TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

 

CHƯƠNG 8

ĐỔI MỚI VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG:

YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH MỨC LƯƠNG TRONG CÁC XÍ NGHIỆP QUỐC HỮU

 Hỏi người Việt Nam về mức lương bổng trong các năm trước Đổi Mới chúng ta thường nhận được các câu trả lời đùa cợt như “Mổ ruột người trong bệnh viện và vá bánh xe đạp bên gốc đường là hai dịch vụ lao động tương tợ. Vì vậy bác sỹ y khoa và người sửa bánh xe đạp lãnh cùng một mức lương”. Người Việt Nam thích mỉa mai nên câu nói này có thể có phần khoa trương. Tuy vậy, từ câu nói này chúng ta có thể suy đoán được rằng thể chế lương bổng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch có nhiều điểm khác xa với lối quyết định mức lương lao động trong kinh tế thị trường.

Trên quá trình chuyển giao sang kinh tế thị trường, mức giá của hàng hoá và dịch vụ chịu ảnh hưởng của cả hai yếu tố kế hoạch và thị trường. Trong các bước đầu giá cả còn phản ảnh đậm chính sách vật giá của nhà nước, nhưng song song với quá trình thị trường hoá dần dần các yếu tố thị trường như lượng cung, lượng cầu, chất lượng của sản phẩm, tiến bộ công nghệ, v. v. sẽ trở thành những yếu tố chính quyết định mức giá của hàng hoá và dịch vụ. Vì vậy có thể hy vọng rằng qua việc phân tích các yếu tố quyết định mức lương bổng trong các năm gần đây chúng ta có thể xác nhận được mức độ thị trường hoá hiện tại trong nước.

Với mục tích phân tích các yếu tố quyết định mức lương bổng, vào năm 1995 tác giả đã thực hiện một công trình điều tra trên một số xí nghiệp. Chương này trình bày kết quả của công trình nghiên cứu thực chứng (empirical analysis) dựa trên các số liệu thống kê thâu thập được từ công trình điều tra này. Chương 8 này bao gồm bảy phần. Phần 1 tóm lược các vấn đề chính yếu hiện tại trong thị trường lao động Việt Nam. Phần 2 trình bày một cách sơ lựoc phương pháp và phạm vi của công trình điều tra xí nghiệp. Phần 3 trình bày một vài quan sát sơ bộ trên số liệu thống kê thâu thập. Phần 4 giải thích khái niệm “hàm số lương bổng dựa trên đặc tính lao động” (hedonic wage function). Phần 5 trình bày kết quả của phân tích hồi qui (regression analysis). Phần 6 trình bày kết quả của phân tích chi phí- lợi ích (cost-benefit analysis) của đầu tư trong ngành giáo dục và đào tạo. Và cuối cùng phần 7 tóm lược một số kết luận thu thập được từ công trình nghiên cứu trong chương này.

  Đọc giả cần lưu ý đến hai điểm sau khi đọc nội dung của chương này. Trước hết có thể có khác biệt đáng kể giữa hai năm 1995 và 2004 vì Việt Nam đang trong quá trình chuyển giao sang kinh tế thị trường. Kế đó đối tượng phân tích trong chương này giới hạn trong khuôn khổ xí nghiệp quốc hữu.

1.      Hiện trạng thị trường lao động Việt Nam

  Phản ảnh tình trạng chuyển giao từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, thị trường lao động hiện tại ở Việt Nam bộc lộ sự hiện diện của cả hai yếu tố kế hoạch và thị trường. Sau đây là một vài điểm quan trọng quan sát được về hiện trạng của thị trường lao động Việt Nam.

1)      Mức lương tương đối thấp trong mọi ngành và mọi vùng nhưng có chênh lệch đáng kể trên mức lương giữa các xí nghiệp qui mô lớn và xí nghiệp qui mô nhỏ, giữa ngành kinh tế phồn thịnh và ngành kinh tế đi xuống, giữa xí nghiệp nhà nước và xí nghiệp tư, và giữa Miền Bắc và Miền Nam.

2)      Sinh viên tốt nghiệp bậc đại học trong các môn kinh tế, quản trị xí nghiệp, kỷ thuật cơ khí, tính học, Anh ngữ, Nhật ngữ, v.v. dễ kiếm việc làm với mức lương tương đối cao trong khi sinh viên tốt nghiệp ban y khoa khó kiếm việc làm và thường lãnh mức lương tương đối thấp.

3)      Mức lương trong ngành giáo giục, và nhất là mức lương của giáo viên bậc trung học phổ thông tương đối thấp nhưng mức lương trong ngành đào tạo nghề nghiệp, nhất là trong ngành vi tính, cơ giới v.v, thường rất cao.

4)      Tỉ lệ phụ nử tham gia thị trường lao động tương đối cao và không có sai biệt rõ trên mức lương giữa hai giới tính.

 

2.      Phương pháp và phạm vi điều tra xí nghiệp

Vào thời điểm khởi đầu công trình điều tra về lương bổng này tác giả dự định điều tra tình hình trong cả hai phân loại xí nghiệp công và xí nghiệp tư. Nhưng cuối cùng phải giới hạn vào xí nghiệp công vì nhận xét rằng trong tình trạng năm 1995 rất khó hy vọng thâu thập được tài liệu khách quan và chính xác về các xí nghiệp tư nhân[1].

  Sau đây xin giải thích một cách sơ lược về 20 xí nghiệp và cơ quan chọn làm đối tượng cho công trình điều tra:

 Ngành chế biến:

 Miền Bắc: 3 xí nghiệp , 13 người mỗi xí nghệp

 Miền Nam: 3 xí nghiệp, 13 người mỗi xí nghiệp

 Ngành thương mại (bán lẻ):

         Miền Bắc: 4 xí nghiệp, 13 người mỗi xí nghiệp

         Miền Nam: 3 xí nghiệp, 13 người mỗi xí nghiệp

 Ngành khách sạn:

         Miền Bắc: 2 xí nghiệp , 13 người mỗi xí nghiệp

         Miền Nam: 1 xí nghiệp, 13 người

 Ngành đào tạo:

         Miền Bắc: 2 cơ quan, 13 người mỗi cơ quan

 Ngành y tế:

         Miền Bắc: 1 bệnh viện, 13 người

         Miền Nam: 1 trạm y tế, 13 người

  Công trình điều tra này đã được thực thi bằng cách phỏng vẩn trực tiếp với nhân viên (công nhân) của 20 xi nghiệp và cơ quan kể bên trên. Tổng cọng, cuộc điều tra này thu thập được tài liệu cho một mẫu với qui mô 260. Mẫu điều tra trong trường hợp này không hoàn toàn là mẫu ngẫu nhiên (random sample) bởi vì đối tượng phỏng vấn đã được chọn để phản ảnh cơ cấu nhân sự của các xí nghiệp hay cơ quan. Trong 13 người chọn để phỏng vấn trong mỗi xí nghiệp hay cơ quan, có 8 người thuộc từng lớp lương bổng thấp, 3 người thuộc cấp trung và 2 người thuộc cấp cao. Bởi vì đã phải gia tăng số xí nghiệp và cơ quan điều tra để phản ảnh đủ các ngành kinh tế điển hình cũng như để giữ quân bình giữa các vùng, mẫu điều tra cho mỗi xí nghiệp có qui mô tương đối nhỏ.

  Sau đây là các câu hỏi chính nêu lên trong công cuộc phỏng vấn:

(1)   Thu nhập từ lương bổng trong năm 1994, thu nhập từ lương bồng từ tháng giêng đến tháng sáu năm 1995, và lương hàng tháng hiên tại (tháng bảy năm 1995)

(2)   Kinh nghiệm làm việc: số năm đã làm việc cho xí nghiệp hay cơ quan hiện tại, tổng cọng số năm đã làm việc từ khi tốt nghiệp

(3)   Tuổi và giới tính

(4)   Trình độ giáo dục và đào tạo: số năm học trường (gồm cả ba bậc tiểu, trung và đại học), thời gian tham gia các lớp đào tạo, ngành học

(5)   Điều kiện xã hội: vai trò hiện tại của cá nhân trong các hoạt động xã hội và chính trị

3.  Quan sát khái lược

  Công trình phỏng vấn thực thi vào tháng 9 năm 1995 không thoả mản hết được các câu hỏi đặt bên trên. Các tài liệu thu thập cung cấp thông tin khá đầy đủ trên các mục (1), (2) và (3) (lương hàng năm, số năm đã làm việc, tuổi và giới tính) nhưng không cho biết đầy đủ số liệu về các mục (4) và (5) (bối cảnh giáo dục, vai trò chính trị). Về bối cảnh giáo dục, thông tin không cho biết một cách đầy đủ chi tiết về ngành và thời gian tham dự trong các khoá đào tạo. Câu hỏi về vai trò chính trị không nhận được phản ứng tích cực trong hầu hết xí nghiệp (ngoại trừ xí nghiệp 18).

  Bảng 8-1 trình bày ngành hoạt động, địa điểm hoạt động và tổng số công nhân của các xí nghiệp và cơ quan điều tra. Bảng 8-2 trình bày mức lương trung bình, chênh lệch tiêu chuẩn và chỉ số chênh lệch trên mức lương (trình bày bởi tỷ số chênh lệch tiêu chuẩn trên mức lương trung bình; một tỷ số nhỏ chỉ chênh lệch nhỏ) trong các xí nghiệp và cơ quan điều tra.

  Sau đây là một vài nhận xét quan sát được từ Bảng 8-2.

(1)   Có chênh lệch đáng kể trên mức lương giữa các xí nghiệp, nhất là giữa các xí nghiệp ngành chế biến áp dụng nhanh chiến lược thị trường hoá (các xí nghiệp 11, 13, 14 và 15) và các cơ quan y tế và đào tạo còn chịu ảnh hưởng mạnh của thể chế quản trị nhà nước (các xí nghiệp 1 và 20).

(2)   Trong các xí nghiệp có mức lương trung bình cao (các xí nghiệp 11,13,14,15 và 19) thường có chênh lệch lớn trên mức lương (giữa công nhân trong cùng một xí nghiệp) trong khi các xí nghiệp có mức lương trung bình thấp và còn theo hình thức quản trị cũ thường có chênh lêch tương đối nhỏ.

(3)   Ngoại trừ xí nghiệp 13 và xí nghiệp 14 (chế biến, Hà Nội), và xí nghiệp 19 (đào tạo, Hà Nội), mức lương tương đối thấp trong các xí nghiệp Miền Bắc so với các xí nghiệp Miền Nam.

  Các xí nghiệp 11, 13, 14 và 15 thuộc vào số ít xí nghiệp ngành chế biến thừa kế tái sản tốt từ trước năm 1986 và đã kịp thời thay đổi hình thức kinh doanh theo kinh tế thị trường. Thêm vào đó gia tăng nhanh trong nhu cầu rượu bia và thuốc lá từ sau năm 1986 cũng là một yếu tố lớn mang đến mức lương cao trong các xí nghiệp này. Hai cơ quan đào tạo (XN 19 và XN 20) khác hẳn trên mức lương trung bình và độ chênh lệch. Là một cơ quan đào tạo cung cấp các chương trình đào tạo ngắn hạn về các ngành hợp với nhu cầu mới của thị trường lao động (vi tính), xí nghiệp 19 có mức lương trung bình rất cao so với mức tiêu chuẩn toàn quốc. Cùng trong ngành đào tạo nhưng là một trường nông nghiệp bậc trung học còn theo chế độ lương bổng trước thời kỳ Đổi Mới, xí nghiệp 20 có mức lương trung bình tương đối thấp.

 

  Mức lương trung bình thấp trong hai cơ quan y tế (XN 1 và XN 2) bộc lộ một đặc điểm đáng chú ý trong thị trường lao động Việt Nam. Tuy có chênh lệch giữa XN 1 (trạm y tế) và XN 2 (bệnh viện), thu nhập trung bình hàng năm trên đầu người trong cả hai đều ở mức thấp so với hầu hết các xí nghiệp khác. Đây là một điểm khác biệt với hầu hết các quốc gia khác trên thế giới trong đó các cơ quan y tế thường có mức lương cao vì đào tạo chuyên viên y tế cần nhiều chi phí so với các ngành khác. Tuy nhiên mức lương thấp trong hai cơ quan này có thể phản ảnh trung thực hiện trạng cung và cầu chuyên viên kinh tế trong nước[2].

4.  Hàm số lương

  Mức lương của một người lao động tuỳ thuộc vào các yếu tố như năng lực lao động của cá nhân, năng lực trả lương của xí nghiệp và hiện trạng cung cầu trên thị trường lao động. Năng lực lao động của cá nhân phản ảnh bối cảnh giáo dục và đào tạo (ngành và thời gian học, v.v.) và kinh nghiệm làm việc của cá nhân (tuổi, thời gian làm việc, v.v.). Năng lực trả lương của xí nghiệp tuỳ thuộc vào các yếu tố như ngành hoạt động (chế biến, bán lẻ, khách sạn, v.v.) và qui mô (tổng ngạch thu hàng năm, tổng số công nhân, v.v.) của xí nghiệp. Trong trường hợp của các xí nghiệp quốc hữu, bởi vì thông thường xí nghiệp hoạt động dưới hình thức hợp đồng trong đó hàng năm xí nghiệp phải nộp chính phủ một ngạch tiền thuê cố định theo hợp đồng và từ đó lợi nhuận và năng lực trả lương của xí nghiệp tuỳ thuộc một phần vào mức tiền thuê và giá trị thực của tổng lượng tài sản chính phủ cho xí nghiệp thuê. Cuối cùng, các công trình đầu tư nhà nước trong ngành giáo dục và đào tạo trong quá khứ cũng có ảnh hưởng lớn trên hiện trạng cung cầu và mức lương lao động (thí dụ: đầu tư nhiều trên ngành giáo dục y tế mang đến hiện trạng cung dư nhu thiếu và mức lương thấp cho các chuyên viên y tế).

  Trong tình trạng hiện tại của Việt Nam, ngoài các yếu tố đề cập bên trên, địa điểm hoạt động của xí nghiệp (Miền Bắc hay Miền Nam) và vai trò của cá nhân người lao động trong guồn máy chính trị cũng có thể là yếu tố quan trọng.

  Để biểu hiện các yếu tố kể bên trên, hàm số lương được định nghĩa như sau

     W = F(X1, X2, ..., Y1, Y2, ..., D1, D2)                (1)

với

W:        lương hàng năm (US$),

X1, X2, ....: các biến số trình bày năng lực lao động của cá nhân,

Y1, Y2, ....: các biến số trình bày năng lực trả lương của xí nghiệp,

D1, D2, ... :các biến số dummy (trình báy địa điểm hoạt động của xí nghiệp và vai trò của cá nhân trên phương diện chính trị).

  Dưới dạng phương trình bậc nhất hàm số (1) bên trên trở thành

  W =  a0 +  a1X1 + a2X2 + ...

           +  b1Y1 + b2Y2 + ...

           +  c1D1 + c2D2 + ...                     (2)

(ao, a1, a2...., b1, b2..., c1, c2...: hệ số cố định)

 

5.  Kết quả phân tích hồi qui

  Các hệ số của hàm số lương (2) được ước lượng bằng cách áp dụng phương pháp phân tích hồi qui vào số liệu thống kê đã thu thập được từ công trình điều tra xí nghiệp trình bày bên trên. Bảng 8-3 (ngành chế biến), Bảng 8-4 (ngành thương mại), Bảng 8-5 (ngành khách sạn), Bảng 8-6 (ngành y tế) và Bảng 8-7 (ngành đào tạo) trình bày kết quả của phân tích hồi qui trên từng ngành kinh tế và Bảng 8-8 (ngành chế biến), Bảng 8-9 (ngành y tế), Bảng 8-10 (ngành khách sạn), Bảng 8-11 (ngành thương mại) và Bảng 8-12 (ngành đào tạo) trình bày kết quả của phân tích hồi qui trên từng xí nghiêp. Một cách tổng quát có thể nhận xét được rằng phân tích trên ngành kinh tế đưa ra kết quả khá tốt với trị số R2 tương đối cao và các hệ số của các biến số độc lập có dấu thích hợp trên mức hửu ý (significance level) cao.

  So với phân tích trên ngành kinh tế, phân tích trên từng xí nghiệp có trị số R2 nhỏ hơn và trong một vài trường hợp có hệ số không thích hợp trên mức hửu ý cao vì mẫu nhỏ giới hạn độ tự do (degee of freedom). Sau đây là một vài điểm đáng lưu ý quan sát được từ kết quả của công trình phân tích hồi qui.

 

(1)  Chênh lệch giới tính

Biến số dummy giới tính (có trị zero cho lao dộng nữ giới và 1 cho lao động nam giới, không trình bày trong các bảng) không cho ra hệ số hữu ý chỉ chênh lệch trên mức lương giữa nữ và nam. Kết quả này có thể phản ảnh một cách trung thực hiện trạng của xã hội Việt Nam trong đó kỳ thị giới tính đã được xoá bỏ qua nhiều năm dưới phong trào cải cách xã hội.

(2)   Kinh nghiệm lao động và mức lương

Trong tất cả các phân tích hồi qui trình bày trong chương này số năm người lao động có kinh nghiệm làm việc và số tuổi đã được dùng để chỉ kinh nghiệm lao động. Trong hầu hết các hàm số ước lượng cả hai biến số này đều chỉ hệ số dương với mức hữu ý khá cao. Vì hai biến số này mang cùng ý nghĩa và số tuổi có hệ số tương đối an định hơn, các Bảng 8-1 đến 8-12 chỉ trình bày các hàm số chứa biến số tuổi. Các hệ số ước lượng được cho biến số tuổi trình bày gia tăng trên mức lương hàng năm của người lao động mỗi lần già lên một tuổi. Hệ số này cho thấy khác biệt lớn giữa các ngành kinh tê, với ngành đào tạo có hệ số lớn nhất (51 US$/năm, Bảng 8-17) và ngành thương mại có hệ số nhỏ nhất (9 US$/năm, Bảng 8-4). Từ các kết quả này có thể đưa ra hai nhận xét sau. Thứ nhất, kinh nghiệm và tuổi tác là một trong các yếu tố quan trọng quyết định mức lương lao động. Kế đến, yếu tố kinh nghiệm lao động (số năm làm việc) có tác dụng tương đối mạnh trong ngành giáo dục và tương đối yếu trong ngành thương mại.

(3)   Số năm học và mức lương

Công trình điếu tra xí nghiệp cung cấp thông tin khá đầy đủ về số năm học trong tất cả các bậc tiểu học, trung học và đại học và ngành chuyên môn trong bậc đại học nhưng không cung cấp tài liệu đầy đủ về thời gian tham dự các chương trình đào tạo. Điều này giới hạn khả năng phân tích ảnh hưởng của các chương trình đào tạo trên mức lương bổng của người lao động. Ngoài ra, vì hầu hết các người lao động đáp ứng công trình điều tra này đã tốt nghiệp bậc trung học (11 hoặc 12 năm), phân tích hồi qui dựa vào số liệu thống kê này không thức biệt được ảnh hưởng của giáo dục trong các bậc tiểu học và trung học[3] Và cũng ví lý do này trong phân tích hồi qui, thay vì tổng số năm học số năm học trong bậc cao đẳng và đại học đã được dùng cho biến số ‘năm học’, và biến số ‘đào tạo’ chỉ được dùng trong phân tích đơn vị xí nghiệp 13 (Bảng 8-8) trong đó có khá đầy đủ thông tin về thời gian người lao động đã tham gia các chương trình đào tạo..

  Hệ số ước lượng được cho biến số ‘năm học’ có dấu dương trên mức hữu ý cao trong hầu hết các phương trình hồi qui. Nhưng trị số tuyệt đối của hệ số này cho thấy chệnh lệch lớn giữa các ngành kinh tế và giữa xí nghiệp trong cùng một ngành. Một cách tổng quát, giá của giáo dục (price of schooling) bậc cao học và đại học, biểu thị bởi chênh lệch trên mức lương hàng năm mang đến bởi chênh lệch một năm học, có trị rất cao trong ngành đào tạo (208 US$, Bảng 8-7), ngành khách sạn (90-145 US$, Bảng 8-5) và ngành chế biến (106 US$, Bảng 8-3) và có trị số tương đối nhỏ trong các ngành y tế (46 US$, Bảng 8-6) và thương mại (34 US$, Bảng 8-4).

  Hầu hết số người trong các xí nghiệp ngành chế biến, khách sạn, và đào tạo đáp ứng công trình điều tra này cho biết ngành chuyên môn họ đã theo học trong các trường đại học và cao đẳng là các ngành công học, kinh tế, quản trị xí nghiệp và ngoại ngữ (Anh, Pháp và Nhật ngữ). Kết quả bên trên cho thấy rằng đầu tư trên giáo dục thuộc các môn công học, kinh tế và quản trị xí nghiệp có suất lợi nhuận (rate of returns) cao trong khi đầu tư giáo dục ngành y tế có suất lợi nhuận tương đối thấp. Hiện tượng này phản ảnh hiện trạng của thị trường lao động trong đó các hoạt động kinh tế mới nâng cao nhu cầu lao động có kiến thức công học, kinh tế và quản trị xí nghiệp trong khi số đông cơ quan y tế còn nằm dưới thể chế quản trị nhà nước. Về ngoại ngữ, vào thời điểm thực thi công trình điều tra này các môn Anh ngữ và Nhật ngữ có nhu cầu rất cao trong khi có thông tin cho biết sinh viên tốt nghiệp Nga ngữ khó kiếm việc làm. Hiện tượng này cũng được xem như phản ảnh trung thực tình trạng trong các năm giữa thập niên 1990 khi mà bang giao kinh tế với các quốc gia Đông Âu còn chưa được phồn thịnh.

  Biến số ‘đào tạo’ trình bày trong Bảng 8-8 là một biến số dummy có trị 1 trong trường hợp người lao động có kinh nghiệm tham gia các chương trình đào tạo ngắn hạn. Hệ số của biến số này rất lớn, chứng tỏ rằng tham gia các chương trình đào tạo có hy vọng được suất lợi nhuận cao[4].

(4)   Chênh lệch giữa các xí nghiệp

Các biến số dummy xí nghiệp trong các hàm số của các ngành kinh tế ( Bảng 8-3, 8-4, 8-5, 8-6 và 8-7) có hệ số rất lớn và cắt nghĩa một phần đáng kể của phân bình của chênh lệch trên mức lương (variances of wages across enterprises) giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành kinh tế. Vì hệ số của biến số này chỉ chênh lệch trên mức lương trung bình hàng năm giữa người công nhân trong xí nghiệp với trị dummy 1 và công nhân trong xí nghiệp so sánh (có trị dummy 0), có thể đọc được răng trong ngành chế biến công nhân trong xí nghiệp 11 (TP Hồ Chí Minh) mỗi năm nhận 987 US$ nhiều hơn một công nhân cùng tuổi và cùng năng lực lao động trong xí nghiệp 10 (Hà Nội, Bảng 8-3). Một cách tương tự, trong ngành khách sạn công nhân trong xí nghiệp 18 (TP Hồ Chí Minh) lãnh lương hàng năm 1.879 US$ cao hơn một công nhân cùng tuổi và cùng năng lực lao động trong xí nghiệp 17 (Hà Nội, Bảng 8-5). Các con số này trình bày chênh lêch rất lớn bởi vì mức thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam vào năm 1995 chỉ ước lượng vào khoảng 250 US$.

Với chính sách Đổi Mới xí nghiệp quốc doanh (state-run enterprises) đổi thành xí nghiệp quốc hữu (sate-owned enterprises) trong đó xí nghiệp được kinh doanh trên căn bản thị trường và nộp chính phủ tiền mướn. Xí nghiệp được quyền sử dụng doanh lợi sau khi nộp tiền mướn. Dưới thể chế này doanh lợi của xí nghiệp và mức lương của công nhân tuỳ thuộc nhiều vào giá trị thực trên thị trường và giá trị định trong hợp đồng (giữa chính phủ và xí nghiệp) của tài sản xí nghiệp. Nếu giá trị định trong hợp đồng không phản ảnh đúng (thấp hoặc cao hơn) giá trị thị trường của tài sản xí nghiệp, tiền mướn định bởi chính phủ sẽ đưa đến một thứ lợi ích bất thường (windfall benefits, dương hoặc âm). Hệ số lớn ước lượng cho biến số dummy xí nghiệp có thể được xem như một loại xáo trộn thị trường (market distortion).

Thể chế kinh tế kế hoạch tập trung không định được giá cả thích hợp cho các sản phẩm và dịch vụ là một trong các lý do thúc đẩy việc chuyển giao từ hệ thống kinh tế kế hoạch sang hệ thống kinh tế thị trường. Trên phương diện này, cho đến nay Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành quả. Hầu hết sản phẩm và dịch vụ đã được trao đổi qua thị trường. Hầu hết vật giá phản ảnh biến đổi của lượng cung và lượng cầu và gần như không còn hiện tượng thặng dư hay thiếu hụt. Nhưng thị trường tài sản (asset market) là một lãnh vực còn cần nhiều cải cách. Các trị số lớn ước lượng được cho hệ số của biến số dummy xi nghiệp ám chỉ rằng trong thời điểm giữa thập niên 1990 còn tồn tại ‘market distortion’ trên thị trường tài sản, nhất là trên phương diện đánh giá tài sản của các xí nghiệp quốc hữu.

 

 

(5)   Vai trò chính trị và mức lương

Công trình điều tra xí nghiệp thực thi năm 1995 chỉ cung cấp thông tin về vai trò chính trị của nhân viên trong một xí nghiệp (XN 18). Biến số dummy ‘đảng viên’ có một hệ số dương đáng kể (629-1.502 US$, Bảng 8-5 và 8-10) và có thể xem như phản ảnh đúng điều kiện xã hội của Việt Nam trong đó Đảng giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều lãnh vực.

 

(6)   Chênh lệch trên mức lương giữa các vùng

Khác với dự đoán, phân tích hồi qui không xác nhận được chênh lệch rõ rệt trên mức lương giữa Miền Bắc và Miền Nam. Phân tích hồi qui bao gồm biến số dummy vùng không cho ra hệ số với mức hữu ý cao và không mang đến gia tăng đáng kể trong hệ số R2. Sự kiện này có thể đã phát sinh vì hai lý do sau. Trước hết, có tương quan (correlation) lớn giữa biến số dummy vùng và biến số dummy xí nghiệp (thí dụ: trong trường hợp của ngành chế biến hai xí nghiệp có mức lương cao nhất hoạt động trong Miền Nam). Kế đó, tác dụng lớn của biến số dummy xí nghiệp che mất chênh lệch vùng (các xí nghiệp Miền Bắc bao gồm một số xi nghiệp chế biến thuốc lá và khách sạn có mức lương cao).

6.  Phân tích chi phí- lợi ích trong đầu tư giáo dục

  Trước năm 1986 tất cả dịch vụ giáo dục và đào tạo được cung cấp trên căn bản miễn phí. Không những không phải trả học phí mà học sinh và sinh viên còn nhận được phụ cấp của chính phủ. Nhưng từ năm 1986 chính phủ Việt Nam dần dần bãi bỏ các thứ phụ cấp và ngược lại đòi hỏi sinh viên bậc cao đẳng và đại học phải đóng học phí để đáp ứng với yêu cầu trong và ngoài nước trên việc cải thiện tình trạng tài chính quốc gia. Với thay đổi này trên chính sách nhà nước, từ sau năm 1986 đối với sinh viên và phụ huynh hấp thụ dịch vụ giáo dục bậc cao đẳng và đại học là một hành động đầu tư cần có ý thức về chi phí và lợi ích.

  Bảng 8-13 tóm lược kết quả của một phân tích chi phí-lợi ích (cost-benefit analysis) của đầu tư trong ngành giáo dục từ vị trí của người sinh viên. Phân tích được thực thi riêng biệt cho hai phân loại môn học ‘y học’ và ‘ngoài y học’ (bao gồm các ngành công học, kinh tế, quản lý xí nghiệp, ngoại ngữ, v.v.). Chi phí và lợi ích bao gồm các mục sau:

  Chi phí: thu nhập bị mất (income foregone) vì mất cơ hội làm việc trong thời gian học, học phí và các chi phi khác (sách vở, dụng cụ)

  Lợi ích: Chênh lệch trên mức lương hàng năm giữa người lao động tốt nghiệp bậc cao đẳng và đại học và người lao động tốt nghiệp bậc trung hoc.

  Một người sau khi tốt nghiệp bậc trung học tiếp tục hấp thụ dịch vụ giáo dục bậc đại học sẽ phải mất cơ hội làm việc 4 năm (trường hợp chọn môn ‘ngoài y học’) hoặc 6 năm (trường hợp chọn môn ‘y học’), và do đó phải chịu mất 4 năm hay 6 năm mức lương trung bình mà một người vừa tốt nghiệp bậc trung học có thể nhận được. Thu nhập bi mất này là chi phí đối với sinh viên bậc đại học. Các phần chi phí khác gồm học phí trả nhà trường và chi phi lặt vặt cho việc học[5]

  Các số liệu về chi phí trình bày trong Bảng 8-13 dựa vào các thông tin tác giả thu thập qua một vài lần phỏng vấn sinh viên và nhân viên đại học trong thành phố Hồ Chí Minh. Thu nhập bi mất được trình bày bởi mức lương trung bình hàng năm của một người lao động vừa tốt nghiệp bậc trung học (410 US$ trong năm đầu và gia tăng 2% mỗi năm). Học phí cho tất cả các ngành học ước lượng vào khoảng 100 US$/năm. Các chi phí khác như tiền mua sách vở và dụng cu học cũng ước lượng vào khoảng 100 US$/năm.

   Từ các kết quả phân tích hồi qui trình bày bên trên có thể suy ra mức độ thị trường đánh giá một năm học bậc cao đẳng và đại học, dưới hình thức lương hàng năm, trong các ngành kinh tế như sau:

Y tế:   46 US$/năm         Thương mại:  34 US$/năm

    Chế biến: 108 US$/năm/năm  Khách sạn:  124 US$/năm

    Đào tạo:  208 US$/năm

  Lương hàng năm của một bác sỹ y khoa tốt nghiệp chương trình đại học 6 năm được ước lượng 276 US$/năm (= 46$ x 6 năm) cao hơn so với một người cùng tuổi tốt nghiệp bậc trung học. Trong trường hợp các ngành ‘ngoài y học’, vì trị số trung bình của các ngành kinh tế ước lượng khoảng 115 US$/năm, một nhân viên tốt nghiệp khoa đại học 4 năm sẽ có mức lương hàng năm 460 US$ (= 115$ x 4 năm) cao hơn một người cùng tuổi tốt nghiệp bậc trung học. Trong Bảng 8-13, trong trường hợp ngành y học, thay vì 276 US$, lợi ích (chênh lệch trên mức lương hàng năm giữa người tốt nghiệp đại học 6 năm và người tốt nghiệp trung học) được giả định lá 330 US$ vì hệ số ước lượng cho biến số ‘năm học’ trong các hàm số ngành y tế có thể định giá không đủ (underestimate) giá thị trường của một năm học ngành y.

  Đặt suất chiết khấu bằng 10% ước lượng được một tỷ số lợi ích- chi phí (benefit-cost ratio) B/C = 0,65 cho ngành ‘y học’ và B/C = 1,54 cho ngành ‘ngoài y học’. Suất nội hoàn (IRR, internal rate of returns) ước lượng bằng với 6% cho ‘y’ học và 16% cho ‘ngoài y học’. Từ các con số này có thể kết luận được rằng, nhìn từ vị trí của sinh viên và phụ huynh, đầu tư trên giáo dục bậc cao đẳng và đại học có suất lợi nhuận rất cao trong các ngành công học, kinh tế, quản trị xí nghiệp và ngoại ngữ nhưng tương đối thấp trong ngành y học. Kết quả này không mâu thuẩn với tình trạng thi trường hiện tại trong đó sinh viên tốt nghiệp các ngành công học, kinh tế và ngoại ngữ được cung cấp cơ hội làm việc với điều kiên tương đối tốt trong khi một số đáng kể sinh viên tốt nghiệp khoa y không tìm được nơi làm việc. Nói một cách khác, thị trường lao động trong thập niên 1990 là một thị trường người bán (sellers’ market) đối với người tốt nghiệp các ngành công hoc, kinh tế va quản lý xí nghiệp và là một thị trường người mua (buyers’ market) đối với người tốt nghiệp ngành y học. Tuy vậy chúng ta cũng nên nhớ rằng đây có thể chỉ là một hiện tượng lâm thời trong một thời kỳ mà dịch vụ y tế còn được cung cấp bởi bệnh viện công lập[6].

Đã có thể quan sát được phản ứng tích cực của các cơ quan giáo dục bậc cao đẳng và đại học đối ứng với biến đổi mới trên nhu cầu giáo dục. Vào khoảng cuối thập niên 1980 nhiều trường đại học đã tiến hành các công trình cải cách như thiết lập học khoa quản trị xí nghiệp, gia cố chương trình vi tính, kế toán và ngoại ngữ, v.v.

7.  Tóm lược

  Chương này khảo sát mức độ thị trường hoá trong thị trường lao động bằng cách ước lượng hàm số lương để xác nhận các yếu tố quyết định mức lương của người lao động. Phân tích hồi qui (ước lượng hàm số lương) và phân tích chi phí- lợi ích kiểm chứng rằng trong khoảng giữa thập niên 1990 thị trường lao động Việt Nam chịu ảnh hưởng hổn hợp của hai yếu tố thị trường và kế hoạch. Công trình phân tích này cho thấy được tác dụng rõ rệt của các yếu tố thị trường (market forces: mức lương của người lao động gia giảm theo năng lực lao động của cá nhân và năng lực trả lương của xí nghiệp) nhưng cùng lúc còn cho thấy di tích của thể chế kinh tế kế hoạch trước thời Đổi Mới (chênh lệch nhỏ trên mức lương của nhân viên trong một vài cơ quan theo thể chế cũ; thu ích thấp hơn chi phí trong đầu tư giáo dục ngành y học, v.v.).

  Kết quả của công trình nghiên cứu trong chương này có thể được tóm lược trong bốn điểm sau:

(1)   Trong hàm số lương (hàm số bậc nhất) trong đó số năm học là một biến số độc lập, hệ số của biến số này chỉ chênh lệch trong mức lương hàng năm giữa hai người lao động có số năm học khác nhau 1 năm. Hệ số này được ước lượng vào khoảng 115 US$/ năm cho các môn công học, kinh tế, quản trị xí nghiệp và ngoại ngữ và 46 US$/năm cho môn y học.

(2)   Phân tích chi phí-lợi ích của đầu tư trên giáo dục (xét từ vị trí cá nhân của người sinh viên) cho biết đầu tư trong các môn công học, kinh tế học, quản trị xí nghiệp và ngoại ngữ có suất nội hoàn cao (IRR = 15%, B/C= 1,54) và đầu tư trong môn y học có suất nội hoàn tương đối thấp (IRR = 6%, B/C = 0,65). Sự kiện này phản ảnh một cách trung thực điều kiện cung cầu trong thị trường lao động. Gia tăng nhanh trong sản xuất sản phẩm và dich vụ biến đổi thị trường lao động thành một thị trường người bán (sellers’ market) đối với chuyên viên các ngành công học và quản trị xí nghiệp trong khi thi trường lao động còn nằm trong tình trạng của một thị trường người mua (buyers’ market) đối với chuyên viên ngành y học.

(3)   Có chênh lệch khá lớn trên mức lương trung bình giữa các xí nghiệp thuộc cùng một ngành kinh tế, phát sinh từ lợi ích bất thường (windfall benefits) mang đến bởi hiện trạng đánh giá tài sản xí nghiệp (xí nghiệp có tài sản được chính phủ đánh giá ở mức thấp hơn giá thị trường có lợi nhuận lớn và từ đó có năng lực trả lương cao).

(4)   Không quan sát được chênh lệch đáng kể trên mức lương giữa nữ và nam có cùng năng lực lao động làm việc trong cùng một xí nghiệp. Số liệu thống kê trong một xí nghiệp cho thấy địa vị chính trị và xã hội có thể có ảnh hưởng mạnh trên mức lương.

 


 


[1] Công trình điều tra này đã được thực thi cùng với sự cộng tác hữu ích của Uỷ Ban Vật Giá Nhà Nước.
[2] Dư thừa y sỹ và bác sỹ, cung nhiều hơn cầu, so với các quốc gia khác ở cùng một mức thu nhập trên đầu người.

[3] Chênh lệch trên mức lương giữa hai ngườI đã qua bậc trung học A (15 năm: tốt nghiệp ban cao đẳng) và B (16 năm: tốt nghiệp ban đại học 4 năm) chỉ ảnh hưởng của 1 năm giáo dục bậc đại học.

[4] Kết luận về suất lợi nhuận của các chương trình đào tạo cần được xác nhận lại khi có được thông tin đầy đủ hơn.

[5] Chi phí sinh sống không là chi phí trong hành động đầu tư này vì cả hai sinh viên và người làm việc đều phải tốn chi phí cho cuộc sống hang ngày..

[6] B/C:tổng trị giá hiện tại (present value) của lợi ích chia cho tổng trị giá hiện tại của chi phí. Trị giá hiên tại của X ở năm t là X/(1+r)t với r là xuất chiết khấu. IRR: xuất chiết khấu làm cân bằng giá trị hiện tại của lợi ích và giá trị hiên tại của chi phí (B/C=1).

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả 
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com