Khung Trời Kỷ Niệm

Lê văn Phụng (66, Waseda)

Đây là loạt bài đă đăng trên báo của gia đ́nh Exryu Nam California năm 1998. Chia sẻ bằng harcopy từ anh Đoàn Cảnh Đức. Post lại trên ERCT với sự đồng ư của Anh Lê Văn Phụng.

NHẤT SHOWA NH̀ RYU

Những vui buồn của cuộc đời du học

Thân tặng tất cả các bạn cựu sinh viên Việt Nam tại Nhật, đặc biệt các bạn đă một thời trọ học tại Kokusai.

Tôi đặt chân lên đất Nhật vào đầu năm 1967 giữa mùa Đông lạnh lẽo của xứ Phù Tang. Cảm giác đầu tiên khi bước ra khỏi phi cơ là lạnh và hồi hộp. Lạnh v́ ở xứ ḿnh quen cái nóng bức, giờ đây cái lạnh mùa Đông buốt xương tủy thật là khó chịu. Ngoài trời đă lạnh, trong ḷng c̣n rét hơn v́ cứ hồi hộp là nếu không ai đón, đời ḿnh sẽ ra sao. Hai ba chữ Nhật arigato, sayonara, liệu người Nhật có hiểu không ? Thôi th́ đành liều, bụng bảo dạ, có ǵ th́ cứ xổ đại tiếng Anh ra. Cũng may tôi được người anh họ là anh Phan Văn Hơn và anh Nguyễn Anh Đào ra đón, sau đó được đưa về cư xá Kokusai. Cuộc đời trọ học của tôi bắt đầu từ đó và cư xá Kokusai như gắn liền với cuộc đời ḿnh tại Nhật trong suốt gần 12 năm cho tới ngày tôi rời xứ Nhật sang Hoa Kỳ.

Hôm nay ngồi viết lại những kỷ niệm vui buồn tại Kokusai, tôi cố moi óc ra sắp xếp lại những ǵ ḿnh nhớ để cùng chia sẻ những kỷ niệm của cuộc đời du học với các anh chị em đă từng một thời sống “huy hoàng” tại cư xá quốc tế này. Mong anh chị em đă từng ở Kokusai bổ túc những thiếu sót hoặc cùng kể lại cho nhau nghe những chuyện đă xảy ra trong quăng đời trọ học của ḿnh.

Đêm đầu tiên tại Kokusai thật có nhiều chuyện để nói. Mặc dù về đến cư xá đă quá nửa đêm nhưng không khí vẫn ồn ào náo nhiệt. Thời đó có khoảng trên dưới 10 anh em Việt Nam, đa số đều ngụ tại dăy nhà phía sau, cạnh trường Dược (Yakadaigaku) c̣n gọi là Daisan Gokan (đệ tam hiệu quán). Khi nghe có sinh viên mới qua, lập tức các pḥng khác đều đổ xô tới, không phải để “xem mặt” hay chia buồn v́ “cuộc đời chó ghẻ từ đây” (một thành ngữ bất hủ mà anh chị em nào ở Kokusai cũng phải biết đến) mà là để t́m xem có đồ ăn Việt Nam hay không ? V́ thế, câu đầu tiên mà các sempai hỏi tôi là : “Ê mầy, có đồ ăn Việt Nam không ?”. Nhiều sempai trông có vẻ cô hồn quá nên tôi vội mở va-li và lôi mấy đ̣n chả lụa, mấy xâu lạp xưởng, chà bông ra để làm quà. Không đầy 15 phút sau, chiến trường cạn sạch, chỉ c̣n lại mấy đống lá chuối vụn … Không khí căn pḥng trở lại yên tỉnh sau khi các sempai no bụng ra về. Đêm đầu ở Kokusai là thế.

Sáng hôm sau thức dậy mở cửa pḥng, đôi dép mới tinh của tôi từ Việt Nam đem qua chưa kịp mang lần đầu đă không cánh mà bay. Hỏi sempai th́ được trả lời : “Tại mầy để ngoài cửa pḥng làm chi”. Có lẽ nó nhớ nhà mà t́m đường về Việt Nam rồi đó.

Vào những năm 64, 65, 66 số sinh viên tư phí qua Nhật rất ít ỏi, hằng năm chỉ có 5, 7 người. Hầu hết đều theo học Nhật ngữ tại Kokusai tuy cũng có một vài người theo học tại những trường khác nhu Keio, Waseda… Năm tôi đến Nhật, số sinh viên cũng chỉ vỏn vẹn 14, 15 người, trong đó có 3 chị là chị Minh, chị Dung và chị Nhựt, hầu hết đều cư ngụ tại Kokusai. Vào thời đó, ngoài những khó khăn về tiếng Nhật, cuộc sống thật là “huy hoàng” v́ vật giá rất thấp so với số tiền chuyển ngân từ Việt Nam. Tôi c̣n nhớ số tiền nhận mỗi 3 tháng là 450 đôla tức 150 đồng cho mỗi tháng, không kể số tiền phụ trội 600 hằng năm gọi là tiền mùa đông. Thực ra số tiền này là chi phí để sắm sửa quần áo mà chính phủ chấp thuận cho gia đ́nh gởi thêm. Vị chi hằng tháng ḿnh có 200 đô để tiêu xài. Hối suất lúc bấy giờ là 360 yen/đôla tức 54,000 yen không kể tiền phụ trội 50 đôla/tháng. Nếu tính tất cả th́ “lương chuyển ngân” là 72,000 yen/tháng (hơn nana-man đó nhé). Tiền pḥng Kokusai mỗi tháng chỉ có 6,000 yen; Ăn trưa và tối tại cư xá này chỉ tốn 120 hoặc 150 yen. Hôm nào có gà quay (mỗi tối thứ năm) chỉ cần 200 yen là ăn uống thả dàn. Nhắc đến gà, tôi chợt nhớ đến sempai Huỳnh Trí Chánh với biệt danh “Chánh gà”. Anh Chánh qua trước tôi một năm, ở cùng cư xá Kokusai và là người đă tận t́nh giúp đỡ, hướng dẫn các anh em qua sau. Anh đă từng tranh đấu với ban quản trị trường để tu bổ, sửa sang lại cư xá. Biệt danh “Chánh gà” mà anh em đặt cho anh Chánh có lẽ phát xuất từ 2 lư do sau : Thứ nhất là anh Chánh rất thích món gà (cũng như tất cả những anh em khác, v́ mỗi tuần chỉ có một ngày có món này thôi). Thứ hai là v́ tên lót của anh Chánh : TRÍ. Gà, chim tiếng Nhật gọi là TORI, khi đọc tên ngoại quốc, người Nhật thường hay đọc theo âm Katakana của họ. Thành ra khi đọc tên anh Chánh, họ đọc là TORI Chánh, và từ đó anh em gọi là “Chánh gà” cho tiện.

Như trên đă lược kể, cuộc sống thật huy hoàng phải không anh chị :

  • Tiền nhà : 6,000 yen (có khi lại để trễ đến 5, 7 tháng, sau cùng th́ huề cả làng).
  • Tiền ăn : Khoảng 10,000 yen.
  • Gas, điện nước, tắm rửa : Tađa.

Nếu làm một con tính đơn giản, mỗi tháng ta c̣n dư đến 5, 6 “man”. Thời đó lương của một người Nhật mới ra trường chỉ vào khoảng 3 đến 4 “man” mà họ phải chi vào việc nhà cửa, ăn uống, quần áo và ofuro nữa, nào họ có dư ǵ đâu. Thế mà sinh viên ta ngoài chi phí ăn, ở hầu như “free”, số tiền c̣n dư hàng tháng lên đến 5, 6 “man”, hơn hẳn số tiền lương người Nhật b́nh thường kiếm được. Từ đó danh từ “Nhất Showa, nh́ Ryu” ra đời tại Kokusai.

Anh em chúng ta từng ở Nhật lâu đều biết SHOWA (Chiêu Hoà) là uư hiệu của vua Hirohito. Trước thời Showa là Taisho (Đại Chính) và trước đó nũa là MEIJI (Minh Trị). Với lương chuyển ngân 72,000 yen/tháng th́ ngoài vua Showa ra đâu c̣n ai hơn Ryu-Gakkusei nữa, đúng không anh chị ? Giá mà chúng ta đi du học vào thời Minh Trị th́ với giá “lương chuyển ngân” nói trên, câu nói này phải được đổi lại như sau : “Nhất Ryu, nh́ Meiji” và như thế chắc chắn chúng ta sẽ bị tống cổ ra khỏi xứ Nhật v́ tội khinh quân - một trọng tội rất cấm kỵ đối với người Nhật.

Khoảng từ 65 đến 67, đa số sinh viên VN đều ngụ tại Kokusai. Với con số trên dưới không quá 25 người nên anh em rất thân và giúp đỡ lẫn nhau rất nhiều từ việc học đến những sinh hoạt khác như thể thao, văn nghệ v.v… Các sempai qua trước thường hướng dẫn các thủ tục phải làm khi tới Nhật như nhập xá, mở chương mục ngân hàng để lănh tiền chuyển ngân, hướng dẫn lên sứ quán, Kuyaku-sho, sở di trú Shiganawa (Nyu-koku Kanri-sho) hoặc đưa đi bác sĩ, nha sĩ v.v…

Ngoài những việc làm tốt, các sempai c̣n làm gương cho kohai những việc không tốt (không phải là xấu) mà tôi cũng một thời say mê. Các sempai thường dẫn đi Shinjuku, khu các rạp hát (kabuki-cho) để xem phim “hầm”. Có đêm xem suốt sáng gọi là “oru nai-tô” (all night). Vào rạp hát lúc nửa đêm và ra về khi trời hừng sáng, khi xe điện bắt đầu chạy lại. Có lần anh Hồ Lai Phượng và tôi ngủ luôn trong rạp cho tới sáng. Ngoài mục pachinko, xem phim “hầm”, tôi c̣n được các sempai huấn luyện về môn “binh xập xám”, đánh phé v.v… mà sau này ở đây chúng ta gọi là “đua xe đạp”. Tôi được rành môn xập xám là nhờ anh Châu Ngọc Bính (dokyu-sei với tôi) đă tận t́nh chỉ dạy, anh Bính vừa “binh” vừa hát nghêu ngao :

“Ḿnh ngỡ nó đôi tây, ai ngờ nó cặp x́, Ḿnh ngỡ nó hai đôi, ai ngờ nó ba con …”

nghe cũng lâm ly bi đát lắm.

Nói chuyện bài bạc th́ Kokusai là tụ điểm cho những tay nghiện bài bạc, nhất là SV Việt Nam và Thái Lan (anh em thường gọi tránh là Tiêm). Thời đó, cứ mỗi tối sau giờ cơm thường xuất hiện 2 ṣng bạc, một cho Tiêm, một cho Việt Nam. Sinh viên các nuớc khác không bao giờ dám bén mảng tới. Có một thời, một sinh viên Thái tuyên bố : “Kono ryu wa Thai to Betonamu no gakusei no ryu desu”. Về sau sinh viên cả hai nước qua đông thành ra có những đụng chạm đáng tiếc, không c̣n thân thiện nữa. Vào những kỳ Natsu yasumi nóng bức, không khí bài bạc tại Kokusai càng lên đến cao điểm, có nghĩa là đánh bài 24/24, đôi khi kéo dài 2, 3 ngày không ngủ mà anh em gọi là tuần lễ không ngủ chứ không phải đêm không ngủ. Sau 2, 3 ngày thức trắng bên ṣng bạc, ăn soba chay, không tắm rửa … khi tan trận mặt ai cũng bơ phờ và phải bỏ mấy ngày để ngủ mới lấy lại sức được. Tôi c̣n nhớ thật rơ trong một đêm anh K (sau này đi Pháp) đă thua gần 50 vạn (500,000 yen) đi đứt gần một năm tiền chuyển ngân. Cũng may chuyện cờ bạc lớn chỉ kéo dài một vài năm v́ sau đó anh em bắt đầu đi trường hoặc dọn ra ngoài. Sau này một số anh em trẻ đánh bạc cũng lớn nhưng không bằng lúc trước. Có lẽ v́ nghèo hơn và v́ đồng đôla mất giá so với đồng yen chăng.

Kokusai c̣n là nơi để anh em hội họp, bàn căi chính trị, chính em và cũng là nơi tổ chức văn nghệ, đám cưới, Giáng Sinh hoặc tiệc Tất Niên (Bonenkai). Kokusai cũng là nơi đă xảy ra những lần đụng độ đẫm máu giữa SVVN và SV Nam Dương đến độ phải nhờ sứ quán hai nước can thiệp và giảng hoà mới yên. Nếu có dịp, tôi sẽ cố gắng nhớ và tường thuật lại vụ đánh nhau dữ dội này.

Về văn nghệ, thời đó có nhiều ca sĩ gạo cội như chị Minh, chị Miên ở Kokusai hoặc chị Tuyết, chị Hoa ở Komaba. Nam ca sĩ phải kể đến anh B́nh, anh Thắng với bản ca bất hủ Dona Dona. Sau này có nhiều ca sĩ mới như chị Oanh (vợ anh B́nh), chị Tú, chị Dung, chị Hảo, chị Thuận (ca sĩ Cà Mau nổi tiếng ăn cơm với muối và chỉ có muối). Bên nam có các anh Quả, Huy, Phúc, Hào, Đồng và anh Hải … Cải lương th́ không ai hát hay và mùi hơn anh Tùng ở cư xá Đông Du.

Vào cuối năm 1967, anh Huỳnh Thái B́nh có thành lập nhóm Hương Quê – lo về văn nghệ văn gừng cho sinh viên. Nhóm này gồm có các chị Minh, Miên, Lan, Vân, Dung và các anh Quả, Huy, Đức, Cường lớn, Cường nhỏ, tôi và một số anh em khác. Thỉnh thoảng nhóm c̣n được tăng cường thêm các anh có máu văn nghệ như Lâm Chí Vân, Nguyễn Quư Tề v.v… Nhóm Hương Quê nổi bật một thời v́ là nhóm chủ động trong các buổi văn nghệ Tết hoặc các buổi hát tại nhiều đại học như Waseda, Tokyo … Anh B́nh hiện ở Virginia và rất thành công trong công việc làm ăn.

Về thể thao, Kokusai cũng là nơi xuất phát nhiều bộ môn thể thao mà anh em ưa thích nhất : Bóng tṛn, bóng bàn, quần vợt … Về bóng tṛn, thời đó anh Trần Việt Hùng là thủ môn số 1, các anh Bông, Huân, Long, Thành cũng là những tay cự phách của đội bóng tṛn SVVN. ở  Komaba có các anh Sang, Luân, Châu, Chung, Nhân, Vĩnh … Sau này nhiều cầu thủ gạo cội từ Việt Nam sang như các anh Thành (biệt hiệu Thành con). Thanh (Thanh đen) và Châu (Châu bà bóng – Nôđai). Riêng hai trường Tokai và Nođai cũng có hai đội banh riêng. Những năm sau cùng có đội cầu Nhật ngữ gồm toàn anh em đang theo học tiếng Nhật, có hai bầu nổi tiếng là bầu Thịnh và bầu Phước (Phước mập). Đội banh lúc trước trở thành “đội già”. Đội banh SVVN đă tham gia các giải tại đại học Waseda, Nodai, Tokai, Todai … và cũng có đá giao hữu với các đội khác như NHK …

Về bóng bàn, Komaba có các cao thủ như Vinh, Hiền, Phước (Đinh Văn Phước), Hokkaido có Chung, Tước, Vơ ngọc Phước; Kokusai có Khương ẩn, Hùng, Thành, Bông, Hoà … Hàng năm sinh viên đều có tổ chức những giải bóng bàn tại Kokusai hoặc Komaba.

Về quần vợt có các anh Thành, Bông, Châu, Đào ở Kokusai, Komaba có các anh Chung, Vĩnh, Luận, Phúc … Sau này có anh Thanh ở Nodai chơi rất giỏi.

Nói chung, SVVN ở Nhật đều học hành đến nơi đến chốn. Có lẽ v́ hoàn cảnh xă hội, trật tự và đời sống khó khăn khiến anh em phải cố gắng hết sức ḿnh để đạt được mục tiêu khi rời quê hương lên đường du học.

Khoảng thời gian tại Kokusai là cả một trời kỷ niệm. Hôm nay ngồi nghĩ lại thời gian hơn 30 năm trước, tôi thật bồi hồi xúc động, nhớ lại những ngày xưa thân ái với bạn bè cùng lứa nay đứa phương trời này, đứa đất lạ nọ, đứa c̣n, đứa mất, đứa th́ chẳng biết tung tích ra sao … Thật là “nasukashi” … Biết bao vàng cảm động.

San Jose, thung lũng hoa vàng
Mùa Thu 1997
Lê Văn Phụng.