hạnh.

Tài liệu ghi chép lại rằng, trong các báo cáo tŕnh thượng cấp, Timotheus, người của Athens (thủ đô của Hy Lạp) thường thêm vào câu “Ở đây không có phần của vận may (fortune)”, để rồi sau đó các kế hoạch của ông vạch ra không có cái nào thành công.

Chính xác là có nhiều người được vận may “trơn tru và dễ dàng”, một đặc sắc có trong các câu thơ của thi sĩ Homer mà các thi sĩ khác không thể nào b́ kịp. Thí dụ như vận may của Timoleon (Tướng quân của La Mă) mà Plutarch (46~119, tác giả của Vitae Parallelae (Anh Hùng Truyện) thuật lại khi đem so sánh với Agesilaus (vua của Sparta, TCN 444~TCN 360) hoặc Epaminondas (Tướng quân của Ai Cập, TCN 418~TCN 362).

  Những việc như các thí dụ này cho thấy bởi v́ có được vận may hay không phần lớn là do bản thân, là điều chắc chắn không có chỗ để nghi ngờ.

 

Nguyễn Sơn Hùng

Ngày 15~17/3/2025

 

Ghi chú

(1) Từ “fortune” trong tiếng Anh có đến 3 nghĩa: a) Sự giàu có về tiền bạc, b) Cơ hội, vận may, c) Điều tốt hoặc xấu xảy đến trong cuộc đời. Từ này thường để chỉ một sự việc có thể là tốt hoặc xấu, và có thể thay đổi. Từ này  khác với từ “fate” hoặc từ “destiny” thường chỉ việc mà sức người khó thể thay đổi được. Theo người dịch từ “fortune” có ư may mắn v́ tĩnh từ của nó “fortunate” là may mắn, vận may, tốt số. Trong khi “fate” và “destiny” không có tĩnh từ chỉ việc may mắn như “fortune”, mà chỉ có nghĩa “không may”, “không thể tránh”. Tuy nhiên, thiết nghĩ độc giả nên vừa lưu ư đến 3 ư nghĩa trên của của từ “fortune” khi đọc sẽ có ích lợi hơn. Ở đây người dịch dùng “vận mệnh/ vận may” để diễn tả trong trường hợp người dịch nghĩ là có thể nói cho cả “vận mệnh” và “vận may”. Trong trường hợp rơ ràng tác giả muốn nói cho vận may th́ ở đây ghi “vận may (fortune)”.

(2) Appius Claudius Caecus (TCN 340~TCN 273) là chính trị gia và cũng là quân nhân thời Cộng Ḥa La Mă. Người được biết như nhân vật xây dựng con đường cổ Via Appia và hệ thống dẫn nước Aqua Appia ở Ư ngày nay.

Theo chú thích của Watanabe Yoshi, trong tác phẩm chương 1 quyển 1 “Luận về Quốc Gia” của Sallustius Crispus (TCN 86~TCN 34) viết “Kinh nghiệm cho thấy Appius trong thơ của ông nói “Ai cũng là người tạo ra vận mệnh” là sự thật”. Đáng tiếc là người dịch chưa xác nhận được tác phẩm “Luận về Quốc Gia” của Sallustius.

   Tiến sĩ Mary Augusta Scott chú thích: câu thơ này trích dẫn từ mục II. ii. 82 của kịch bản tựa Trinummus do Titus Maccius Plautus (TCN 254~TCN 184) viết. Người dịch cũng đă xác nhận có câu thơ này trong kịch bản trên: “Nam sapiens quidem pol ipsus fingit fortunam sibi: (Bởi v́ thực ra người khôn ngoan tự tạo vận mệnh cho ḿnh)”. Bacon đă diễn tả ngắn lại thành “Faber quisque fortunæ suæ. (Mỗi người tạo ra vận mệnh của ḿnh)”.

Chú thích của Narita Shigehisa giống như chú thích của Scott nhưng lại thêm: “được cho rằng câu thơ trích dẫn là của Appius Claudius Caecus”.

(3) Theo phần sau câu này rơ ràng ư tác giả muốn nói “vận may (fortune)” nhưng người dịch nghĩ câu này có thể có áp dụng cho nghĩa “vận mệnh” v́ sự lầm lỡ của người khác nhất là người gần gũi, thân cận bên ḿnh dễ đem đến ảnh hưởng đến vận mệnh của người khác. Thí dụ điển h́nh là sai lầm của cha mẹ dễ ảnh hưởng đến cả cuộc đời của con cái! Không hiểu tại sao tác giả không nghĩ đến điều này!

(4) “Virtue” để chỉ: a) sự tốt lành mặt đạo đức/luân lư của bản tính hoặc việc làm; b) đặc tính tốt lành trong bản tính của người nào đó; c) lợi ích hoặc ảnh hưởng tốt làm một việc/vật nào đó tốt hơn hoặc ích lợi hơn các việc/vật khác. Từ “đức” diễn tả được cả 3 ư nghĩa này nhưng để dễ đọc, dễ hiểu ở đây tạm viết “đức tính”. Ngoài ra, nên lưu ư từ “đức” c̣n mang ư nghĩa “tài năng”.

“Đức” có thể thấy rơ nhận ra được nói ngắn gọn là “hiển đức”. “Đức” bí ẩn, khó hoặc không thể nhận ra được gọi là “âm đức”. Người Nhật c̣n dùng từ này để chỉ các việc, hành động tốt được thực hiện dù không có sự có mặt của người khác.

Tuy nhiên đoạn tiếp theo dùng tiếng Bồ Đào Nha giải thích thêm ư nghĩa của “những đức tính bí ẩn mắt người không thể thấy được” làm cho người dịch không có tự tin từ “âm đức” có diễn tả đúng ư muốn nói của tác giả không? Bởi v́ nội dung đoạn sau nói ư “tài năng trác tuyệt muốn làm ǵ được nấy”. Mặc dù như đă nói trên “đức” cũng có nghĩa “tài năng” nhưng “âm” chỉ có nghĩa “trong bóng tối” hoặc “khó thấy” chứ không có nghĩa “trác tuyệt đến mức như ư”. Người dịch thiết nghĩ một người có “tài năng trác tuyệt muốn làm ǵ được nấy” th́ cần ǵ phải nói “vận may” hay “vận mệnh” của họ để học hỏi?

(5) Marcus Porcius Cato Censorius (TCN 234~TCN 149) được gọi là Cato the Censor: chính trị gia liêm khiết và hùng biện làm đến chức quan Chấp chính và quan Kiểm sát. Trước tác “Nông Nghiệp Luận”, “Khởi Nguyên Luận”.

(6) Titus Livius (TCN 59~ 17), tiếng Anh gọi Livy: sử gia. Viết “Lịch Sử La Mă” gồm 162 quyển, ngày nay chỉ c̣n lưu lại 35 quyển.

(7) Thiết tưởng nên lưu ư sự hiện diện của “THÓI QUEN” trong vận mệnh/vận may, nói lên tầm quan trọng của những thói quen tốt.

(8) Người dịch không hiểu căn cứ vào đâu mà tác giả nói như vậy, cảm thấy rằng người được may mắn to lớn th́nh ĺnh có thể dễ sinh ra thói quen hay “đánh cá”, cờ bạc và lăng phí tiền bạc.

(9) Lucius Cornelius Sulla Felix (TCN 138~TCN 78): làm quan Chánh vụ phụ trách hành chính và quân sự vào thời kỳ cuối của Cộng ḥa La Mă, rất độc tài.

(10) Dịch giả Watanabe Yoshi dịch Felix là “Hạnh phúc” nhưng dịch giả Narita Shigehisa dịch “Vận may” và Mary Augusta Scott chú thích Felix là Fortune. Nghĩa của từ “felicity” trong tiếng Anh, có thể nghĩ là có nguồn gốc từ “felix”, gần với “vận may”.

 

Nhận xét

(1) Theo kinh nghiệm của bản thân, người dịch nghĩ rằng câu “TẬP HỢP của một số ĐỨC TÍNH NHỎ khó nhận ra, nói đúng hơn là TẬP HỢP của một số TÀI NĂNG và THÓI QUEN đem lại VẬN MỆNH/ VẬN MAY cho con người” rất đáng tham khảo, nhất là các THÓI QUEN TỐT.

Câu “Vận may học được từ kinh nghiệm làm cho con người trở thành người có năng lực” cũng rất đáng ghi nhớ để phấn đấu. 

(2) Những người thành công thường có quan niệm giống nhau về vận mệnh đáng để học hỏi. Thí dụ như bài “Đem Hào Quang Đến Vận Mệnh” của Matsushita Kônosuke.

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-2-Dem-Hao-Quang.htm 

(3) Trong quá tŕnh t́m hiểu “Luận về sự Tức Giận” (tiếng Anh: On Anger, tiếng La Tinh: De Ira) của Seneca người dịch mới phát hiện Francis Bacon đă dùng một vài ư tưởng của Seneca khi viết bài “Of Anger” trong “Tùy Tưởng Tập” (Essays) của ông. Có lẽ mục đích viết Essays của Bacon là đúc kết các trí tuệ của các triết gia cổ đại của La Mă để phổ biến v́ ông quan niệm “học thuật phải phục vụ, ích lợi cho nhân sinh”.

Qua quá tŕnh t́m hiểu Essays của Francis Bacon, người dịch cũng biết có nhiều bậc hiền giả cổ đại La Mă viết về “vận mệnh” như De Fato (On Fate) Marcus Tullius Cicero (TCN 106~TCN 43) nhưng là sách lịch sử. Sallustius Crispus (TCN 86~TCN34) cũng có tác phẩm Historiae (Histories). Không biết các sử gia quan niệm vận mệnh như thế nào, một đề tài thú vị.

 

Ghi chú & Nhận xét

9/4/2025

Con đường đầu tiên ở La Mă Via Appia

 

 

Hệ thống dẫn nước ở La Mă Aqua Appia