T̀M HIỂU Ư NGHĨA ĐỨC NHÂN

TRONG LUẬN NGỮ CỔ NGHĨA CỦA ITÔ JINSAI (Bài 7)

 

Đức nhân trong chương 12 Nhan Uyên

 

Nguyễn Sơn Hùng

Phàm lệ

-         Dịch là của Nguyễn Hiến Lê.

-         Chú thích và Bàn thêm là của Jinsai.

-         Các hạng mục khác là của người dịch.

 

CHƯƠNG 12 NHAN UYÊN 

Bài 12. 1 Phương pháp thực hiện đức nhân: khắc phục ḷng ham muốn riêng tư và luôn luôn hành động, ứng xử theo lễ. “Khắc kỷ phục lễ”.(Nội dung phu tử dạy cho Nhan Hồi).“Khắc kỷ” là căn bản để thực hiện đức nhân (Jinsai). 

Nhan Uyên vấn nhân. Tử viết: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. Vi nhân do kỷ, nhi do nhân hồ tai?”

Nhan Uyên viết: “Thỉnh vấn kỳ mục”. Tử viết: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động”. Nhan Uyên viết: “Hồi tuy bất mẫn, thỉnh sự tư ngữ hỹ.”

顏淵問仁。子曰:克己復禮為仁。一日克己復禮, 天下歸仁焉。為仁由己,而由人乎哉? 顏淵曰:請問其目? 子曰:非禮勿視,非禮勿聽,非禮勿言,非禮勿動。 顏淵曰:回雖不敏,請事斯語矣! 

Dịch

Nhan Uyên hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Khắc kỉ (chế thắng tự dục) mà trở về lễ (đạo lư) th́ là nhân. Một ngày khắc kỉ trở về lễ, th́ khắp thiên hạ sẽ khen đức nhân của ḿnh (có sách giảng là sẽ bị ḿnh cảm hoá mà theo đức nhân). Làm điều nhân là do ḿnh, chứ đâu có do người?” Nhan Uyên hỏi tiếp: “Xin thầy chỉ cho con những điều mục (để thực hành)”. Khổng tử bảo: “Cái ǵ không hợp lễ th́ đừng nh́n, không hợp lễ th́ đừng nghe, không hợp lễ th́ đừng nói, không hợp lễ th́ đừng làm”. Nhan Uyên thưa: “Hồi con tuy không minh mẫn cũng xin theo lời thầy dạy.” 

Chú thích

1) “Nhan Uyên... phục lễ vi nhân”: Nội dung bài này nói rơ nội dung đạo của phu tử (Khổng tử) phổ biến trong thiên hạ. “Khắc” nghĩa là thắng. “Kỷ” là tiếng chỉ bản thân ḿnh, không phải nói về người khác. “Phục” là lập đi lập lại. “Khắc kỷ” nghĩa là quên ḿnh để nghe theo người, không cường điệu (chủ trương mạnh mẽ) về cái tôi của ḿnh. Nếu như khắc phục được ḷng ham muốn tư lợi sẽ dẫn đến ḷng thương yêu dân chúng. Nếu như lập đi lập lại lễ độ trong cuộc sống thực tế và cách sống th́ sẽ trở nên có tiết độ và lịch sự th́ đó là việc thực hiện đức nhân.

2) “Nhất nhật... nhân hồ tai?”: “Nhất nhật” là ngày bắt đầu lập chí. Vào một ngày nào đó lập chí khắc phục bản thân và lập đi lập lại lễ độ trong cuộc sống th́ tất cả người trong thiên hạ sẽ hướng ḷng về đức nhân, cái thế mạnh của việc hướng tâm về đức nhân của người đời giống như cơn lũ mạnh không có ǵ có thể ngăn chặn được. Ở phần cuối câu, lời lập lại “Vi nhân do kỷ, nhi do nhân hồ tai” là  để diễn tả ư khẳng định, chắc chắn của chân lư: nếu bản thân ḿnh muốn thực hiện đức nhân th́ rơ ràng bất cứ ai cũng sẽ làm được.

3) “Nhan Uyên... tư ngữ hỹ.”: “Mục” là hạng mục. Thí dụ, các loại từ vựng khác như lục ngôn六言 (lục đức: nhân, trí, tín, trực, dũng, cương), lục tế六蔽(6 điều kiện che lấp lục đức trên, Bài 7 (trong sách cụ Lê là Bài 8 chương 17 Dương Hóa), ngũ mỹ tứ ác (ngũ mỹ: 5 mỹ đức, Bài 3 (trong sách cụ Lê là Bài 2 chương 20 Nghiêu Viết).

Chu thị (tức Chu Hy) viết “sử” việc ǵ là sự chuyên tâm vào việc đó”. Được phu tử dạy cho cương lĩnh của việc thực hiện đức nhân nên Nhan tử hỏi thêm các hạng mục cụ thể bởi v́ ông muốn thực tiễn. Do đó, phu tử giảng thêm 4 hạng mục nói trên. Nếu thực hành được các hạng mục nói trên, bản thân sẽ có được đức nhân và không bao giờ mất đi. Ư nghĩa giống như điều mà trong kinh Dịch nói “Quân tử dĩ phi lễ phất lư” (Người quân tử không làm điều phi lễ).

Nghe phu tử giảng dạy như thế, Nhan tử lập tức thề với ḷng là sẽ thực tiễn. Đối với Nhan tử, ông có tự tín là bản thân làm được. Do đó, ông không có nghi ngờ ǵ và xem đó là nhiệm vụ của ḿnh. (Lấy việc thực hiện đức nhân làm nhiệm vụ là công việc rất khó cả cuộc đời, xem thêm Bài 8.8).  

Giải thích

Nhan tử là nhân tài (người có tài năng) để phụ tá cho vua quản trị quốc gia. Do đó phu tử giảng đạo thực hiện đức nhân đối với thiên hạ cho ông hiểu. Quan hệ giữa bài này với Bài 10 chương 15 Vệ Linh Công viết nội dung trả lời câu hỏi của Nhan tử về phương châm quản trị quốc gia, là mặt trước và mặt sau của một vật (ư nói bổ sung nhau). Trong Bài 10 này, phu tử trả lời hăy dùng những nội dung tốt đẹp có ưu điểm và bỏ đi các khuyết điểm của lễ nhạc trong 4 thời đại (Ngu (Thuấn), Hạ, Ân và Chu) là được.

Đức nhân vốn là xuất phát từ ḷng từ ái của một cá nhân và ḷng trắc ẩn (không nỡ làm ngơ trước sự bất hạnh của người/vật khác) rồi từ đó phát triển lớn rộng ra, không kể trong hay ngoài một quốc gia, gần hay xa. Mức độ nhỏ là trong một gia đ́nh, mức độ kế đến là trong một vùng hay một nước, kế tiếp là mức độ lớn của cả thế giới.

Phong thái ḥa thuận thư thả làm dịu mát từ da dẻ bên ngoài cho đến xương tủy bên trong của con người. Tỷ dụ như đức của vua Nghiêu lan rộng phổ biến khắp thế gian đến cả trên trời dưới đất (Nghiêu Điển trong kinh Thư), hoặc cách làm quản trị đất nước ngăn nắp tề chỉnh của vua Thuấn làm cho các vua chư hầu tập hợp ở tứ môn của kinh đô tất cả đều cảm thấy ḥa nhă thư thái (Thuấn Điển trong kinh Thư)

Tôi nghĩ rằng khắc kỷ là căn bản của việc thực hiện đức nhân, việc luôn luôn thực tiễn theo đức lễ là mảnh đất nuôi và bồi dưỡng đức nhân. Nếu không có việc khắc kỷ th́ không thể nào có được đức nhân. Nếu không luôn luôn thực tiễn theo đức lễ th́ đức nhân không thể nào tồn tại. Trong sách Trung Dung viết “Trai minh, thịnh phục, phi lễ bất động, sở dĩ tu thân dă” (Cảnh giới kiêng cử ăn uống, lời nói, việc làm giữ ǵn tinh thần, thân thể thanh khiết, ăn mặc chỉnh tề, không phải lễ không hành động, cốt để sửa đổi chính ḿnh.) Nhờ tu thân mà giữ ǵn được đức nhân. Phu tử cũng nói: “Tu thân ḿnh để lo việc của dân chúng là đức tối cao, ngay cả vua Nghiêu, vua Thuấn cũng khổ tâm làm sao cho được tốt, thuận lợi.” (Bài 28 chương 6 Ung Dă). Hiệu quả của việc tu thân thật sự to lớn làm sao! 

Nhận xét

(1)    Bài này rất quan trọng đối với Khổng học v́ Khổng học xem trọng nhất là thực hiện được đức nhân mà bài này giải thích phương pháp cụ thể để thực hiện đức nhân của chính từ phu tử.

(2)    Nên lưu ư ư nghĩa của chữ “phục” trong câu “Khắc kỷ phục lễ”. “Phục” ở đây không có nghĩa là trở lại như trong từ “hồi phục” mà là “lập đi, lập lại” nói cách khác là “luôn luôn”. Do đó, “Khắc kỷ phục lễ” nghĩa là “hành động v́ người không phải v́ lợi ích riêng tư của bản thân, và luôn luôn hành động, ứng xử sự việc theo lễ”. Nên chú ư vào ư nghĩa thật sự của lễ, không phải chỉ cố chấp vào h́nh thức bên ngoài mà phải xuất phát từ ḷng tôn kính đối tượng và cẩn trọng khi hành động hoặc ứng xử. Nakae Tôju nói trọng yếu của đạo làm người là ái và kính là lư do này.

(3)    Từ bài này chúng ta cũng có thể thấy được “khắc kỷ” là một trong những cách cụ thể thực hiện đức nhân. “Khắc” nghĩa là cố gắng thắng được. “Khắc kỷ” là cố gắng thắng được ḷng ham muốn riêng tư hoặc v́ lợi ích cá nhân của ḿnh. Bởi v́ nếu đối tượng của sự việc là bản thân và người khác th́ việc thiên về lợi ích của ḿnh hơn v́ người là việc thường t́nh do đó cần phải cố gắng giảm bớt sự ham muốn của bản thân.

(4)    Sau khi dịch và viết Nhận xét trên khoảng 1 tháng, vào ngày 27/8/2024 người dịch đọc lại “chương V Chữ “Nhân” trong Khổng học” của sách Khổng Học Đăng, thấy nhận xét cụ Phan Sào Nam giải thích “phục lễ” là “hồi phục được chân lư của trời”, nói theo khoa học là “hồi phục theo được quy luật tự nhiên” là chí lư nhất. Bởi v́ thông thường ḷng ham muốn riêng tư làm cho chúng ta mù quáng, cố chấp làm những việc trái với quy luật tự nhiên nên sinh ra rối loạn hoặc thất bại. Mục đích cuối cùng của “lễ” là giữ ǵn trật tự thiên nhiên để cho mọi sự vật được vận hành suôn sẻ trôi chảy theo lẽ tự nhiên chứ không phải chỉ là h́nh thức giữ lễ phép như thường nghĩ. Ở điểm này người dịch cảm thấy sức học của cụ Phan không thua ǵ hoặc có phần trội hơn các học giả Nhật Bản, thật là một điều đáng hănh diện, do đó ghi thêm vào đây.

(5)    Trong phần giải thích Bài 7.11 trong Luận Ngữ Giảng Nghị của Shibusawa Eiichi, ông cho rằng nhờ những người cầm đầu trong công cuộc Duy Tân như Sanjô Saneyumi, Iwakura Tomomi, Saigô Takamori, Ôkubo Toshimichi, Kido Takayoshi...đă không nghĩ đến lợi ích cá nhân riêng tư nên công cuộc Duy Tân mới thành công như vậy, không giống như ở Nga hoặc Trung Quốc. Sau khi đọc phần giải thích này người viết thật thấm thía chủ trương của Jinsai: Khắc kỷ là căn bản của việc thực hiện đức nhân. (Bổ sung ngày 12/9/2024) 

Bài 12. 2 Phương pháp thực hiện đức nhân: Điều ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người, và luôn luôn hành động, ứng xử với ḷng cẩn trọng và hợp với lễ. “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Nội dung phu tử dạy cho Trọng Cung). 

Trọng Cung vấn nhân. Tử viết: “Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế. Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Tại bang vô oán, tại gia vô oán”. Trọng Cung viết: “Ung tuy bất mẫn, thỉnh sự tư ngữ hỹ.”

仲弓問仁。子曰:出門如見大賓,使民如承大祭。己所不欲,勿施於人。在邦無怨,在家無怨。仲弓曰:雍雖不敏,請事斯語矣

Dịch

Trọng Cung hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Ra khỏi cửa th́ (phải nghiêm trang) như gặp khách quư; sai khiến dân th́ phải thận trọng như trong một cuộc lễ lớn, cái ǵ ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người. Trong nước không ai oán ḿnh, trong “nhà” một đại phu không ai oán ḿnh”. Trọng Cung thưa: “Ung con tuy không minh mẫn cũng xin theo lời thầy.” 

Chú thích

1) “Xuất môn” ư nói khi ra khỏi nhà cần phải nghĩ ḿnh đang đảm chức vị công khanh (chức quan lớn của nước chư hầu).

“Như thừa đại tế” nghĩa là không khinh bỉ xem thường dân chúng. Trong ḷng lúc nào cũng có tinh thần giữ lễ tức là đức nhân đă có trong con người của ḿnh.

1)       “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều ḿnh không mong muốn th́ đừng làm cho người) là điều trọng yếu để có được đức nhân.

2)       “Tại bang vô oán, tại gia vô oán” (khi làm việc quốc gia không có người oán trách, khi xử sự việc trong gia đ́nh hoặc trong họ hàng cũng không có người oán giận) chỉ hiệu quả khi con người đă có được đức nhân. Thiên Văn Vương Hữu Thanh của Đại Nhă trong kinh Thi có câu: “Từ Tây, Đông, Nam, Bắc tập hợp đến, không ai mà tâm không phục” là để nói ư này.

4) “Trọng Cung...ngữ hỹ”: Trọng Cung lập tức hiểu được ngay ư muốn nói của phu tử và thu nhận không có một chút nghi ngờ. Do đó, các môn nhân khi biên tập Luận Ngữ, sắp xếp bài này ngay sau câu truyện của Nhan tử, cho thấy 2 nhân vật này là nhân tài tương đương nhau. 

Giải thích

Tài năng của Trọng Cung đứng hạng kế tiếp sau Nhan tử. Do đó, phu tu cũng giảng giải cho Trọng Cung hiểu đạo để thực hiện đức nhân. Giống như “Kiến đại tân” (gặp khách quan trọng), giống như “Thừa đại tế” (giúp vua trong việc cúng tế lễ quan trọng) nghĩa là hành động thận trọng, cẩn trọng đối tượng không để sai lầm xảy ra, nghĩa hành động với tấm ḷng (tinh thần) kính敬. “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người) là phương pháp thực hiện thứ恕. Nếu như hành động hoặc ứng xử sự việc với tinh thần của kính và thứ th́ đó là thực hiện được đức nhân. Hành động, ứng xử với tinh thần của kính và thứ th́ đối với việc nước (xă hội), việc trong gia đ́nh thân thuộc sẽ không có oán hận. 

Bàn thêm

Tất cả các đệ tử của phu tử đều hiểu rơ ư nghĩa đúng của đức nhân nhưng phương pháp cụ thể để thực hiện đức nhân th́ chưa biết rơ ràng. Do đó, tất cả các câu hỏi của các đệ tử và nội dung trả lời của phu tử đều nói về phương pháp thực hiện cụ thể, chưa có lần nào luận bàn về ư đúng của đức nhân. Nếu đem việc trồng hoa để tỉ dụ cho việc này th́ đức nhân là hoa, và phương pháp thực hiện đức nhân là công việc tưới nước, bón phân, chăm sóc cây như bắt sâu, cắt tỉa cành lá xấu ...để cho hoa được trổ nở. Các nội dung hỏi của đệ tử và trả lời của phu tử đều là phương pháp tưới, nuôi dưỡng cây, chứ chưa có lần nào nói về h́nh dáng, màu sắc, hương thơm của hoa. Trong khi đó, các nhà Nho của thời đại sau này (ư nói Tống Nho) chỉ biết đào xới truy cứu lư luận của đức nhân ở mặt ngôn từ! (ư nói chi lo t́m hiểu lư thuyết mà không quan tâm đến mặt thực hành, thực dụng). Việc làm của các nhà Nho này giống như lấy nội dung của các phương pháp tưới nước, chăm sóc cây để tưởng tượng ra h́nh dáng, màu sắc, hương thơm của hoa. Các nội dung học thuyết của các Nho gia này, hoặc của Lăo tử, Trang tử tất cả đều rơi vào lĩnh vực hư vô, yên tĩnh của tâm (tinh thần) (nghĩa là hư tĩnh), hoặc là họ chỉ cắn Luận Ngữ cho đầy miệng mà thôi (ư nói, đọc hết lời nhưng không suy xét ư nghĩa bao hàm bên trong để tiêu hóa và thực hiện) là do lư do này.

Vào thời đại của Mạnh tử (tức thời Chiến quốc), đạo thánh hiền suy thoái, học thuyết của thánh hiền không c̣n được quan tâm đến, người đời lúc đó không những không biết phương pháp thực hiện đức nhân mà ngay cả ư nghĩa của đức nhân cũng không biết. Do đó, Mạnh tử đă khẩn thiết giảng giải một cách thận trọng cho người đời hiểu rơ. Ông nói “Ḷng trắc ẩn (ḷng không nở bỏ qua) là nguồn gốc của đức nhân. Ḷng tu ố (thấy xấu hổ khuyết điểm của ḿnh, chán ghét việc xấu của người khác) là nguồn gốc của là nguồn gốc của đức nghĩa.” (Bài 6 Chương 3 Công Tôn Sửu thượng, Mạnh Tử). Ông lại nói “Mọi người đều có ḷng trắc ẩn (không nở bỏ qua khi thấy người khác bị khốn khó), phát triển ḷng trắc ẩn này th́ đạt đến đức nhân. Mọi người ai cũng có ḷng tu ố, phát triển ḷng tu ố th́ có đạt đến đức nghĩa. (Bài 31 Chương 14 Tận Tâm hạ, Mạnh Tử). Do đó, người nào muốn t́m hiểu phương pháp để thực hiện đức nhân th́ nên lấy Luận Ngữ làm căn cứ (căn bản) c̣n nếu muốn biết đúng ư nghĩa của đức nhân th́ nên tham khảo sách Mạnh Tử. 

Nhận xét

(1)     Đọc Giải thích bài này của Jinsai, một lần nữa chúng ta thấy chủ trương ái và kính của Nakae Tôju (1608 ~ 1648) là chí lư. 

Bài 12. 3 Phương pháp thực hiện đức nhân: Thận trọng lời nói. “Kỳ ngôn dă nhẫn” (Nội dung phu tử dạy cho Tư Mă Ngưu). 

Tư Mă Ngưu vấn nhân. Tử viết: “Nhân giả, kỳ ngôn dă nhẫn”. Viết: “Kỳ ngôn dă nhẫn, tư vị chi nhân hĩ hồ?” Tử viết:“Vi chi nan, ngôn chi đắc vô nhẫn hồ?”

司馬牛問仁。子曰:仁者,其言也訒。曰:其言也訒,斯謂之仁矣乎? 子曰:為之難,言之得無訒乎? 

Dịch

Tư Mă Ngưu hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Người có đức nhân th́ biết nhịn lời”. Lại hỏi: “Biết nhịn lời mà thành người có đức nhân ư?” Đáp: “Làm th́ khó, (nói th́ dễ), vậy chẳng nên nhịn khi ḿnh muốn nói sao?” 

Chú thích

1)       “Tư Mă Ngưu vấn nhân”: Tư Mă Ngưu là đệ tử của phu tử, theo (Trọng Ni Đệ Tử Liệt Truyện trong) sách Sử Kư. Tên là Lưu犂.

2)       “Tử viết... dă nhẫn”: “Nhẫn” là khó khăn (ư nói: nói ư tứ, lời nói thận trọng như khó khăn mới nói nên lời.). Đức của người có đức nhân đều tồn tại ở bên trong tâm hồn, tinh thần của họ, không có nói ra ngoài một cách cẩu thả, không suy nghĩ. Bởi v́ Tư Mă Ngưu có bản tính hay nói nhiều ra ngoài nên phu tử nói như trong bài để cảnh giác ông.

3)       “Viết... vô nhẫn hồ?”: Tư Mă Ngưu nghĩ rằng đạo của đức nhân rất rộng lớn, chưa hẳn như lời phu tử nói với ông nên ông mới hỏi lại. Đối với câu hỏi lại của Mă Ngưu, phu tử trả lời với ư sau: Người có đức nhân lấy việc nỗ lực thực hiện việc tốt v́ người làm chính yếu, bất cứ việc cũng không làm cẩu thả. Do đó, người có đức nhân cần phải cẩn trọng lời nói của ḿnh, không ăn nói bừa băi, cẩu thả. Nếu ăn nói bừa băi, cẩu thả th́ không thể có được đức nhân. 

Giải thích

Đối với các câu hỏi về đức nhân của các đệ tử, phu tử lúc nào cũng đưa thí dụ về việc làm cụ thể của người có đức nhân để trả lời. Tại sao như vậy?

Bởi v́ đức nhân vốn không có h́nh dạng cụ thể. Do đó để cho người nghe nắm bắt được điểm chính yếu của đức nhân, việc đưa ra việc làm cụ thể của người có đức nhân trong khi giảng giải sẽ rơ ràng và dễ hiểu hơn. Do lư do này, phu tử có lúc đưa ra trạng thái tinh thần, có lúc đưa ra việc làm cụ thể của người có đức nhân. Bài này tương ứng với trường hợp này.

Chu thị (Chu Hy) “Bởi v́ Tư Mă Ngưu là con người có bản tính như vậy nên nếu phu tử không nêu ra khuyết điểm khó nghe của ông để dạy mà đưa ra lời giải thích tổng quát để ông tự ngẫm nghĩ biết khuyết điểm của ḿnh rồi tự giác sửa đổi mà có được đức nhân th́ không có thể đối với con người có bản tính hấp tấp nôn nóng như ông. Do đó, phu tử mới dùng cách dạy như trong bài.” 

Nhận xét

(1)    Đối với Tử Cống, người đệ tử giỏi ăn nói, phu tử cũng khuyên tương tự khi ông hỏi thế nào là người quân tử: “Tiên hành kỳ ngôn, nhi hậu ṭng chi.” (Trước hăy làm điều muốn nói, rồi hăy nói sau) (Bài 2.13).

(2)    Tục ngữ Nhật Bản có câu: người nói nhiều thường ít có phẩm cách (từ đa, phẩm thiều). Việt Nam có các tục ngữ, ca dao như:

“Ăn bớt bát, nói bớt lời”

“Vàng thời thử lửa, thử than,

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.”

 

Bài 12. 21 Điều kiện để đúng nghĩa của người sĩ (kẻ sĩ) là yêu thích sự chất phát, chính trực và đạo nghĩa. Xem trọng thực chất bên trong không phải vẻ đẹp bên ngoài. Hữu xạ tự nhiên hương. (Nội dung phu tử dạy cho Tử Trương) 

Tử Trương vấn: “Sĩ hà như tư khả vị chi đạt hỹ?” Tử viết: “Hà tai, nhĩ sở vị đạt giả”. Tử Trương đối viết: “Tại bang tất văn, tại gia tất văn”. Tử viết: “Thị văn dă, phi đạt dă. Phù đạt dă giả, chất trực nhi hiếu nghĩa, sát ngôn nhi quan sắc, lự dĩ há nhân, tại bang tất đạt, tại gia tất đạt. Phù văn dă giả, sắc thủ nhân nhi hành vi, cư chi bất nghi, tại bang tất văn, tại gia tất văn.”

子張問:士何如斯可謂之達矣?子曰:何哉,爾所謂達者?子張對曰:在邦必聞,在家必聞。子曰:是聞也,非達也。夫達也者:質直而好義,察言而觀色,慮以下人,在邦必達,在家必達。夫聞也者:色取仁而行違,居之不疑,在邦必聞,在家必聞

Ghi chú: Ở sách Khổng Tử & Luận Ngữ của Nguyễn Hiến Lê là Bài 12.20. 

Dịch

Tử Trương hỏi: “Kẻ sĩ (kẻ làm quan) như thế nào th́ có thể gọi là đạt?” Khổng tử hỏi lại: “Theo ư anh, đạt là thế nào?” Tử Trương đáp: “Làm quan một nước có tiếng tăm, làm gia thân cho một nước có tiếng tăm”. Khổng tử bảo: “Như vậy là tiếng tăm chứ không phải đạt. Người đạt th́ chất phác chính trực mà thích làm điều nghĩa, biết xét lời nói, quan sát nét mặt của người khác (mà hiểu tâm ư họ), biết suy nghĩ khiêm nhường ở dưới người: như vậy làm quan một nước sẽ “đạt”, làm gia thần cho một đại phu sẽ “đạt”. C̣n người có tiếng tăm th́ bề ngoài làm bộ nhân đức mà hành vi trái nhân đức, thế mà vẫn tin chắc rằng ḿnh nhân đức. Như vậy làm quan một nước sẽ có tiếng tăm, làm gia thần một đại phu sẽ có tiếng tăm.” 

Chú thích

1)       “Đạt” nghĩa là có thực lực (tài năng thật sự) th́ danh tiếng tự nhiên sẽ truyền rộng ra.

2)       “Hà tai, nhĩ sở vị đạt giả”: Bởi v́ phu tử nghĩ rằng “đạt” mà Tử Trương nói có thể không phải là “đạt” thật sự nên mới bằng giọng cật vấn hỏi lại. Trước hết để cho Tử Trương nói ra cách suy nghĩ sai (chứng bệnh) của ḿnh, sau đó mới chỉnh sửa lời nói, nghĩa là tùy theo bệnh trạng mà ra toa thuốc chữa trị.

3)       “Tại bang ... tại gia tất văn”: là nội dung “đạt” mà Tử Trương hiểu.

4)       “Thị văn dă, phi đạt dă”. “Văn” là trang sức, làm đẹp bên ngoài, làm như có danh tiếng.

5)       “Phù đạt dă giả, ... tại gia tất đạt”. Khi yêu thích sự chất phát, chính trực, đạo nghĩa th́ không làm việc trang sức, làm cho đẹp bên ngoài. Khi chỉ quan tâm để ư đến cách ăn nói, sắc mặt của đối tượng th́ không thể nào bản thân có thể thỏa măn và có thái độ tự trọng được. Ba hạng mục mà phu tử nói ra là các hạng mục vừa tu thân vừa khiêm tốn, không đ̣i hỏi đối tượng phải công nhận ḿnh nhưng nếu thực hiện được th́ sẽ có được đức, người khác tin cậy và danh tiếng tự nhiên sẽ lan rộng bốn phương.

6)       “Phù văn dă giả, sắc thủ... tại gia tất văn”. Chỉ có bên ngoài ra vẻ người có đức nhân mà việc làm thực tế hoàn toàn trái ngược, thêm vào đó, tự ḿnh tin rằng làm như vậy là tốt nên không c̣n ǵ e dè. Danh tiếng có thể có được một lúc nhưng thật ra là đức bị tổn thương. 

Giải thích

Thực ra sau người học hiểu rơ ràng sự khác biệt giữa đạt và văn th́ cái chí của người học mới được định đoạt. “Văn” là nội dung th́ trống rỗng chỉ có danh tiếng đối với bề ngoài mà thôi. Không để ư quan tâm việc thực hành nội dung mà nhiệt tâm với h́nh thức bên ngoài. “Đạt” có nghĩa là phần nội dung cũng đầy đủ mà phần danh tiếng cũng lan rộng. Tu tập nghề nghiệp để làm đầy đủ phần nội dung (tức là đức) nhưng không làm cho người ta biết. Sự khác biệt giữa đồ thật và đồ giả, là sự khác biệt giữa người quân tử và người tiểu nhân. Cái mà thế gian gọi là đạt đều là văn chứ không phải đạt. Người học nên nắm vững điểm này.

6/8/2024

 

Nhận xét

(1)    “Sĩ” có nhiều nghĩa như: người có học, người làm quan, người có kỹ năng cao, tŕnh độ chuyên môn cao, người thuộc cấp lănh đạo... Thế nào là người sĩ với ư nghĩa “kẻ sĩ” hoặc chí sĩ, hoặc người trí thức, hoặc người lănh đạo là một đề tài quan trọng, người viết sẽ t́m hiểu trong Luận Ngữ xem thế nào là người sĩ. 

Bài 12. 23  Đức nhân là yêu thương người. Đức trí là hiểu biết người. Đề cử người chính trực vào chức vụ cao có thể làm người cấp dưới trở thành chính trực. (Nội dung phu tử dạy cho Phàn Tŕ) 

Phàn Tŕ vấn nhân. Tử viết: “Ái nhân”. Vấn trí. Tử viết: “Tri nhân”. Phàn Tŕ vị đạt. Tử viết: “Cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực”. Phàn Tŕ thoái kiến Tử Hạ, viết: “Hướng dă, ngô kiến ư phu tử nhi vấn trí. Tử viết: “Cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực”, hà vị dă?” Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao, bất nhân giả viễn hỹ. Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doăn, bất nhân giả viễn hỹ.”

樊遲問仁。子曰:愛人。問知。子曰:知人。樊遲未達。子曰:舉直錯諸枉,能使枉者直。樊遲退,見子夏曰:鄉也,吾見於夫子而問知。子曰:“舉直錯諸枉,能使枉者直。”何謂也?子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶,不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者 遠矣。

Ghi chú: Ở sách Khổng Tử & Luận Ngữ của Nguyễn Hiến Lê là Bài 12.21. 

Dịch

Phàn Tŕ hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Yêu người”. Hỏi về đức trí, đáp: “Biết người”. Phàn Tŕ chưa hiểu rơ, Khổng tử giảng thêm: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo th́ có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Phàn Tŕ lui ra, kiếm Tử Hạ hỏi: “Mới rồi, tôi vô yết kiến thầy, hỏi về trí. Thầy bảo: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo th́ có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Như vậy nghĩa là sao?” Tử Hạ đáp: “Lời thầy hàm súc lắm. Ông Thuấn khi có thiên hạ (lên ngôi thiên tử) tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Cao Dao, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh. Ông Thang khi có thiên hạ, tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Y Doăn, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh.” 

Chú thích

1)       “Phàn Tŕ ...vị đạt”: Sau khi nghe trả lời của phu tử, Phàn Tŕ đă hiểu về đức nhân nhưng về đức trí th́ có nghi vấn rằng lẽ nào đức trí chỉ là việc biết người.

2)       “Tử viết... hà vị dă?”: Nội dung trả lời của phu tử về đức trí là nói về hiệu quả rộng lớn của đức trí.

3)       “Phàn Tŕ thoái... hà vị dă?”: Phàn Tŕ đem nghi vấn về đức trí sau khi nghe trả lời phu tử để hỏi Tử Hạ.

4)       “Tử Hạ viết... Phú tai ngôn hồ!”: “Phú” là thịnh vượng. Câu này nói Tử Hạ ca ngợi lời nói của phu tử về đức trí rất phong phú, hàm xúc mang ư nghĩa rất phổ biến (không có chỗ nào mà không bao hàm trong đó).

5)       “Thuấn hữu... viễn hỹ.”: Cao Giao là quan ṭa án ở thời vua Thuấn. Y Doăn là quan Tể tướng của vua Thang đời Ân. Chu thị (Chu Hy) nói “Những kẻ bất nhân đều xa lánh (bất nhân giả viễn hỹ) có nghĩa là vua thực hiện chính trị nhân đức nên mọi người đều được cảm hóa, do đó kẻ bất nhân tránh xa, không c̣n người bất nhân. Làm kẻ không chính trực thành người chính trực cũng là nhờ vua thực hiện chính trị nhân đức.” 

Giải thích

Nội dung của bài này từ câu “Trí nhân” (biết người) chuyên giảng giải về tác dụng to lớn của đức trí. Nghi vấn của Phàn Tŕ, trả lời của phu tử, lời của Tử Hạ tất cả đều về đức trí. Ban đầu Phàn Tŕ không hẳn đă có nghi vấn về sự mâu thuẫn giữa đức nhân và đức trí. Phu tử không có ư sắp đức nhân và đức trí ngang chung với nhau. Khi phu tử trả lời câu hỏi của Ai công nước Lỗ cũng đă nói “Cử trực, thố chư uổng, tắc dân phục.” (Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo th́ dân phục ṭng) (Bài 2.19). Tuy nhiên, tŕnh độ hiểu Ai công chỉ ngừng lại ở nội dung là nếu hành vi của người thực hiện chính trị thích đáng th́ người đời tâm phục, ông không biết rằng trong lời của phu tử bao hàm cả ư: đức trị (trị dân bằng đức) rất thịnh vượng và tác dụng rất to lớn. Từ sự việc này, Lời của thánh nhân (tức phu tử) tùy theo tư duy của người tiếp nhận sâu cạn mà trở thành hạn hẹp hoặc to rộng như trường hợp của Ai Công và Tử Hạ. Người muốn học đạo thánh nhân cần nên suy nghĩ việc này. 

Nhận xét

1)       Không hiểu tại sao Phàn Tŕ hỏi phu tử về đến 3 lần: Bài 6.20, 12.23 và 13.19.

Bài 6.20, phu tử trả lời: “Vụ nhân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả vị trí hỹ” (Chuyên tâm làm việc nghĩa giúp người, kính trọng quỉ thần nhưng tránh xa, như vậy có thể gọi là trí”.

Bài 12.23 (bài này), phu tử trả lời: “Ái nhân” (yêu thương người)

Bài 13.19, phu tử trả lời: “Cư xử cung, chấp sự kính, dữ nhân(人)trung. Tuy chi di địch, bất khả khí dă.” (“Trong lúc ăn ở đi đứng thường ngày phải nghiêm cung, khi làm việc phải nghiêm trang, cẩn thận, giao thiệp với ai phải trung thực. Dù tới nước di dịch chưa khai hoá, cũng không thể bỏ ba điều ấy.”)  

Bài 12. 25 Người quân tử họp bạn để trau dồi văn chương hoặc học tập, và nhờ bạn để nâng cao hoặc để cùng bạn thực hiện đức nhân. (Lời Tăng tử) 

Tăng Tử viết: “Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân.”

曾子曰:君子以文會友;以友輔仁。

Ghi chú: Trong sách Nguyễn Hiến Lê là Bài 12.23 

Dịch

Tăng Tử nói: “Người quân tử dùng văn chương để họp bạn, dùng bạn để giúp nhau tiến lên đức nhân 

Giải thích

Người quân tử không khinh suất hội họp với bạn bè một cách thiếu suy nghĩ. Trường hợp hội họp nhất định phải cùng nhau thảo luận và mỗi người tự trau dồi mài giũa bản thân. Người quân tử không chọn người kém thua ḿnh làm bạn.

Khi chọn lựa bạn bè, nhất định chọn người có thể giúp ḿnh nâng cao đức nhân. Nhờ vậy người quân tử mỗi ngày nâng cao đức nhân của ḿnh cao hơn. 

Nhận xét

(1)    Việc chọn bạn đúng là quan trọng. Nếu chọn được bạn theo tiêu chuẩn bài này nói th́ rất tốt nhưng nếu bản thân ḿnh không có ǵ hay để người khác học hỏi cũng chưa chắc ḿnh đă được người khác xem là bạn.

Trên là trường hợp chọn bạn khi đă lớn. Đối với trẻ em, việc chọn bạn bè tốt cho con cái cũng là nhiệm vụ quan trọng của bậc làm cha mẹ. Bởi v́ ảnh hưởng của bạn bè rất to lớn nhất là khi c̣n nhỏ tuổi.
 

Xong ngày 8/8/2024 

Nguyễn Sơn Hùng

Tu sửa, bổ sung ngày 12/9/2024

 

Tà́ liệu tham khảo

1)     Kaitsuka Shigeki (1983): Itô Jinsai, Danh Tác của Nhật Bản 13, Chuokouronsha

2)     Itô Jinsai: Luận Ngữ Cổ Nghĩa (nguyên văn)

3)     Shibusawa Eiichi (nói miệng), Otate Koretaka (viết ghi lại) (1925): Luận Ngữ Giảng Nghị (tiếng Nhật), Nhị Tùng Học Xá xuất bản bộ.

4)     Phan Bội Châu (1929): Khổng Học Đăng.

5)     Itô Tasabu rô (1983): Danh Tác của Nhật Bản 11- Nakae Tôju & Kumazawa Banzan-, Chuokouronsha.

 

      

Nhan Hồi (Tử Uyên, Nhan Uyên)     Nhiễm Ung (Trọng Cung)

      

Tư Mă Canh (Tử Ngưu, Tư Mă Ngưu)  Chuyên Tôn Sư (Tử Trương)

 

      

Phàn Tu (Tử Tŕ, Phàn Tŕ)               Bốc Thương (Tử Hạ)