TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

CHƯƠNG 9

PHÂN PHỐI THU NHẬP

BIẾN ĐỔI QUA THỜI GIAN
VÀ CHÊNH LỆCH GIỮA CÁC VÙNG

   Khi quan sát tình trạng của một nền kinh tế các chuyên viên ngành kinh tế học thường có quan tâm trên cả hai phương diện tốc độ thành trưởng và hình thức phân phối thu nhập. Trong trường hợp của nền kinh tế Việt Nam, vì Đổi Mới được thực thi trong khuôn khổ của xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng của chính sách này trên dạng thức phân phối thu nhập càng thu hút nhiều quan tâm. Thêm vào đó, vì Việt Nam có một lãnh thổ dài bao gồm nhiều vùng với điều kiện lịch sử, xã hộI, địa lý và sinh thái khác nhau, ảnh hưởng của các yếu tố này trên dạng thức phân phối thu nhập trong các vùng cũng là một quan tâm lớn.

 Ảnh hưởng của Đổi Mới trên mặt sản xuất, như trên tổng sản phẩm trong nước (GDP), sản lượng nông nghiệp, sản lượng công nghiệp, thị trường lao động, v.v. đã được quan sát và phân tích trong các chương từ 3 đến 8. Chương này sẽ đặt trọng tâm vào việc phân tích ảnh hưởng của Đổi Mới trên phương diện phân phối thu nhập. Ba khía cạnh chính quan sát trong chương này là các yếu tố trọng yếu mang đến chênh lệch thu nhập giữa tám vùng sinh thái, đo hệ số Gini trong toàn quốc và trong mỗi vùng, và so sánh độ binh đẳng (độ bất bình đẳng) giữa Việt Nam và một vài quốc gia khác trên thế giới cũng như giữa các vùng trong nước. Và cuốI cùng qua việc so sánh biến đổi của hệ số Gini toàn quốc và trong các vùng qua thời gian, quan sát ảnh hưởng của chính sách Đổi Mới trên phân phối thu nhập.

1.      Các yếu tố mang đến chênh lệch giữa các vùng

Cũng như trong hầu hết các quốc gia khác trên thê giới, chênh lệch trên mức độ và dạng thức phân phối thu nhập hiện có giữa các vùng sinh thái của Việt Nam bắt nguồn từ điều kiện thiên nhiên, điều kiện lịch sử và văn hoá, và số lượng và hình thức đầu tư trên cơ sở hạ tầng thực thi trong quá khứ trong các vùng.

Về điều kiện thiên nhiên, sự hiện diện của hai đồng bằng Sông Hồng ở Miền Bắc và Sông Cửu Long ở Miền Nam, và vùng duyên hải chạy dài ở Miền Trung có nhiều ý nghĩa quan trọng. Đồng Bằng Sông Hồng hình thành một vùng trồng lúa phì nhiêu chung quanh thủ đô Hà Nội và Đông Bằng Sông Cửu Long tạo một vùng sản xuất lúa cho 12 tỉnh trong Nam. Đất phì nhiêu và điều kiện tưới nước tốt tạo cho dân cư sống trong hai vùng đồng bằng này một mức sống tương đối cao. Ngược lại dân cư trong các tỉnh thuộc vùng rừng núi dọc biên giới với Trung Quốc sống dựa vào ngành lâm nghiệp và chăn nuôi và có mức thu nhập tương đối thấp so với dân cư trong hai vùng đồng bằng. Dân cư trong các vùng nằm dọc theo duyên hải Miền Trung sống dựa nhiều vào ngành thuỷ sản vì có ít đất thấp thích hợp cho việc trồng lúa.

Đặc điểm lịch sử và xã hộI cũng có ảnh hưởng đáng kể trên mức thu nhập của các vùng. Dưới thời thuộc địa Pháp toàn lãnh thổ Việt Nam được chia ra làm ba khu vực, Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, với mỗi khu vực đặt dưới hệ thống hành chính khác nhau. Vì thành phố Sài Gòn (tên cũ của thành phố Hồ Chí Minh) và toàn Nam Bộ đặt dưới quyền thống trị trực tiếp của chính phủ Pháp, một số cơ sở hạ tầng như đường xá trong thành phố Sài Gòn, Quốc lộ số 1, sân bay Tân Sơn Nhất và hải cảng Vũng Tàu tương đối được trang bị tốt. Chính quyền Pháp và tư nhân trong thời kỳ này cũng đã có nhiều quan tâm trong việc thiết lập vùng Đà Lạt (làm nơi nghỉ mát) và các đồn điền cao su trong các tỉnh vùng Đông Nam Bộ. Cũng trong thời kỳ này ở Bắc Bộ, Hải Phòng đã được cải thiện để trở thành một thương cảng quốc tế với thiết bị khá đầy đủ. Các công trình đầu tư này là một yếu tố lớn làm nảy sinh ra chênh lệch trên mức thu nhập giữa vùng này và các vùng khác.

Cuộc chiến tranh trong các năm 1965-75 cũng đã để lại nhiều vết tích trên lãnh thổ Việt Nam. Trong các năm chiến tranh này chính quyền Mỹ đã thiết lập một cơ địa quân sự lớn ở Đà Nẳng và xây cảng Cam Ranh. Trong tương lai thành phố Đà Nẳng và cảng Cam Ranh sẽ có thể giữ một vai trò quan trọng trên quá trình phát triển kinh tế Miền Trung.

Sự hiện diện của số đông người dân tộc trong một vài địa phương cũng là một yếu tố đáng kể trong việc giải thích chênh lệch giữa các vùng. Mặc dầu người Kinh chiếm đa số (khoảng 85%) trong tổng dân số hiện tại của Việt Nam và trong quá trình Nam Tiến số đông người dân tộc đã được thu hút, đồng hoá vào xã hội Việt Nam, sự tập trung của người dân tộc trong một số địa phương đã tạo ra nhiều đặc tính địa phương và có ảnh hưởng không ít trên mức thu nhập của các vùng này. Chẳng hạn trong vùng Tây Nguyên, bởi vì số đông ngườI dân tộc sống song song với người Kinh, dạng thức phân phốI thu nhập trong vùng này trình bày một mô hình khác biệt với các vùng khác (có hệ số Gini lớn, xem bên dưới). Người dân tộc cũng chiếm một tỷ số khá cao trong các vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Cùng với ưu thế kém trong điều kiện thiên nhiên, tỷ số lớn của ngườI dân tộc có thể được xem như một yếu tố giải thích mức thu nhập tương đối thấp trong hai vùng này.

Các kế hoạch phát triển kinh tế thực thi trong quá khứ cũng là một yếu tố quan trọng giải thích chênh lệch giữa các vùng. Trong các năm gần đây chính phủ Việt Nam chọn khu vực chung quanh Hà Nội và Hải Phòng và khu vực chung quanh thành phồ Hồ Chí Minh làm hai trọng điểm cho chương trình công nghiệp hoá. Một số chương trình đầu tư đã được thực hiện vào công việc cải thiện màng lưới đường xá và điều kiện cung cấp điện lực cho hai khu vực này. Các công trình đầu tư này sẽ có ảnh hưởng rất mạnh trong việc thu hút tư nhân trong và ngoài nước tham gia vào các hoạt động kinh tế trong tương lai vào hai vùng này. Ngoài ra còn có thể kể đến công trình xây dựng các khu kinh tế mới thực thi sau khi đất nước thống nhất. Mặc dầu sau năm 1986 đã có thay đổi nhiều trong chính sách này, việc xây dựng các khu kinh tế mới này đã có ảnh hưởng trên một vài phương diện như mật độ dân cư và cơ sở hạ tầng trong các vùng.

2.      Đặc tính của các vùng sinh thái

  Số liệu thống kê về sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và về thu nhập ở Việt Nam thường được công bố theo tỉnh và vùng sinh thái. Theo phân loại hiện tại toàn lãnh thổ được chia ra làm tám vùng (1. Đông Bắc, 2. Tây Bắc, 3. Đồng Bằng Sông Hồng, 4. Bắc Trung Bộ, 5. Nam Trung Bộ, 6. Tây Nguyên, 7. Đông Nam Bộ, 8. Đồng Bằng Sông Cửu Long), mỗi vùng bao gồm từ 3 đến 13 tỉnh. Nhưng lối phân loại vùng ở Việt Nam đã bước qua nhiều thay đổi trong quá khứ. Trong khoảng thời gian 1954-75 khi mà lãnh thổ còn chia đôi thì trong văn kiện thường có tập quán chia lãnh thổ ra làm hai vùng, “Miền Bắc” và “Miền Nam”, với Miền Bắc bao gồm các vùng 1, 2, 3 và phần lớn phía Bắc của vùng 4) và Miền Nam bao gồm các vùng 5, 6, 7, 8 và một phần phía Nam của vùng 4. Ngoài ra, vì ảnh hưởng thời Pháp thuộc, hiện tại trong văn kiện đôi khi còn có lối phân loại ba vùng, Bắc Bộ (gồm các vùng 1, 2 và 3), Trung Bộ (gồm các vùng 4, 5 và 6) và Nam Bộ (gồm các vùng 7 và 8)

  Trên căn bản các bàn luận trong chương này dựa theo lối phân loại mới chia toàn lãnh thổ ra tám vùng sinh thái mặc dầu hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc sẽ được nhập chung vào một vùng để thích hợp với phân loại trong tài liệu thống kê.

  Đông Bắc và Tây Bắc:

  Hai vùng này bao gồm 6 tỉnh nằm dọc theo biên giới Trung Quốc. Nhiều rừng núi và tỷ số người dân tộc tương đốI cao là một đặc tính của hai vùng này. Về ngành trồng cây, tương đối có ít lúa trồng trên ruộng thấp và ngược lại có khuynh hướng trồng khoai mì trên đất cao và chăn nuôi gia súc (heo, gà). Tuy trong một vài tỉnh lị như Phú Thọ và Thái Nguyên có bắt đầu công trình công nghiệp hoá, nói một cách tổng quát hai vùng này tương đốI chậm trễ về mặt hoạt động công nghiệp.

  Đồng Bằng Sông Hồng:

  Vùng này bao gồm hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng và 7 tỉnh. Hà Nội không những hiên tại giữ vai trò quan trọng là thủ đô của quốc gia đã chiếm một vị trí chủ yếu trên cả hai phương diện chính trị và thương nghiệp trong lịch sử Việt Nam. Hải Phòng là một trọng điểm phát triển công nghiệp. Vì trong các năm gần đây chình phủ đã thực thi nhiều công trình qui mô lớn với mục đích thiết lập mạng lưới giao thông giữa Hà Nội và Hải Phòng, khu hải cảng này ngày càng gia tăng vai trò của một trọng điểm kinh tế cho cả vùng ĐB Sông Hồng và các tỉnh lị chung quanh. Ngoài vị trí trên phương diện chính trị và thương nghiệp, Đồng Bằng Sông Hồng còn giữ một vị trí rất quan trọng trên phương diện văn hoá vì đây là nơi phát sinh của nền văn hoá cổ truyền của Việt Nam.

  Bắc Trung Bộ

  Vùng này bao gồm cố đô Huế và 6 tỉnh. Mặc dầu trong một vài tỉnh lị như Thanh Hoá đã bắt đầu khởi sinh một số hoạt động công nghiệp đáng kể, nói chung vùng Bắc Trung Bộ còn chậm trễ trên phương diện công nghiệp hoá. Một phần lớn dân cư trong vùng này sống dựa vào nghề chài lưới và nuôi tôm cá.

  Nam Trung Bộ

  Vùng này bao gồm 6 tỉnh từ Đà Nẳng đến Khánh Hoà. Vì trong các năm chiến tranh quân đội Mỹ chọn Đà Nẳng làm căn cứ quân sự, đã có khuynh hướng tập trung dân số và khuếch đại hoạt động công nghiệp đáng kể trong vùng này. Tuy nhiên, nói chung cả vùng Nam Trung Bộ còn dựa nhiều vào ngành chài lưới và nuôi tôm cá.

  Tây Nguyên

  Vùng Tây Nguyên bao gồm 3 tỉnh. Phần lớn đất trong vùng này thuộc loại đất cao thích hợp cho việc trồng rau cải và cây công nghệ như đậu phọng và mía. Vì vùng Tây Nguyên không xa thành phố Hồ Chí Minh, gia tăng trên nhu cầu thực phẩm của thành phố này trong các năm gần đây đã tạo một thị trường lớn cho các loại rau cải chất lượng cao và thịt bò cung cấp bởi các nông trại trong vùng Tây Nguyên. Vùng Tây Nguyên còn có một đặc điểm là song song với lớp người thu nhập cao cư trú trong thành phố Đà Lạt mà từ lâu đã được trang trí thành một địa điểm du lịch và là nơi có nhiều nhà nghỉ mát của lớp người thu nhập cao, còn đông người dân tộc sống trong các vùng nông thôn (sự kiện này là nguyên nhân của đặc điểm trên mặt phân phối thu nhập: Tây Nguyên có độ bất bình đẳng (hệ số Gini) cao nhất giữa 8 vùng trong toàn quốc).

  Đông Nam Bộ

  Vùng Đông Nam Bộ bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh. Thành phố Hồ Chí Minh đã phát triển thành một trung tâm thương và công nghiệp lớn từ thời kỳ thuộc địa Pháp. Trong vùng Đông Nam Bộ, ngoài thành phố Hồ Chí Minh, các địa điểm Vũng Tàu, Bà Rịa và Đồng Nai cũng đã phát triển thành các trung tâm công nghiệp thu hút nhiều công trình đầu tư lớn từ nước ngoài. Tỷ số lớn vùng Đông Nam Bộ chiếm trong tổng sản lượng công nghiệp trong nước (trên 50% trong năm 2000) chứng tỏ rằng đây là vùng công nghiệp quan trong nhất trong toàn quốc. Ngoài công nghiệp, vùng Đông Nam Bộ còn giữ một vai trò quan trọng trong ngành trồng cây công nghệ (cao su, cà phê, mía) và chăn nuôi bò sửa.

  Đồng Bằng Sông Cửu Long

  Vùng này bao gồm 12 tỉnh. Trồng lúa là hoạt động kinh tế quan trọng nhất. Vào năm 2000, trong khi sản lượng trung bình toàn quốc trên đầu người chỉ ở mức 419 kí lô (lúa) sản lượng trung bình trên đầu người của vùng này lên đến 1022 kí lô. Trong các tỉnh ven biển, ngoài ngành trông lúa, đánh cá và nuôi cá và tôm cũng là một hoạt động đáng kể. Trong năm 2000, lượng tôm nuôi, lượng cá nuôi và lượng cá đánh trong vùng này chiếm 74%, 60% và 48% trong tổng lượng toàn quốc.

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 9-1. Tám vùng sinh thái

 

3.      Khái lược về chênh lệch giữa các vùng

  Trước khi khảo sát một cách tường tận chênh lệch trên hình thức phân phối thu nhập giữa các vùng, xin đưa ra một vài nhận xét sơ lược quan sát được từ một số số liệu thống kê. Có thể nêu ra 3 điểm sau:

(ア)          Trong cả 8 vùng trong toàn quốc vùng Đông Nam Bộ có mức thu nhập trung bình cao nhất. Cũng nhận xét được rằng so với các vùng phương Bắc, các vùng phương Nam có mức thu nhập tương đối cao.

(イ)          Trong tất cả 8 vùng, các khu vực thành thị có mức thu nhập cao hơn các khu vực nông thôn.

(ウ)          Chênh lệch trên mức thu nhập giữa các vùng phương Bắc và các vùng phương Nam khởi nguồn từ hai lý do. Thứ nhất, miền Nam chiếm một tỷ số tuyệt đối cao trên cả sản lượng công nghiệp và nông nghiệp. Kế đến, các vùng miền Nam thu hút được nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài.

 

Khuynh hướng thu nhập cao trong các vùng miền Nam

Chính sách Đổi Mới ban hành năm 1986 đã mang đến nhiều thay đổi trong chất và lượng của các hoạt động kinh tế trên toàn lãnh thổ. Tuy nhiên khi so sánh hiện trạng giữa các vùng chúng ta có thể nhận xét được rằng có khác biệt rõ rệt giữa hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh cũng như giữa Miền Bắc và Miền Nam. Dưới đây thử dùng một số tài liệu thồng kê để so sánh chênh lệch trên mức thu nhập và trên tốc độ gia tăng mức thu nhập giữa các vùng.

Bảng 9-1 trình bày mức thu nhập trung bình hàng tháng trên đầu người của 8 vùng trong năm 1993 (ngàn đồng/ tháng/ người). Trong mỗi vùng, ngoài mức thu nhập trung bình cho cả vùng còn có các trị số chỉ mức thu nhập trung bình riêng cho khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Mức thu nhập trung bình của các vùng cho thấy Đông Nam Bộ có trị số cao nhất, kế đến là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Sau Đông Bằng Sông Cửu Long là Nam Trung Bộ, Đồng Bằng Sông Hồng, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Mức thu nhập của vùng Đông Nam Bộ tương đương với 2,6 đến 2,8 lần mức thu nhập trong các vùng Bắc Trung Bộ và Tây Bắc và Đông Bắc.

Ở đây cũng nên lưu ý đến biến đổi lớn trên mức thu nhập tương đối giữa các vùng. Bảng 9-2 chỉ biến đổi trên mức thu nhập trong các vùng giữa các năm 1994, 1996 và 1999. Trước hết, vùng Tây Nguyên được xếp vào hàng thứ tư sau vùng Đồng Bằng Sông Hồng trong năm 1993 tiến lên hàng thứ hai trong các năm 1994, 1996 và 1999. (Tuy có trong thay đổi lớn này số liệu thống kê trong năm 1993 đã được dùng vì tài liệu trong năm này cho biết thông tin về chênh lệch giữa thành thị và nông thôn và về mức thu nhập trong hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh)

Mức thu nhập trong vùng Đông Nam Bộ bằng 1,9 lần mức thu nhập trong vùng Đồng Bằng Sông Hồng. Chênh lệch trên mức thu nhập giữa hai vùng này có thể được giải thích vì trong vùng Đông Nam Bộ, ngoài thành phố Hồ Chí Minh còn bao gồm cả các tỉnh có vị trí quan trọng trong ngành thương nghiệp và công nghiệp như Bà Rịa, Vũng Tàu và Đồng Nai. Một điểm đáng kể nữa là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, một vùng nông nghiệp của Miền Nam có mức thu nhập cao hơn vùng Đồng Bằng Sông Hồng, một vùng bao gồm nhiều địa điểm có tìm năng phát triển công nghiệp cao ở Miền Bắc.

Chênh lệch lớn trên mức thu nhập giữa thành thị và nông thôn

Ngoài chênh lệch giữa các vùng sinh thái trong toàn quốc còn quan sát được chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn. Ngoại trừ vùng Đông Bằng Sông Cửu Long (không có chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn bởi vì diện tích đất trung bình của hộ nông nghiệp tương đối rộng) mức thu nhập trong khu vực nông thôn thấp xa so với khu vực thành thị trong mỗi vùng. Đặc biệt là mức thu nhập trong các khu vực nông thôn của các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên rất thấp, chỉ tương đương với 1/4 mức thu nhập trong thành phố Hồ Chí Minh.

Mức thu nhập gia tăng nhanh trong các khu vực thành thị và chậm trong các khu vực nông thôn

Nhờ vào ảnh hưởng của chính sách Đổi Mới trong 15 năm gần đây tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam gia tăng với tốc độ khoảng 7% trung bình hàng năm. Vì trong khoảng thời gian này tổng dân số gia tăng với tốc độ 1,7% hàng năm, có thể ước lượng được một suất gia tăng trung bình rất cao (khoảng 5,3% hàng năm) trong mức thu nhập đầu người (per capita income). Nhưng đây là suất gia tăng trung bình toàn quốc. Các số liệu trình bày trong Bảng 9-2 cho thấy có khác biệt rõ rệt trên suất gia tăng mức thu nhập giữa các vùng sinh thái và giữa thành thị và nông thôn. Giữa hai  năm 1994 và 1999, mức thu nhập gia tăng rất nhanh trong các vùng vốn có mức thu nhập cao (21% và 23% trong hai vùng Đồng Bằng Cửu Long và Đông Nam Bộ) và gần như không thay đổi trong các vùng vốn có mức thu nhập thấp (2% trong các vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ). Cũng quan sát được chênh lệch trên suất tăng giữa các vùng thành thị trong đó các công trình công nghiệp hoá tiến nhanh và các vùng nông thôn còn dựa nhiều vào các hoạt động kinh tế cổ truyền (Ở Miền Bắc vùng Đồng Bằng Sông Hồng bao gồm các khu công nghiệp lớn chung quanh Hà Nội và Hải Phòng có suất tăng cao so với các vùng chậm trên mặt đô thị hoá và công nghiệp hoá. Trong Miền Nam, vùng công nghiệp Đông Nam Bộ cũng chỉ suất tăng cao hơn các vùng khác).

Chênh lệch trên tiềm năng sản xuất giữa Miền Bắc và Miền Nam

Chênh lệch kể bên trên trong mức thu nhập giữa các vùng phản ảnh tiềm năng sản xuất trong các vùng. Số liệu thống kê về sản lượng nông và công nghiệp trong các tỉnh cho chúng ta biết một sự kiện rõ rệt: so với Miền Bắc, Miền Nam chiếm một vị trí rất quan trọng trên mặt sản xuất trong cả hai ngành nông nghiệp và công nghiệp.

Bảng 9-3 trình bày một cách sơ lược sản lượng tương đối nông nghiệp và công nghiệp giữa các vùng. Lúa được chọn làm sản phẩm tượng trưng cho nông nghiệp vì gạo vừa là món thực phẩm chủ yếu trong nước vừa là một sản phẩm xuất khẩu quan trọng. Về sản lượng công nghiệp, ngoài tổng sản lượng của từng vùng trong Bảng 9-3 còn trình bày tỷ lệ của sản lượng do các công ty nước ngoài để độc giả có được kiến thức khái quát về hiện trạng công nghiệp hoá trong các vùng.

Mặc dầu Đồng Bằng Sông Hồng và Đông Bằng Sông Cửu Long được xem như hai vùng sản xuất lúa chính trong toàn quốc, có một chênh lệch lớn trên sản lượng lúa giữa hai vùng: Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm trên 50% tổng sản lượng lúa toàn quốc trong khi vùng Đông Bằng Sông Hồng chiếm không quá 20%. Lý do chính cắt nghĩa chênh lệch này là khác biệt trên diện tích đất thích hợp cho ngành trồng lúa giữa hai vùng. Như đã quan sát và phân tích trong Chương 5, Đồng Bằng Sông Hồng có điều kiện tưới nước tương đối tốt nhưng diện tích đất trồng lúa rất hẹp so với Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Xét trên tổng sản lượng của toàn bộ môn nông nghiệp cũng thấy được tiềm năng cao của Miền Nam trong toàn bộ môn nông nghiệp, mặc dầu chênh lệch này nhỏ hơn so với chênh lệch trong ngành trồng lúa vì trong các vùng có it đất trồng lúa nông dân có khuynh hướng trồng cây công nghệ trên đất cao hoặc nuôi heo để bù đấp nhược điểm trên diện tích đất trồng lúa. Trong hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên tỷ lệ sản lượng nông nghiệp (% trên tổng sản lượng nông nghiệp toàn quốc) tương đối cao so với trường hợp sản lượng lúa vì hai vùng này có tiềm năng cao trên mặt trồng cây công nghệ như cao su và cà phê. Về ngành chăn nuôi, trong năm 2000 tổng lượng heo nuôi ước lượng vào khoảng 5,4 triệu trong vùng Đồng Bằng Sông Hồng, 4,3 triệu trong vùng Đông Bắc và Tây Bắc, 4,4 triệu trong vùng Bắc Trung Bộ so với 3,0 triệu trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cũng cùng trong năm 2000, sản lượng khoai mì ước lượng vào khoảng 692 ngàn tấn trong vùng Đông Bắc và Tây Bắc và 255 ngàn tấn trong vùng Bắc Trung Bộ so với 68 ngàn tấn trong vùng Đông Bằng Sông Cửu Long[1].

Trên phương diện phát triển công nghiệp cũng quan sát được khuynh hướng Bắc thấp Nam cao. Đồng Bằng Sông Hồng, khu công nghiệp chính của Miền Bắc chiếm 20% và 21% trên tổng sản lượng công nghiệp toàn quốc và tổng sản lượng công nghiệp do các xí nghiệp nước ngoài trong toàn quốc trong khi trong vùng Đông Nam Bộ, vùng công nghiệp chính của Miền Nam, các tỷ số này lên đến 50% và 68%. So sánh thủ đô Hà Nội (7,6%) và thành phố Hồ Chí Minh (25,5%) chúng ta cũng quan sát được khuynh hướng Bắc thấp Nam cao trên mặt sản xuất công nghiệp.

  Các xí nghiệp nước ngoài bắt đầu các công trình đầu tư qui mô lớn trên thị trường Việt Nam vào khoảng năm 1990. Một phần lớn lượng vốn đầu tư này được thực thi trong các địa điểm trong Miền Nam như Bà Rịa và Vũng Tàu vì các vùng này có lợi điểm trên mặt lưu thông (gần thương cảng lớn nhất trong Miền Nam). Hiện nay hai địa điểm này chiếm 35% trong tổng sản lượng công nghiệp của các xí nghiệp có vốn nước ngoài trong toàn quốc. Cọng thêm vào tỉnh Đồng Nai thì tỷ suất này tăng lên đến 70%.

  Từ hiện trạng giải thích bên trên có thể nêu ra hai đặc điểm sau:

(1)       Ngành trồng lúa tập trung trong hai đồng bằng Sông Hồng và Cửu Long và đem đến mức thu nhập tương đối cao cho các hộ nông nghiệp trong hai vùng này. Nhất là trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long hộ nông nghiệp có mức thu nhập so sánh được với khu vực đô thị trong các vùng khác.

(2)       Công nghiệp hoá tiến hành tương đối nhanh ở Miền Nam. Các công trình đầu tư qui mô lớn từ nước ngoài có khuynh hướng tập trung vào các địa điểm trong vùng Đông Nam Bộ như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa, Vũng Tàu và Đồng Nai. Sự kiện này có tác dụng khuếch đại chênh lệch trên mức thu nhập giữa vùng này và các vùng khác.

 

4. ƯỚC LƯỢNG HỆ SỐ GINI

Phần này có mục đích trình bày hệ số Gini (Gini coefficient) trong toàn quốc và trong các vùng sinh thái ước lượng từ số liệu thống kê thu thập được trong một vài thời điểm và so sánh hệ số Gini của Việt Nam với một vài quốc gia khác trên thế giới cũng như giữa các vùng sinh thái để xác định đặc tính của dạng thức phân phối thu nhập của Việt Nam. Công trình phân tích trình bày trong mục này đã được thực thi theo thứ tự sau:

(1)   Ước lượng hệ số Gini toàn quốc và so sánh hệ số Gini của Việt Nam với các quốc gia khác.

(2)   Ước lượng hệ số Gini của các vùng và so sánh dạng thức phân phốI thu nhập giữa các vùng.

(3)   Ước lượng và so sánh hệ số Gini trong một vài thời điểm và xác định hình thức biến đổi qua thời gian trên phân phối thu nhập.

 

 

 

 

 

  So sánh hình thức phân phối thu nhập giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới

  Các văn kiện về hình thức phân phối thu nhập trong các quốc gia trên thế giớI thường đề cập đến ba điểm sau.

Trước hết, trong quá trình phát triển kinh tế hệ số Gini biến đổi theo đường chử U ngược. Trong giai đoạn đầu độ bất bình đẳng (hệ số Gini) gia tăng nhanh nhưng rồi từ từ hạ xuống thấp song song với quá trình phát triển. Kế đến, giữa các quốc gia đang phát triển ở cùng mức thu nhập, tổng thu nhập quốc dân có khuynh hướng được phân phối một cách tương đối bình đẳng trong các quốc gia Á Châu và tương đối không bình đẳng trong các quốc gia Châu Phi và Nam Mỹ. Cuối cùng, trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa tổng thu nhập quốc dân thường được phân phối một cách tương đối bình đẳng.

Điểm thứ nhất đề cập bên trên trước được chỉ trích bởi Simon Kuznets[2] và sau đó đã được xác nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu[3]. Điểm thứ hai đã được xác nhận qua các công trình nghiên cứu so sánh hình thức phân phối thu nhập trên các quốc gia trên thế giới[4]. Cuối cùng điểm thứ ba được xác nhận bởi công trình nghiên cứu trên các quốc gia trong khu vực Đông Âu bởi Ahluwalia[5]. Hai điểm (1) và (2) cũng có thể được xác nhận khi so sánh các số liệu của các quốc gia trên thế giới trong Bảng 9-4 trong đó các hệ số Gini được trình bày theo bốn phân loại: Á Châu, Phi Châu, Nam Mỹ và các quốc gia tiền tiến.

Ngoại trừ trường hợp của Mỹ, các quốc gia tiền tiến đều có hệ số Gini trong khoảng 0,33 và 0,34. Giữa các quốc gia đang phát triển, hệ số Gini nằm trong khoảng từ 0,21 đến 0,46 trong khu vực Á Châu, từ 0,34 đến 0,58 trong khu vực Phi Châu và từ 0,34 đến 0,58 trong khu vực Nam Mỹ. Như vậy có thể xác định được rằng hệ số Gini tương đối nhỏ trong các quốc gia tiền tiến so với các quốc gia đang phát triển, và so sánh giữa các quốc gia đang phát triển hệ số Gini tương đối nhỏ trong vùng Á Châu và lớn trong các vùng Phi Châu và Nam Mỹ.

 

 

Số liệu thống kê của Việt Nam về mức thu nhập của các hộ trong năm 1996 cho ra trị số 0,360, một hệ số gần với mức trung bình trong vùng Á Châu nhưng tương đối cao đối với một quốc gia xã hội chủ nghĩa. Thật ra, Trung quốc, một quốc gia nằm trong điều kiện chính trị và kinh tế gần với Việt Nam cũng có hệ số Gini khá lớn (0,415 trong năm 1995). Các trị số Gini ước lượng được cho Việt Nam và Trung quốc có thể được giải thích vì trong khoảng năm 1995 hai quốc gia này còn nằm trong giai đoạn đầu của quá trình thị trường hoá trong đó mức thu nhập trung bình gia tăng nhanh, dễ nảy sinh chênh lệch. Trong thòi kỳ kinh tế kế hoạch hai quốc gia này có thể đã có hệ số Gini thấp hơn (Trung Quốc trước năm 1978, Việt Nam trước năm 1986). Cũng có thể đoán được rằng song song với qua trình phát triển kinh tế, hệ số Gini của Trung Quốc và Việt Nam sẽ dần dần thuyên giảm.

 

Ước lượng hệ số Gini toàn quốc và trong các vùng

  Để có thể quan sát được biến đổi trên hình thức phân phối thu nhập qua thơi gian và giữa các vùng sinh thái, tác giả đã ước lượng hệ số Gini trong toàn quốc và trong các vùng dựa trên số liệu thống kê về thu nhập gia đình trong các năm 1994, 1995 và 1996 [6].

  Bảng 9-5 trình bày tình trạng phân phốI thu nhập trong toàn quốc và trong các vùng sinh thái trong năm 1996 trong đó tổng số hộ trong toàn quốc hoặc trong mỗi vùng sinh thái được chia ra làm năm phân loại theo mức thu nhập từ thấp đến cao. Các số liệu trong Bảng 9-5 chỉ tỷ số (%) của mỗi phân loại hộ trong tổng thu nhập toàn quốc hoặc trong vùng. Hình 9-1 trình bày đường Lorenz (Lorenz curve) của toàn quốc dựa theo các số liệu của toàn quốc trong Bảng 9-5. Như thường được giải thích một cách tường tận trong các sách giáo khoa môn kinh tế học, trong Hình 9-1 các phân loại hộ được xếp từ điểm gốc O theo thứ tự mức thu nhập và trục Y và trục X chỉ luỷ tích tỷ số hộ và luỷ tích tỷ số thu nhập. Hệ số Gini là tỷ suất  (diện tích của hình đa giác bao trong đường 900 và đường Lorenz) / (diện tích của tam giác bao trong đường 900 và trục X). Vì vậy nếu thu nhập được phân phối một cách hoàn toàn bình đẳng (mỗi phân loại hộ chiếm 25% tổng thu nhập) hệ số Gini sẽ có trị 0 vì trong trường hợp này đường Lorenz sẽ trùng với đường 900. Và ngược lại nếu thu nhập được phân phối một cách hoàn toàn bất bình đẳng (một số ít ngườI chiếm 100% tổng thu nhập) thì hệ số Gini sẽ có trị 1,0 vì đường Lorenz trong trường hợp này trùng vớI trục X. Thông thường hệ số Gini có trị giữa 0 và 1,0, và hệ số Gini tỷ lệ với độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.

  Hệ số Gini toàn quốc của Việt Nam vào năm 1996 được ước lượng có trị o,360, vào khoảng mức trung bình trong khu vực Á Châu và tương đối nhỏ so với các quốc gia Phi Châu và Nam Mỹ.

  So sánh giữa các vùng

  Bảng 9-6 trình bày hệ số Gini toàn quốc và trong các vùng trong các năm 1994, 1995 và 1996. Có thể quan sát được rằng trong 7 vùng toàn quốc, hệ số Gini trong vùng Tây Nguyên có trị số rất lớn (bất bình đẳng) so với các vùng khác. Để thấy rõ được đặc tính của dạng thức phân phối thu nhập trong vùng này thử so sánh tỷ suất thu nhập của các phân loại hộ giữa vùng này và vùng Bắc Trung Bộ, là vùng có hệ số Gini nhỏ nhất trong toàn quốc (xem Bảng 9-5). Có thể thấy được rằng trong trường hợp vùng Tây Nguyên, hộ giai tầng 1 (thu nhập thấp nhất) chiếm một tỷ số rất nhỏ (4,1%) và hộ giai tầng 5 (thu nhập cao nhất) chiếm một tỷ số rất lớn (52,8% = 12,5 lần giai tầng 1) trong khi trong vùng Bắc Trung Bộ chênh lệch giữa hai phân loại này nhỏ hơn (giai tầng 5 = 5,9 lần giai tầng 1). Việc hệ số Gini có trị số rất lớn trong vùng Tây Nguyên có thể được xem như phản ảnh đặc tính sau: Trong cùng một vùng có số đông người dân tộc thu nhập thấp cư trú trong các khu vực nông thôn và lớp người giàu sống trong các vùng đô thị như Đà Lạt.

  Sau vùng Tây Nguyên hai vùng có độ bất bình đẳng cao là Đông Nam Bộ và ĐB Sông Hồng. Nói một cách tổng quát, các vùng phương Bắc, trừ vùng ĐB Sông Hồng có dạng thức phân phối thu nhập bình đẳng hơn so với các vùng phương Nam.

Biến đổi qua thời gian

 Các bàn luận bên trên cho thấy rõ rằng dạng thức phân phối thu nhập ở Việt Nam có thể được xếp vào mức trung bình trong vùng Á Châu và tương đối bình đẳng hơn so với các quốc gia vùng Phi Châu và Nam Mỹ. Quan sát bên trên cũng cho thấy một khuynh hướng chung là các vùng phương Bắc có dạng thức thu nhập tương đối bình đẳng hơn các vùng phương Nam. Trong phần bên dưới thử so sánh hệ số Gini toàn quốc và trong các vùng trong các năm 1994, 1995 và 1996 để xem có thay đổi gì đáng chú ý trong dạng thức phân phối thu nhập sau mười năm dưới chình sách Đổi Mới hay không.

  Có thay đổi trong dạng thức phân phốI thu nhập trước và sau năm 1986 hay không là một điều đáng được chú tâm. Nhưng vì không có được số liệu thống kê về mức thu nhập của các phân loại hộ trước năm 1986 chúng ta phải giới hạn công trình so sánh bên dưới giữa ba năm tương đối có đầy đủ tài liệu. Hy vọng rằng việc so sánh này sẽ cho thấy một vài khía cạnh về chiều hướng thay đổi trong dạng thức phân phối thu nhập trong các năm giữa thập niên 1990. Cũng nên nhớ rằng, thay đổi trong dạng thức phân phối thu nhập là một hiện tượng lâu dài nên những kết luận rút ra từ việc so sánh số liệu thống kê trong ba năm 1994, 1995 và 1996 phải được xem như có tính chất lâm thời, cần được xác đinh lại khi có tài liệu đầy đủ hơn cho các năm về sau.

 

 

 

 

  Như trình bày trong Bảng 9-6, hệ số Gini toàn quốc có khuynh hướng gia tăng, từ 0,350 trong năm 1994 đến 0,357 và 3,562 trong các năm 1995 và 1996. Các con số này chứng tỏ rằng vào giữa thập niên 1990 Việt Nam còn nằm trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế trong đó phân phối thu nhập tiến về hướng bất bình đẳng. Điều này có thể giải thích được khi chúng ta nhớ ra rằng nền kinh tế Việt Nam vừa chuyển giao từ hệ thống kế hoạch tập trung sang kinh tế thi trường trong đó GDP gia tăng rất nhanh (khoảng 9% hàng năm). Nói một cách khác, 1994-1996 là giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, hệ số Gini còn nằm trong phần đầu của “chử U ngược”.

Các hệ số Gini vùng chỉ chiều hướng thay đổi đáng chú ý. Nhìn qua các vùng có thể quan sát được một điểm khác biệt giữa các vùng phương Bắc và các vùng phương Nam. Trong khi trong các vùng phương Bắc (Đông Bắc Tây Bắc, ĐB Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ) hệ số Gini gia tăng liên tục trong các năm 1994, 1995 và 1996, trong các vùng phương Nam (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, ĐB Sông Cửu Long) hệ số Gini gia tăng giữa hai năm 1994 và 1995 nhưng đổi sang thuyên giảm hoặc không thay đổi giữa hai năm 1995 và 1996. Nếu các hệ số Gini trình bày trong Bảng 9-6 phản ảnh một cách chính xác hình thức phân phối thu nhập trong các vùng thì các con số này cho phép chúng ta suy ra kết luận sau: Trong các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐB Sông Cửu Long các hoạt động kinh tế đã khuếch đại sâu rộng đến giai đoạn nâng cao được mức thu nhập của các giai tầng thu nhập thấp, làm giảm độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các hộ (bắt đầu qua phần đi xuống của chử U ngược). Ngược lại các vùng phương Bắc mặc dầu có dạng thức phân phối thu nhập tương đối bình đẳng, còn nằm trong giai đoạn gia tăng độ bất bình đẳng (phần đi lên của chử U ngược).

 

5.      Tóm lược

Chương này có mục đích tìm hiểu hiện trạng và dạng thức biến đổi qua thời gian trong phân phối thu nhập toàn quốc và trong các vùng sinh thái. Trước hết tác giả đã tóm lược đặc tính trên khía cạnh địa lý, lịch sử và xã hội của các vùng. Kế đó đi qua phần phân tích dạng thức phân phốI thu nhập bằng cách ước lượng và so sánh hệ số Gini toàn quốc và trong các vùng trong các năm 1994, 1995 và 1996.

Kết quả của công trình nghiên cứu trình bày trong chương này có thể được tóm lược trong bốn điểm sau:

(1)       So sánh hệ số Gini trong các quốc gia trên thế giới cho biết phân phối thu nhập ở Việt Nam có độ bình đẳng (độ bất bình đẳng) ở mức trung bình vùng Á Châu và bình đẳng hơn so với các quốc gia Châu Phi và Nam Mỹ.

(2)       So sánh giữa các vùng trong nước, độ bất bình đẳng (hệ số Gini) tương đối thấp trong các vùng phương Bắc và cao trong các vùng phương Nam.

(3)       Hệ số Gini toàn quốc còn chỉ chiều hướng gia tăng (gia tăng độ bất bình đẳng).

(4)       Hệ số Gini trong các vùng phương Bắc tiếp tục gia tăng trong khi hệ số Gini trong ba vùng phương Nam có mòi thuyên giảm từ khoảng năm 1995, chỉ hiện tượng cải thiện chênh lệch trong phân phối thu nhập.

 


 


[1] Theo Niên Giám Thống Kê, 2001.

[2] Kuznets, Simon. “Economic Growth and Income Inequality.” American Economic of Income: An Exploratory Essay.” Economic Development and Cultural Change 25 (October, 1976): 1~44.

[3] Tham khảo các tài liệu sau: Ahluwalia, Montek S, “Income Inequality,” Hollis Chenery, Montek S. Ahluwalia, C. L. G. Bell, John H. Duloy, Richard Jolly, eds.. Redistribution with Growth. London: Oxford University Press (1974) và Lecaillon, Jacques, Felex Paukert, Christian Morrisson, Dimitri Germidis. Income Distribution and Economic Development: An Analytical Survey. Geneva: International Labor Organization (1984).

4 Tham khảo tài liệu đã kể về Lecaillon, Jacques, Felex Paukert, Christian Morrisson, Dimitri Germidis.

[5] Tham khảo tài liệu đã kể của Montek S. Ahluwalia.

[6] Niên Giám Thồng Kê các năm 1994, 1995, 1997.

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả 
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com