|
T̀M HIỂU Ư NGHĨA ĐỨC NHÂN TRONG LUẬN NGỮ CỔ NGHĨA CỦA ITÔ JINSAI (Bài 11) Đức nhân trong chương 17 Dương Hóa
Nguyễn Sơn Hùng *** Phàm lệ - Dịch là của Nguyễn Hiến Lê. - Chú thích và Bàn thêm là của Jinsai. - Các hạng mục khác là của người dịch.
CHƯƠNG 17 DƯƠNG HÓA
Bài 17.1 Đối với bậc thánh nhân dù không thích đối tượng cũng vẫn ứng xử theo đúng lễ nghĩa. Dương Hóa dục kiến Khổng tử, Khổng tử bất kiến; qui Khổng tử đồn. Khổng tử thời kỳ vô dă nhi văng bái chi. Ngộ chư đồ. Vị Khổng tử viết: “Lai, dự dữ nhĩ ngôn”. Viết: “Hoài kỳ bảo nhi mê ḱ bang, khả vị nhân hồ?” Viết: “Bất khả. Hiếu ṭng sự nhi cức thất th́, khả vị trí hồ?” Viết: “Bất khả. Nhật nguyệt thệ hỹ, tuế bất ngă dự”. Khổng tử viết: “Nặc. Ngô tướng sĩ hỹ.” 陽貨欲見孔子,孔子不見,歸孔子豚。孔子時其亡也,而往拜之,遇諸塗。謂孔子曰:來,予與爾言。曰:懷其寶而迷其邦,可謂仁乎? 曰:不可。 好從事而亟失時,可謂知乎? 曰:不可。日月逝矣,歲不我與!孔子曰:諾,吾將仕矣。 Dịch Dương Hoá muốn gặp Khổng tử, nhưng Khổng tử không đến thăm y, nên y biếu Khổng tử một con heo sữa (luộc chín). Khổng tử ŕnh lúc Dương Hoá đi vắng, lại nhà y tạ ơn. Không ngờ trên đường về gặp y. Y gọi Khổng tử: “Lại đây, tôi muốn nói chuyện với ông”. Rồi nói: “Giấu tài đức quư báu mà không cứu nước đang mê loạn, có thể gọi là người nhân được không?” (Khổng tử làm thinh). Dương Hoá nói tiếp: “Không gọi là nhân được. Muốn ra làm quan mà nhiều lần bỏ lỡ cơ hội, có thể gọi là trí được không?” (Khổng tử lại làm thinh). Dương Hoá lại nói tiếp: “Không gọi là trí được. Ngày tháng trôi qua, tuổi chẳng đợi ta”. Khổng tử nói: “Vâng. Tôi sẽ ra làm quan.” Chú thích 1) “Dương Hóa dục... Khổng tử đồn.” Dương Hóa là gia thần của Quư thị, tên là Hổ. Dương Hóa giam chủ nhân là Quư Hoàn Tử vào chỗ kín không cho ra ngoài để thực hiện chính trị nước Lỗ theo ư riêng. Người nước Lỗ kính phục Khổng tử từ trước. Dương Hóa gọi Khổng tử đến với mục đích để Khổng tử đến chào hỏi, với ư định nâng cao trọng lượng bản thân với người đời. Tuy nhiên Khổng tử không đến. Theo quy định của lễ, khi đại phu tặng đồ vật cho người sĩ, nếu như người sĩ không có thể bái nhận lễ vật ở tại nhà ḿnh th́ phải đến nhà của đại phu để tạ lễ ở ngoài cổng. Do đó, Dương Hóa cố ư chờ dịp Khổng tử vắng nhà, gửi heo đến tặng với mục đích để phu tử đến chào hỏi ḿnh. 2) “Khổng tử thời kỳ... văng bái chi.” Khổng tử không muốn gặp Dương Hóa nên chờ lúc Dương Hóa không ở nhà để đến tạ lễ. 3) “Ngộ chư... khả vị nhân hồ?” Viết: “Bất khả.” “Đồ” là con đường đi. “Hoài kỳ bảo nhi mê ḱ bang” ư nói “giữ kính đạo đức trong ḷng mà không cứu giúp quốc gia đang lúc loạn lạc”. “Nhân” là loại đức lan rộng, phổ biến khắp mọi nơi trong thiên hạ. 4) “Hiếu ṭng sự nhi... khả vị trí hồ?” Viết: “Bất khả.” “Cức”là lập đi lập lại nhiều lần. “Thất th́” là bỏ lỡ dịp tốt để thực hiện sự việc. 5) “Nhật nguyệt... tướng sĩ hỹ.” Theo Chu thị (Chu Hy) “ “Tướng” là tiếng dùng để chỉ trạng thái sắp thành như vậy ở thời điểm hiện tại nhưng chưa chắc chắn là như vậy”. Giải thích Bài này ghi lại việc “Trọng Ni (Khổng tử) không làm chuyện cực đoan” (Mạnh Tử viết: “Trọng Ni bất vi dĩ thậm giả.”, Bài 10 chương 8 Ly Lâu hạ, Mạnh Tử) để khuyên dạy người học nên ứng xử quyền biến (không nên cố chấp mà linh động) việc đời. Đạo vốn là thứ có thể thông dụng mọi nơi, bất cứ chỗ nào trên thế giới. Tuy nhiên nếu tất cả đều khó có thể thực hiện một cách cao thượng th́ không thể gọi là đạo. Nói tổng quát, nếu là người có chí hướng th́ gấp rút muốn thực hiện cho bằng được, nếu là người có khí lực th́ hành động kịch liệt. Chỉ có bậc thánh nhân th́ đạo của họ rộng lớn, đức của họ cao dày, nên đối với sự việc trong thiên hạ không có việc nào là thật tốt, không có việc nào là thật xấu một cách cực đoan, họ tự nhiên ứng xử quyền biến, không có việc ǵ mà họ ứng xử không thích nghi. Bàn thêm Trong cựu chú (Luận Ngữ Tập Chú của Chu Hy) viết “Việc Khổng tử không đi gặp (Dương Hóa) là nghĩa (đúng với đạo lư). Khổng tử đi chào đáp lại là đúng lễ. Việc chờ đối tượng vắng nhà để đi đáp lễ là cách ứng xử sau khi đă nắm rơ ư tưởng suy nghĩ của đối tượng. Gặp giữa đường mà không lẫn tránh là bởi v́ không có ư định tuyệt giao. Trả lời nội dung đối tượng hỏi là do tính cách công b́nh vô tư của đạo lư. Trả lời nhưng không giải thích là do khiêm tốn chứ không phải nghẹn lời.” Tôi nghĩ rằng nội dung giải thích trên có lư. Tuy nhiên, đối với sự vĩ đại của đức thánh nhân (Khổng tử), việc lấy từng chữ, từng câu trong lời nói của họ mà nghị luận th́ giống như căn cứ vào các tiêu chuẩn chi tiết nhỏ nhoi mà quan sát sự to lớn bao la của cả trời, lấy một nắm đất nhỏ mà muốn suy diễn ra cả mặt đất. Càng bới móc t́m kiếm chi tiết th́ càng cách xa với chân ư! Nhận xét” 1) Nội dung tán thưởng thánh nhân trừu tượng trong Giải thích không cụ thể nên không có tính thuyết phục. 2) Nếu chú giải của Chu Hy cho chữ “tướng” đúng th́ cách dịch “Tôi sẽ ra làm quan.” của cụ Lê không nói lên được ư này.
24/9/2024 Bài 17.5 Người có đức nhân là người thực hiện 5 điều: cung kính thận trọng, khoan dung độ lượng, được người tin cậy, cần mẫn siêng năng, giúp đỡ và thực hiện ơn huệ với người khác. (Phương pháp để có đức nhân: trả lời của Khổng tử đối với Tử Trương) Tử Trương vấn nhân ư Khổng tử. Khổng tử viết: “Năng hành ngũ giả ư thiên hạ, vi nhân hĩ” – “Thỉnh vấn chi”. Viết: “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung tắc bất vũ, khoan tắc đắc chúng, tín tắc nhân nhiệm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sử nhân.” 子張問仁於孔子。孔子曰:能行五者於天下,為仁 矣。 請問之。曰:恭,寬,信,敏,惠。恭則不侮,寬則得眾,信則人任焉,敏則有功,惠則足以使人。 Dịch Tử Trương hỏi Khổng tử về đạo người. Khổng tử đáp: “Làm được năm đức trong thiên hạ th́ gọi là nhân”. Tử Trương nói: “Xin thầy cho con biết năm đức ấy”. Khổng tử đáp: “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung kính th́ không bị khinh nhờn, khoan hậu th́ được ḷng mọi người, thành tín th́ được người tín nhiệm, cần mẫn th́ thành công, từ huệ th́ sử dụng được người.” Ghi chú Trong Luận Ngữ Cổ Nghĩa sắp bài 3 chung với bài 2, nên bài 12.5 này trong sách cụ Lê là bài 12.6, số các bài sau trong chương 17 này cách nhau 1 số. Chú thích 1) “Tử Trương vấn... mẫn, huệ.” “Thiên hạ” là từ ngữ để diễn tả sự rất rộng lớn bao la, ư nói không có nơi chốn nào mà không như vậy. Nếu như thực hiện 5 điều này tốt trong thiên hạ th́ tác dụng của đức và giáo hóa sẽ lan rộng ra khắp mọi nơi và mọi sự vật sự việc trong xă hội đều có được vị trí thích hợp xứng đáng. 2) “Cung tắc... sử nhân.” “Nhiệm” là được tin cậy, được nương tựa vào. Câu trước nêu ra 5 hạng mục, câu này giải thích hiệu quả của mỗi hạng mục. Giải thích Bài này phu tử (Khổng tử) chủ yếu nêu lên mục tiêu nỗ lực tu dưỡng đức để nói cho Tử Trương biết. Nếu như thực hiện tốt 5 điều này trong thiên hạ th́ đối với người thân thuộc gần gũi hoặc người xa lạ ở xa, người có thân phận cao hoặc người có thân phận thấp, không ai là không tâm phục. “Vua của một nước nếu tin tưởng dùng các nhân vật có 5 đức tính này th́ quốc gia sẽ an định và giàu có thịnh vượng và nhà vua cũng được tôn kính và giữ được địa vị. Các con em tuân theo lời khuyên dạy này th́ hiếu đễ và trung tín.” (Bài 32 chương 13 Tận Tâm thượng, Mạnh Tử). Không có ǵ sánh bằng với đức nhân này. Lư do phu tử nêu ra 5 hạng mục này để dạy cho Tử Trương bởi v́ phu tử thấy Tử Trương đă cố gắng nâng cao đức của bản thân. Các học giả dựa vào lời Tăng tử phê phán Tử Trương (Bài 15 chương 19 Tử Trương, Luận Ngữ) mà khinh thường Tử Trương, kiến giải này trái ngược với đạo lư. Sự việc này như thế gian thường nói, biết một mà không biết hai. Nhận xét 1) Đối với 5 hạng mục: cung, khoan, tín, mẫn huệ, người dịch nghĩ rằng đối với người thông thường ai cũng có thể làm được nếu chịu để tâm cố gắng tập luyện hàng ngày. Bài 17. 8 Hiệu quả của việc học: tránh được phóng đăng, tránh bị tổn hại, tránh làm mất ḷng người, tránh gây loạn động, tránh bản thân cuồng bạo. Tóm lại là nhắc nhở chúng ta cảnh giác nên giữ được cân bằng, hài ḥa, và phán đoán, ứng xử đúng lúc, đúng chỗ đúng cương vị. Tử viết: “Do dă, nhữ văn lục ngôn lục tế hỹ hồ?” Đối viết: “Vị dă” – “Cư, ngô ngữ nhữ. Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế dă ngu. Hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế dă đăng. Hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế dă tặc. Hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế dă giảo. Hiếu dũng bất hiếu học, kỳ tế dă loạn. Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dă cuồng.” 子曰:由也,女聞六言六蔽矣乎? 對曰:未也。居!吾語女:好仁不好學,其蔽也愚;好知不好 學,其蔽也蕩;好信不好學,其蔽也賊;好直不好 學,其蔽也絞;好勇不好學,其蔽也亂;好剛不好 學,其蔽也狂。 Dịch Khổng tử nói: “Này Do (Tử Lộ), anh có nghe nói đến sáu đức và sáu điều che lấp không?” Tử Lộ đáp:“Thưa chưa” – “Ngồi đó, ta nói cho nghe. Ham đức nhân mà không ham học th́ bị sự che lấp là ngu muội; ham đức trí mà không ham học th́ bị sự che lấp là sự phóng đăng; ham đức tín mà không ham học th́ bị sự che lấp là bị tổn hại; ham ngay thẳng mà không ham học th́ bị sự che lấp là gắt gao, mất ḷng người; ham dũng mà không ham học th́ bị sự che lấp là loạn động; ham cương cường mà không ham học th́ bị sự che lấp là sự cuồng bạo.” Chú thích 1) “Tử viết... “Vị dă””. “Tế” bị bao trùm che dấu, bản chất không phát huy được. 2) ““Cư, ngô ngữ nhữ.” Theo quy định của lễ, người quân tử trường hợp hỏi sự việc ǵ, nếu thay đổi đề tài th́ phải đứng lên trả lời (thiên Khúc Lễ thượng, sách Lễ Kư). Do đó, Khổng tử bảo Tử Lộ ngồi xuống, sau đó mới dạy . 3) “Hiếu nhân... dă ngu.” Người có đức nhân là người yêu thương người. Tuy nhiên, nếu không học để biết thế nào là đức nhân chân chính sẽ trở nên do dự không quyết đoán, giống như đức nhân của quư bà. 4) “Hiếu trí... dă đăng.” “Đăng” là truy t́m cái cao xa không biết dừng. Tuy nhiên, nếu không học để biết phán đoán th́ quan hệ với xă hội và sinh hoạt hàng ngày sẽ xa cách dần. Lời dạy của Phật giáo và Lăo Trang thuộc loại này. 5) “Hiếu tín... dă tặc.” “Tặc” là làm tổn thương người khác. Người có đức tín nghĩa là người kiên tŕ giữ lời hứa. Nếu không học để biết giữ lời hứa là thích đáng hay không th́ sẽ làm tổn hại đạo và sẽ vấp ngă thất bại, giống như tín nghĩa của Vĩ Sinh尾生 và Tuân Tức荀息(cả 2 đều là người thời đại Xuân Thu). 6) “Hiếu trực... dă giảo.” Người có tính ngay thẳng không làm việc trái với đạo lư. Nếu như không học để bổ sung th́ tinh thần cấp thiết không biết khoan dung giống như truyện người con khai ra việc cha ḿnh trộm cắp dê của người khác (Bài 18 chương 13 Tử Lộ, Luận Ngữ) 7) “Hiếu dũng... dă loạn.” Người hiếu dũng là người thích tiến tới. Nếu không học để biết phán đoán th́ đi ngược với đạo lư và làm rối loạn luật pháp. 8) “Hiếu cương... dă cuồng.” Người có ư chí mạnh mẽ th́ tự ḿnh không khuất phục. Nếu không học để biết kiềm chế bản thân th́ dễ xung đột với người khác.
25/9/2024 Giải thích Bài này nói hiệu quả rất to lớn của của việc học. Tôi nghĩ rằng 6 hạng mục này đều là mỹ đức trong thiên hạ. Tuy nhiên, trong thực tế có người do bản tính bẩm sinh có được từ lúc chào đời, có người do sở thích nghiêng lệch của bản thân mà không thể có được đức chân chính (nghĩa là không có sự cân xứng giữa các đức tính). Có cố gắng học tập mới tu sửa được sự nghiêng lệch này, tu sửa các khuyết điểm mà hoàn thành vẹn toàn các đức tính đă có được. Trên đời không ǵ có hiệu quả tốt (ích lợi) bằng việc học. Bàn thêm Hiệu quả tốt (ích lợi) của việc học không có ǵ bằng. Giả sử nếu chúng ta chịu cố gắng học, việc học có thể giúp chúng ta tránh được những chỗ nghiêng lệch, chưa thật sự đúng của bản thân, khi gặp việc trọng đại trong đời sống tự nhiên không bị bối rối sai lầm. Nếu như khinh suất chỉ cậy vào trí tuệ của bản thân, th́ dù có t́m kiếm đạo lư thâm sâu cao xa và t́m ra được sự thần bí trong thiên hạ th́ cũng không có được đạo chân chính. Bởi vậy, kinh Dịch viết “Hăy ghi nhớ nhiều lời nói và việc làm (ngôn hành) của thánh hiền ngày xưa để tu dưỡng đức” (tượng văn của quẻ Đại Súc). Những người có tư tưởng Phật giáo hoặc Lăo Trang không phải là không truy cứu các tư tưởng cao xa nhưng họ xa lánh xă hội đương thời, bỏ đi quan hệ con người. Do đó lư do thánh nhân trách họ, bởi v́ họ cách rời đạo lư của vạn vật, bỏ đi tài năng biết phân biệt, từ bỏ việc nghe và thấy việc đời để có kiến thức. Bởi vậy Khổng môn lấy việc học để tu dưỡng đức làm trọng yếu. Nhận xét (1) Bài này đánh thức chúng ta nhận thức tầm quan trọng của việc học. Tài sức và kiến thức của một con người có giới hạn, trong khi t́nh h́nh của xă hội đa dạng lại biến chuyển không ngừng. Do đó phán đoán đúng và ứng xử sự việc đúng lúc, đúng chỗ, đúng vị trí của bản thân cần phải học không ngừng suốt cả đời. Tuy nhiên, điều cần thiết không nên quên là phải nắm vững cơ sở, căn bản để phán đoán thích đáng, tham khảo ư kiến của người khác nhưng không bị cuốn trôi theo. Một trong những vĩ đại của Khổng tử là người đầu tiên nêu ra tầm quan trọng của việc học trong lúc người đời xem ông là bậc thánh nhân! Bài 17.20 Quan niệm để tang cha mẹ 3 năm của Khổng học. Tể Ngă vấn tam niên chi tang: “Kỳ dĩ cửu hỹ! Quân tử tam niên bất vi lễ, lễ tất hoại, tam niên bất vi nhạc, nhạc tất băng. Cựu cốc kư một, tân cốc kư thăng, toản toại cải hỏa, kỳ khả dĩ hỹ”. Tử viết: “Thực phù đạo, y phù cẩm ư nhĩ an hồ?” Viết: “An!” – “Nhữ an tắc vi chi! Phù quân tử chi cư tang, thực chỉ bất cam, văn nhạc bất lạc, cư xử bất an, cố bất vi dă. Kim nhữ an, tắc vi chi”. Tể Ngă xuất. Tử viết: “Dư chi bất nhân dă. Tử sinh tam niên, nhiên hậu miễn ư phụ mẫu chi hoài. Phù tam niên chi tang, thiên hạ chi thông tang dă. Dư dă hữu tam niên chi ái ư kỳ phụ mẫu hồ?” 宰我問:三年之喪,期已久矣!君子三年不為禮,禮必壞;三年不為樂,樂必崩。舊榖既沒,新榖既升,鑽燧改火,期可已矣。子曰:食夫稻,衣夫錦,於女安乎?曰:安!女安,則為之!夫君子之居喪,食旨不甘,聞樂不 樂,居處不安,故不為也。今女安,則為之!宰我出。子曰:予之不仁也!子生三年,然後免於父母之懷。夫三年之喪,天下之通喪也,予也,有三年之愛於其父母乎? Ghi chú: Trong sách của cụ Lê là Bài 17.21 Dịch Tể Ngă hỏi về phép để tang cha mẹ ba năm, bảo: “Một năm cũng đă lâu rồi. Người quân tử (để tang) ba năm không học tập lễ, lễ nghi tất phải đổ nát, ba năm không tấu nhạc, âm nhạc tất thất truyền. (Đủ một năm) lúa cũ đă ăn hết, lúa mới đă chín, cây dùi cây đe lấy lửa đă dùi hết một ṿng (Mỗi mùa dùi một loại cây để lấy lửa, hết bốn mùa là hết một ṿng), để tang một năm là được rồi”. Khổng Tử nói: (Chưa hết ba năm) mà ăn cơm gạo thơm, mặc áo gấm th́ tṛ có yên ḷng không?” Tể Ngă đáp: “Yên”. Khổng Tử nói: “Yên ḷng th́ cứ làm! Người quân tử cư tang, ăn đồ ngon không biết mùi, nghe nhạc không thấy vui, ở nhà của ḿnh không thấy yên ổn (thời đó cất một nhà xấu ở gần mộ để cư tang), cho nên không làm như vậy (không ăn gạo ngon, mặc áo tốt…). Nếu tṛ thấy yên ḷng, th́ cứ làm!” Tể Ngă ra rồi, Khổng Tử nói: “Dư là đứa bất nhân? Đứa trẻ sinh ra, sau ba năm cha mẹ mới thôi bồng bế, (cho nên) để tang ba năm là lệ phổ biến trong thiên hạ. Dư nó được cha mẹ bồng bế ba năm hay không?” (Có sách dịch là: Dư nó có yêu thương cha mẹ được ba năm hay không?) Chú thích 1) “Tể Ngă vấn... cửu hỹ!” “Kỳ” là đầy 1 năm. 2) “Quân tử... nhạc tất băng.” Tể Ngă tŕnh bày lư do không thể để tang 3 năm. 3) “Cựu cốc... khả dĩ hỹ. ” Tể Ngă tŕnh bày lư do để tang 1 năm là đủ. “Một” là hết sạch. “Toại” là cây để lấy/nhóm lửa. Thay đổi lửa là việc như sau. Theo sách Chu Lễ, quan Tư Quán司爟 phụ trách việc ra mệnh lệnh sử dụng lửa. Tùy theo mùa mà thay đổi lửa của quốc gia sử dụng để ngăn chặn các bệnh dịch xảy ra theo mùa. Theo chú thích, mùa xuân dùng cây du và cây liễu, mùa hè dùng cây táo và cây hạnh, cuối hè dùng cây dâu nuôi tằm hoặc cây chá (dâu rừng), mùa thu dùng cây tạc (ngày xưa dùng làm lược chải tóc) và cây do (cây gỗ mềm dùng làm vành xe và lấy lửa), mùa đông dùng cây ḥe và cây đàn (loại cây có hương thơm, có bạch đàn và hoàng đàn). Đọc lại nguyên văn rơ ràng là một năm “cải hỏa” (làm lửa mới) một lần chớ không phải thay đổi lửa từng mùa. Do đó, không nên chỉ căn cứ vào sách Chu Lễ mà giải thích ư nghĩa của bài này. 4) “Tử viết... Viết: “An!” ” “Đạo” là (lúa) nếp (theo Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu là lúa gié), trong loại cốc là thứ ngon. Để tang cha mẹ, mặc áo tang sổ gấu trong 3 năm. Trong thời gian để tang, mỗi năm làm lễ Tiểu Tường, sau đó mới được ăn rau cải, trái cây, đội nón bằng lụa mộc và mặc áo có gấu màu đỏ nhạt tuy nhiên thắt lưng gai vẫn phải mặc. Sau khi hết tang 3 năm mới được ăn nếp và mặc y phục bằng gấm. 5) ““Nhữ an tắc…tắc vi chi”.” Đây là lời của phu tử. “Chỉ”旨 là ngon (mỹ vị). Theo Chu thị (Chu Hy), ““Nhữ an tắc vi chi!” là lời để từ bỏ đối tượng (Tề Ngă) vào lúc ban đầu. Kế đến v́ động ḷng thương xót không nỡ bỏ nên phu tử mới chú ư việc Tề Ngă không chịu suy nghĩ kỹ càng, và cuối cùng lại nói “Kim nhữ an, tắc vi chi” để quở trách nặng nề.” 6) “Tể Ngă xuất…kỳ phụ mẫu hồ?”” “Hoài” là ẵm bồng. “Thông” là qua hết (trọn). Phu không muốn chỉ trích lỗi lầm của Tề Ngă trước mặt ông nên sau khi Tề Ngă đi ra ngoài, phu tử giải thích lư do người quân tử nhất định phải để tang 3 năm là để người khác nói lại cho Tề Ngă nghe mong rằng Tề Ngă có điểm giác ngộ hiểu rơ lư do cần phải để tang 3 năm. Giải thích Nội dung lời nói của Tề Ngă chắc chắn là lúc khi cha mẹ ông c̣n sống. Tôi nghĩ rằng trường hợp đối với người mất cha mẹ khi c̣n bé hoặc đối với người ngay cả cha mẹ c̣n sống th́ không hiểu tâm t́nh của việc để tang nên nghi ngờ ư nghĩa của việc để tang 3 năm. Một khi gặp việc bất hạnh lớn, cha mẹ qua đời th́ chân tâm tự nhiên sẽ nổi lên, không để tang 3 năm th́ tâm t́nh không yên được. Do đó trong bài 16 chương 19 Tăng tử nói “: “Ta nghe thầy ta nói: Người ta trong các việc khác chưa biểu lộ được hết t́nh cảm tự nhiên, chỉ trong việc tang cha mẹ là biểu lộ được hết thôi.” (“Ngô văn chư phu tử: Nhân vị hữu tự trí giả dă, tất dă thân tang hồ?”). Hơn nữa, nếu suy nghĩ đến lời của phu tử nói với Tề Ngă “Nếu tṛ thấy yên ḷng, th́ cứ làm!” th́ chúng ta có thể hiểu cha mẹ của Tề Ngă lúc đó c̣n sống. Trong quan hệ đối với cha mẹ, chắc chắn có chỗ con cái phải nhờ vào cha mẹ mới trưởng thành được. Điều này đều đúng từ vua chúa cho đến thứ dân (người dân b́nh thường). Nếu như hiểu ư nghĩa của câu nói “Trẻ con chào đời sau 3 năm mới rời ḷng cha mẹ” (thiên Tam Niên của sách Lễ Kư) th́ có ai nghi ngờ việc để tang 3 năm. Phải chăng thánh nhân (các thánh thiên tử ngày xưa) định việc để tang cha mẹ 3 năm là bởi v́ nghĩ rằng thời gian để tang 3 năm đủ để con cái để con cái đáp đền công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Lời của phu tử rất rơ ràng nói lên ư này. Các nhà nghiên cứu lễ cho rằng thánh nhân đặt ra chế độ để tang này là để có được trung dung. Tôi nghĩ rằng ư kiến này không phải là một suy đoán hợp lư. Nhận xét (1) Chữ 女ngoài âm đọc “nữ” (phái nữ) c̣n âm đọc “nhữ” nghĩa “mày, tṛ...”. Âm đọc của chữ 汝cũng là “nhữ” với nghĩa “mày, tṛ...”. (2) Tể Ngă là học tṛ của Khổng tử. Tên là Dư, tự là Tử Ngă, thường gọi là Tể Ngă, tính t́nh không bị ràng buộc bởi các quy định thông thường. Có tài ăn nói giỏi như Tử Cống. Các bài liên quan với ông là 3.21, 5.9, 6.24, 11.2, 17.21 (theo số bài trong sách cụ Lê). (3) Mặc dù nội dung quy định nội dung để tang cha mẹ của ngày xưa không hẳn là hợp lư nhưng cho chúng ta thấy người xưa rất trọng ân nghĩa. Thí dụ nhiều người con v́ để tang cha mẹ không được dự thi hoặc kết hôn, những việc rất quan trọng trong cuộc đời của họ. (4) Nhận xét của Jinsai về trường hợp cha mẹ mất sớm hoặc lúc cha mẹ c̣n sống đúng bởi v́ thông thường con người khi mất đi cha mẹ rồi mới biết sự quư báu, công ơn khổ nhọc nuôi dưỡng của cha mẹ. (5) Người dịch thiển nghĩ cách suy nghĩ của Tể Ngă và câu nói của Khổng tử “Nếu tṛ thấy yên ḷng, th́ cứ làm!” là hợp lư. Vấn đề là “biết và nhớ ơn cha mẹ” và sống sao cho cha mẹ vui ḷng măn nguyện chứ không phải giữ theo khuôn khổ cứng nhắc. Dĩ nhiên, lúc cha mẹ c̣n sống để cha mẹ phải sống cực khổ mà sau khi cha mẹ vừa qua đời bản thân ḿnh lại sống sung sướng là không phải đạo làm người, là điều không cần phải nói. (6) Điều người dịch không hiểu là tại sao Khổng tử nói với Tể Ngă: “Nếu tṛ thấy yên ḷng, th́ cứ làm!” để rồi sau khi Tể Ngă đi ra ngoài, ông lại nói “Dư là đứa bất nhân”. Có lẽ từ “bất nhân” ở đây chỉ có nghĩa nhẹ nhàng là “không có ḷng thương cha mẹ” chức không phải có nghĩa “không phải là con người”. Bởi v́ là bậc thầy, lại là bậc thầy như phu tử, th́ đối với điều không phải to lớn của học tṛ phải t́m cách giáo hóa đến cùng chứ không nên trách cứ sau lưng như trong các lời giải thích! Có thể do người ghi chép lại không chính xác chăng?
Nguyễn Sơn Hùng Tu sửa, bổ xung Ngày 19/5/202
Tài liệu tham khảo 1) Kaitsuka Shigeki (1983): Itô Jinsai, Danh Tác của Nhật Bản 13, Chuokouronsha 2) Itô Jinsai: Luận Ngữ Cổ Nghĩa (nguyên văn) 3) Ogyu Sorai: Luận Ngữ Trưng, Ogawa Tamaki dịch chú (1994), Heibonsha. 4) Chu Hy: Luận Ngữ Tập Chú, Tsuchida Kenjirô dịch chú (2015), Heibonsha.
|