|
|
Chương này quan sát một cách sơ lược ảnh hưởng của Đổi Mới trên sản lượng và hình thức kinh doanh trong ngành nông nghiệp và cùng lúc phân tích tình trạng sản xuất nông nghiệp trong tám vùng sinh thái của Việt Nam. Ảnh hưởng của Đổi Mới trên toàn thể nền nông nghiệp sẽ được phân tích tường tận hơn trong Chương 6. 1. Ảnh hưởng của Đổi Mới trên cơ cấu sản xuất nông nghiệp 1-1. Sản xuất và xuất khẩu Như đã nhận xét trong Chương 3, sản lượng của toàn bộ môn nông nghiệp gia tăng với suất trung bình hàng năm 5,1% trong khoảng thời gian 1986-99. Suất tăng trung bình hàng năm cao đến 5,1% cho cả một thời gian dài như trong trường hợp này là một trị số ít thấy được trong bộ môn nông nghiệp của các quốc gia khác. Phát triển với tốc độ nhanh của bộ môn nông nghiệp trong thời kỳ Đổi Mới này đã được thực hiện song song với biến đổi trong cơ cấu sản xuất.
Bảng 5-1 trinh bày giá trị sản lượng (giá so sánh năm 1994) của toần bộ môn nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực, ngành chăn nuôi và ngành trồng cây lâu năm trong thời kỳ 1986-99. Tất cả các chỉ biểu đều chỉ khuynh hướng gia tăng nhưng hai mục chăn nuôi và cây lâu năm có suất tăng cao so với các mục khác. Từ các con số này có thể suy đoán được điểm quan trong sau: Măc dầu trong hiện tại ngành trồng cây lương thực còn chiếm giữ vị trí lớn nhất trong toàn bộ môn nông nghiêp, hai ngành chăn nuôi và trồng cây lâu năm đã phát triẻn rất nhanh và mang đến một thay đổi đáng kể trong cơ cấu sản xuất của nền nông nghiệp dướI thời kỳ Đổi Mới.[1] Gia tăng trong sản lượng nông nghiệp đã đem đến nhiều thay đổi lớn trên mặt xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp. Trước hết phải kể một sự kiện quan trọng là từ năm1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu lại gạo, một sản phẩm chủ yếu mà Việt Nam đã phải bỏ ra nhiều ngoại tệ để nhập khẩu trong suốt giai đoạn chiến tranh. Lượng gạo xuất khẩu hàng năm tiếp tục gia tăng và hiện nay Việt Nam được xếp vào một trong các quốc gia chủ yếu xuất khẩu gạo trên thế giới.
Ngoài gạo Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành quả khá tốt trong việc xuất khẩu sản phẩm các loại cây trồng lâu năm. Bảng 5-2 trình bày sản lượng và lượng xuất khẩu của một số loại cây lâu năm chính yếu[2]. Cả năm sản phẩm trà, cà phê, cao su, hạt tiêu và dừa đều cho thấy gia tăng lớn trong cả sản lượng và lượng xuất khẩu. Cao su là loại cây lâu năm truyền thống đã được trồng trong các đồn điền dưới thời Pháp thuộc trong một số tỉnh thuộc hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Sau khi đất nước thống nhất các đồn điền này được tổ chức lại trong khuôn khổ nông trường quốc doanh, và trong các năm gần đây được quản lý dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp công đồng. Cà phê là loại cây bắt đầu được khuyến khích trồng sau khi đất nước thống nhất. Hiện nay Việt Nam được xếp vào hàng thứ hai sau Ba Tây trong các quốc gia xuất khẩu cà phê trên thế giới.
1-2. Ngành trồng lúa trước và sau năm 1986: một trường hợp điển hình của ảnh hưởng Đổi Mới Sau đây thử so sánh hiện trạng sản xuất và năng suất đất trong ngành trồng lúa trước và sau năm 1986, một trường hợp điển hình của ảnh hưởng Đổi Mới trong bộ môn nông nghiệp. Bảng 5-3 trình bày diện tích trồng lúa, năng suất đất trên đơn vị diện tích gieo trồng và sản lượng lúa trong khoảng thời gian 1976-1998. Các số liệu trong bảng này cho thấy rõ một vài điểm khác biệt giữa hai thời kỳ trước và sau năm 1986. Trước hết có khác biệt rõ rệt trên tốc độ gia tăng trong sản lượng lúa, với suất tăng hàng năm 5,1% trong thời kỳ sau 1986 so với suất tăng 3,0% trong thời kỳ trước năm 1986. Kế đến, khác biệt trên suất tăng sản lượng này là kết quả tổng hợp của khác biệt trên tốc độ gia tăng năng suất và diện tích đất gieo trồng lúa. Trong thời kỳ trước năm 1986 năng suất đất gia tăng với tốc độ 2,3% hàng năm (từ 2,23 tấn/mẩu trong năm 1978 đến 2,81 tấn/mẩu trong năm 1986) so với 2,9 % trong thời kỳ sau năm 1986 (từ 2,81 tấn/mẩu trong năm 1986 đến 3,96 tấn/mẩu trong năm 1998). Diện tích gieo trồng lúa tăng rất nhanh trong thờI kỳ sau năm 1986, một phần nhờ vào các công trình khai thác đất trồng lúa mới và một phần nhờ vào khuynh hướng thâm canh. Nếu tính mật độ sử dụng đất lúa (intensity of land use = diện tích gieo trồng lúa / diện tích đất lúa) chúng ta sẽ thấy rằng mật độ này gia tăng nhanh trong các năm 1986-98 (tăng từ 1,32 trong năm 1986 đến 1,75 trong năm 1998). Trong khi trước năm 1986 khuynh hướng bỏ ruộng hoang lan tràn trong nhiều hợp tác xã vì nông dân không thụ hưởng được quyền lợI thích hợp cho lao động, sau năm 1986 nông dân tích cực trong việc trồng lúa hai mùa hoặc ba mùa nhờ vào các cải cách trên chế độ thuế má.
2. Ảnh hưởng Đổi Mới trên tập thể hoá nông nghiệp Thành lập hợp tác xã nông nghiệp và huy động nông dân tham gia vào các tổ chức này đã được thúc đẩy mạnh ở Miền Bắc từ sau năm 1954 và trong Miền Nam từ sau năm 1975. Bảng 5-4 trình bày hiện trạng tập thể hoá trong các vùng nông nghiệp trong năm 1987 và 1988. Có thể quan sát được hai điểm trọng yếu. Thứ nhất, vào năm 1987 trong khi ở Miền Bắc (gồm các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, ĐB Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và một phần vùng Nam Trung Bộ) trên 98% hộ nông nghiệp tham gia hợp tác xã các vùng trong Miền Nam trên 50% hộ nông dân còn tiếp tục duy trì hình thức nông nghiệp cá nhân hoặc gia đình. Kế đó, giữa hai năm 1987 và 1988 có khuynh hướng giảm sút trong tỉ số hộ tham gia hợp tác xã. Khuynh hướng giảm sút của vận động tập thể hoá nông nghiệp càng được thấy rõ hơn khi quan sát số nông trường quốc doanh và đơn vị nông nghiệp tập thể (số hợp tác xã nông nghiệp + số tổ nông nghiệp, Hình 5-1). Hình 5-1 cho thấy số nông trường quốc doanh và số đơn vị nông nghiệp tập thể trong toàn quốc gia tăng khá nhanh sau khi đất nước thống nhất (năm 1975) và nhất là từ khoảng năm 1982. Nhưng từ khoảng các năm 84-86 cả hai hình thức nông trường quốc doanh và nông nghiệp tập thể bắt đầu giảm số. Cho đến năm 1992 thì tổng số hợp tác xã nông nghiệp còn tên trong toàn quốc (=23.686) giảm đến khoảng 40% số đơn vị nông nghiệp tập thể trong năm 1986 (=56.574) và số nông trường quốc doanh trong năm 1992 giảm đến 623 nông trường so với 1337 nông trường trong năm 1984. Như đã quan sát bên trên, trong quá trình chuyển giao sang kinh tế thị trường trong đó hình thức canh tác dựa trên căn bản gia đình được chình thức thừa nhận, quan sát được khuynh hướng giảm sút rõ rệt của hai hình thức nông trường quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp. Như vậy có thể kết luận được rằng, ngoài ảnh hưởng trên sản lượng và cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, chính sách Đổi Mới đã mang đến một thay đổi lớn trên hình thức kinh doanh trong nông nghiệp: canh tác trên căn bản cá nhân và gia đình hiện ra thay thế cho hình thức canh tác quốc doanh và tập thể[3]. Thât ra, ngày nay và nhất là trong các tỉnh Miền Nam còn rất ít cơ hội nghe nông dân đề cập đến hợp tác xã nông nghiệp.
3. Phân tích chênh lệch giữa các khu vực Đổi Mới đã mang đến một hiệu quả rất lớn trên mức sàn xuất nông nghiệp của Việt Nam trong khoảng thời gian sau ngày chính sách này được ban bố (xem chi tiết trong Chương 6). Vì Đổi Mới đã được áp dụng cho tất cả các vùng trên toàn lãnh thổ, có thể suy đoán được rằng tất cả các khu vực nông nghiệp đều đã hấp thụ ít nhiều ảnh hưởng cua chính sách này. Tuy nhiên khi quan sát và so sánh số liệu thông kê của các vùng nông nghiệp chúng ta phảI chấp nhận rằng có chênh lệch rất lớn trên cơ cấu sản xuất cũng như năng suất lao động và năng suất đất giữa các vùng sinh thái. Phần này có mục đích thiết lập một mô hình để kiểm chứng các nguyên nhân đưa đến các chênh lệch này. 2-1. Khảo sát sơ lược Vì Tổng Cục Thống Kê công bố khá đầy đủ số liệu thống kê về tình trạng sử dụng đất nông nghiệp cho toàn 61 tỉnh trong năm 1998, phân tích và thảo luận trong phần này dựa vào tài liệu có được về các hoạt động nông nghiệp trong năm này. Trong khảo sát sơ bộ, để đơn giản hoá, các chỉ tiêu sẽ được trình bày dưới hình thức số lượng tổng cộng của từng vùng sinh thái mặc dầu phân tích hồi qui trình bày bên dưới sẽ dùng số liệu của từng tỉnh. Chênh lệch trên cơ cấu sản phẩm sản xuất Có một khác biệt rõ rệt trong cơ cấu sản phẩm sản xuất giữa các vùng. Bảng 5-5 trình bày sản lượng lúa, khoai mì và heo và diện tích trồng cây lâu năm trong các vùng cùng với tỷ lệ của các số lượng này trong tổng lượng toàn quốc. Khoai mì được chọn để làm đại biểu cho các loại cây hàng năm trồng trên đất cao và heo đại biểu cho các sản phẩm ngành chăn nuôi. Về sản xuất lúa, Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đồng Bằng Sông Hồng là hai vùng sản xuất chủ yếu, mặc dầu tính theo phần trăm trên tổng lượng lúa toàn quốc, vùng ĐB Cửu Long chiếm 52% trong khi vùng ĐB Sông Hồng chỉ chiếm 18%, vì khác biệt lớn trên diện tích đất trồng lúa giữa hai vùng. Hai vùng trồng lúa chủ yếu này cũng khác nhiều trên lượng sản xuất ngành chăn nuôi. ĐB Sông Hồng có diện tích hẹp nhưng số lượng heo nuôi trong vùng này gần gấp đôi lượng heo nuôi trong ĐB Cửu Long. Vùng Đông Bắc và Tây Bắc có đặc điểm trong việc sản xuất cây lương thực trồng trên đất cao và ngành chăn nuôi, với khoai mì chiếm 35% và heo chiếm 22% trong tổng lượng sản xuất toàn quốc. Hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên chiếm trên 75% diện tích đất trồng cây lâu năm trong toàn quốc. ĐB Cửu Long cũng chiếm một vị trí đáng kể trên diện tích đất trồng cây lâu năm. Nhưng phải nhớ rằng trong khi phần nhiều cây lâu năm trồng trong vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nguyên là loại cây trồng trên đất cao với qui mô lớn và kỷ thuật tân tiến như cao su va cà phê, phần nhiều cây lâu năm trồng trong vùng ĐB Cửu Long là dừa, một loại cây thích hợp với đất thấp.
Hiện trạng sử dụng đất trong các vùng Khác biệt trên cơ cấu sản phẩm kể bên trên phản ảnh một phần trạng thái đất đai hiện có trong các vùng (Bảng 5-6), với đất trồng lúa chiếm tỷ trọng cao trong vùng ĐB Sông Hồng và ĐB Cửu Long và đất trồng cây lâu năm có nhiều ở vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nguyên.
Khác biệt trên trạng thái đất đai giữa các vùng càng trở nên rõ rệt hơn khi quan sát đất nông nghiệp tính theo đầu ngườI (lao động) trong các vùng. Bảng 5-7 và Hình 5-2 trình bày diện tích các loại đất phân theo loại cây trồng (lúa, cây lâu năm, các loại khác) tính theo đầu người bằng cách chia diện tích đất trong Bảng 5-6 bởi số người lao động trong các vùng. Từ các số liệu này quan sát được 3 điểm sau: 1) Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai vùng đất rộng người thưa, có diện tích đất trên đầu người lao động cao nhất. Kế đến là vùng ĐB Sông Cửu Long. ĐB Sông Hồng là vùng dân cư trù mật, với diện tích đất tính theo đầu người lao động bằng 0,136 mẩu/người, hay nhỏ hơn một phần năm vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nguyên, và nhỏ hơn một phần ba so với vùng ĐB Sông Cửu Long. 2) Ngoại trừ lúa thì đất dùng cho cây hàng năm có nhiều ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Hai vùng này cũng có nhiều đất thuộc mục “các loại khác”. 3) Tỷ suất đất lúa trên tổng diện tích đất nông nghiệp ở vùng ĐB Sông Hồng là 86% so vớI 76% ở vùng ĐB Sông Cửu Long. Chênh lệch trên tỷ suất đất trồng lúa giữa hai vùng trồng lúa chủ yếu này có thể được xem như phản ảnh chênh lệch trên điều kiện tưới nước giữa hai vùng. Trong các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đất lúa chỉ là một phần nhỏ trong tổng số diện tích đất nông nghiệp.
Chênh lệch trên năng suất lao động và năng suất đất Giá trị sản lượng nông nghiệp trung bình của một người lao động hoặc một đơn vị diện tích đất là kết quả hổn hợp của nhiều yếu tố như tỉ lệ đất trên lao động, loại đất, điều kiện tưới nước, mức kỷ thuật, v.v. Trước khi đi sâu vào công việc phân tích về các yểu tố này chúng ta quan sát sơ qua mức năng suất (trung bình) của lao động và đất trong các vùng. Bảng 5-6 trình bày năng suất lao động và năng suất đất của tám vùng nông nghiệp vào năm 1998. Có thể nhận xét được các điểm sau:
ĐB Sông Hồng có năng suất đất rất cao, khác hẳn với các vùng khác (2,2 lần ĐB Sông Cửu Long, 4,9 lần vùng Tây Bắc). Nhưng ngược lại năng suất lao động của vùng này tương đối thấp so vớI ĐB Sông Cửu Long (67%), Đông Nam Bộ (64%), và Tây Nguyên (58%) 1) ĐB Sông Cửu Long là vùng có trị số tương đối cao trên năng suất của cả lao động và đất. 2) Mặc dầu năng suất đất không cao, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có năng suất lao động cao nhất trong toàn lãnh thổ.
2-2. Giả thuyết và mô hình phân tích Phần quan sát sơ bộ bên trên đưa đến ba giả thuyết sau: 1) Vì lúa có giá trị thị trường cao, có được nhiều đất trồng lúa là một lợi điểm lớn đối với các tỉnh hoặc vùng trong việc nâng cao giá trị sản lượng cũng như trong việc nâng cao năng suất lao động và năng suất đất (vùng ĐB Sông Cửu Long có năng suất lao động và năng suất đất cao. Vùng ĐB Sông Hồng có năng suất đất cao, v.v.) 2) Các vùng có nhiều đất và ít lao động có năng suất lao động cao, và ngược lại năng suất đất có khuynh hướng gia tăng khi mật độ lao động trên đất gia tăng (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, ĐB Cửu Long có năng suất lao động cao. ĐB Sông Hồng có năng suất lao động thấp và năng suất đất cao, v.v.) 3) Sự hiện diện của các nông trại trồng cây công nghiệp trên tổ chức qui mô lớn và với kỷ thuật tương đối tân tiến ở hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có tác dụng làm gia tăng năng suất lao động và năng suất đất trong các vùng này (hai vùng này có năng suất đất ở mức tương đối cao mặc dầu đất rộng so với số người lao động, và tỉ suất đất trồng lúa thấp). Ngược lại các vùng còn chậm trễ trên mặt phát triển nông nghiệp như Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ có năng suất thấp (các vùng này có năng suất lao động và năng suất đất thấp). Để kiểm chứng các giả thuyết kể bên trên, chương này dùng một hàm số sản xuất nông nghiệp bao hàm các biến số lao động, đất, tỉ suất đất trồng lúa trên đất nông nghiệp, và biến số dummy cho các vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, và Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ như sau: Yi = ea0+a1D1+a2D2+a3RiAibLic (1) Yi : giá trị sản lượng nông nghiệp trong tỉnh i trong năm 1998, Ai : diện tích đất nông nghiệp trong tỉnh i trong năm 1998, Li : số ngườI lao động nông nghiệp trong tỉnh i trong năm 1998, Ri : tỉ suất đất trồng lúa trên diện tích đất nông nghiệp trong tỉnh i trong năm 1998, D1: một biến số dummy vùng có trị 1 trong các tỉnh thuộc hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên và 0 ở các tỉnh khác, D2: một biến số dummy vùng có trị 1 trong các tỉnh thuộc bốn vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ và 0 ở các tỉnh khác, và a0, a1, a2, a3, b, c: hệ số (b và c là hệ số co dản sản xuất của đất và lao động) Lấy lô-ga-rít của hai vế của phương trình (1) sẽ có: lnYi = a0+a1D1 +a2D2 + a3Ri +blnAi + clnLi (2) hoặc ln(Yi /Li) = a0+a1D1 + a2D2 + a3Ri +bln(Ai/Li) (3) nếu giả định không có kinh tế qui mô (b+c=1)
Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài đất và lao động còn có một vài yếu tố đầu vào khác như nông cụ và phân bón. Hàm số sản xuất bên trên không bao hàm các biến số này vì không có số liệu thống kê. Các hệ số của hàm số sản xuất sẽ được ước lượng bằng cách áp dụng phương trình (2) và phương trình (3) vào số lương thống kê về sản lượng, đất, và lao động của sáu mươi mốt tỉnh trong năm 1998. Giả thuyết 2) bên trên sẽ được kiểm chứng khi các phương trình (2) và (3) và số liệu thống kê của sáu mươi mốt tỉnh cho ra một hàm số sản xuất theo dạng Cobb-Douglas trong đó hệ số của các biến số lao động và đất có trị số dương và nhỏ hơn 1 (năng suất trung bình và năng suất cận biên của lao động (hoặc đất) gia tăng khi diện tích đất (lượng lao động) gia tăng, và giảm khi lượng lao động (diện tích đất) tăng. Giả thuyết 1) sẽ được kiểm chứng nếu xác nhận được một hệ số a3 có trị số dương. Và giả thuyết 3) ám chỉ rằng hệ số a1 có trị số dương và hệ số a2 có trị số âm. 2-3. Hàm số sản xuất nông nghiệp ước lượng từ số liệu thống kê qua vùng Bảng 5-7 trình bày ba hàm số ước lượng từ số liệu thông kê của sáu mươi mốt tỉnh vào năm 1998. Hàm số (1) và Hàm số (2) dựa vào phương trình (2) trong khi Hàm số (3) dựa vào phương trình (3) với giả định không có kinh tế qui mô (constant returns to scale, b+c=1). Tất cả ba hàm số đều trình bày kết quả tốt, với tất cả hệ số có dấu thích hợp và sai số tiêu chuẩn nhỏ. Trị số R2 gia tăng từ 0,816 trong Hàm số (1) đến 0,920 trong Hàm số hai, chứng tỏ rằng ba biến số R (tỉ suất đất lúa trên diện tích đất nông nghiệp) và hai biến số dummy là những yếu tố quan trọng mang đến chênh lệch giữa các vùng nông nghiệp. Cả ba hàm số đều có hệ số b và c thoả mãn các điều kiện căn bản (0<b, c<1) của một hàm số sản xuất. Các hệ số a1, a2 và a3 cũng có trị số thích ứng với các giả thuyết bên trên về ảnh hưởng của tỉ suất đất lúa trên giá trị sản lượng nông nghiệp (giá trị sản lượng và năng suất lao động và đất gia tăng khi tỉ suất đất lúa trên tổng diện tích đất nông nghiệp gia tăng), và đặc tính của các vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (ngoài điều kiện đất và lao động còn có yếu tố khác có ảnh hưởng tốt trên sản lượng và năng suất) và Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ (ngoài điều kiện đất và lao động còn có yếu tố khác làm giảm sản lượng và năng suất so với các vùng khác). Mặc dầu trị số R2 giảm từ 0,920 trong Hám số (2) đến 0,717 trong Hàm số (3), vớI giả định b+c=1, phân tích bên dưới dùng Hàm số (3) vì hàm số này thuận tiện cho việc phân tích chênh lệch trên năng suất lao động và năng suất đất giữa các vùng.
2-4. Kế toán chênh lệch năng suất giừa các vùng Đối ứng với gia tăng tổng sản lượng qua thời gian (growth accounting, xem Chương 4 và Chương 6), cũng có thể nghĩ đến một lối kể toán chênh lệch khu vực (regional disparity accounting) như sau về các yếu tố mang đến chênh lệch trên năng suất lao động và đất giữa các vùng. Yếu tố mang đến chênh lệch trên năng suất lao động Như đẫ thấy trong phần quan sát sơ bộ, giữa tám vùng trong toàn quốc có chênh lệch lớn trên năng suất lao động (= giá trị sản lượng nông nghiệp của vùng chia số người lao động nông nghiệp của vùng). Cũng như trong phần sau nói về năng suất đất, cũng có thể dùng các hệ số của hàm số sản xuất nông nghiệp để phân tích nguyên nhân đưa đến chênh lệch giữa các vùng trên năng suất lao động. Viết lai phương trình (3) dưới hình thức chênh lệch giữa hai vùng như sau (Δ: vùng i – vùng ĐB Sông Cửu Long)[4]: Δln(Yi /Li) = 0,1583ΔD1 – 0,4517ΔD2 + 0,4212ΔRi +0,2187Δln(Ai/Li) (4) (dùng hệ số của Hàm số (3) trong Bảng 5-9) Phương trình (4) chỉ rằng chênh lệch trên năng suất lao động giữa một vùng và vùng tiêu chuẩn (vùng ĐB Sông Cửu Long) có thể được chia ra làm ba phần: phần do chênh lệch trên diện tích đất tính theo đầu người, phần do chênh lệch trên tỉ lệ đất trông lúa trên tổng diện tích đất nông nông nghiệp, và phần do đặc điểm khác (biến số dummy). Bảng 5-10 trình bày kết quả của phân tích dựa theo phương trình (4). Vùng ĐB Sông Hồng có chút ít lợi thế về tỉ lệ đất trông lúa (+0,0421) nhưng bị liệt thế nhiều trên tổng diện tích đất nông nghiệp trên đầu người (-0,2556) nên cuốI cùng có năng suất lao động rất thấp so với ĐB Sông Cửu Long. Vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ có liệt thế lớn trên tỉ lệ đất trồng lúa (-0,2653 và –0,22744) nhưng có lợi điểm trên diện tích đất nông nghiệp (+0,1183 và +0,1094) và biến số dummy (+0,1583)[5], nên cuối cùng đi đến kết quả là có năng suất lao động cao hơn vùng ĐB Sông Cửu Long. Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ có liệt điểm trên mọi phương diện so với ĐB Sông Cửu Long nên năng suất lao động rất thấp.
Yếu tố mang đến chênh lệch trên năng suất đất Như đã quan sát một cách sơ lược bên trên, năng suất đất trong vùng ĐB Sông Hồng rất cao so với các vùng khác (Bảng 5-8). Phần này có mục đích xác nhận một cách chính xác hơn các yếu tố mang đến chênh lệch trên năng suất đất giữa các vùng. Phương trình (3) bên trên có thể được viết lại dưới hình thức sau, với Δ chỉ chênh lệch giữa vùng i và vùng tiêu chuẩn (Δ= vùng i – ĐB Sông Hồng) Δln(Yi /Ai) = 0,1583ΔD1 – 0.4517ΔD2 + 0.4212ΔRi + 0,7813Δcln(Li/Ai) (5) (dùng hệ số của Hàm số (3) trong Bảng 5-9) Phương trình (5) bên trên chỉ rằng chênh lệch trên năng suất đất giữa vùng i và vùng ĐB Sông Hồng có thể được tách ra làm ba phần phát sinh từ ba nguyên nhân: khác biệt trên mật độ lao động trên đơn vị diện tích đất, khác biệt trên tỉ lệ đất lúa trên tổng diện tích đất nông nghiệp, vá đăc điểm khác của vùng i. Bảng 5-11 trình bày kết quả của phân tích dựa trên phương trình (5) bên trên. So với ĐB Sông Hồng, ĐB Sông Cửu Long có mật độ lao động thấp xa (-0,9113) và tỉ lệ đất lúa hơi thấp (-0,0421) nên năng suất đất thấp xa (-0,9554) so với vùng ĐB Sông Hồng. Mặc dầu có lợi điểm trên mặt trồng cây công nghệ như cao su và cà phê (ảnh hưởng biến số dummy +0,1583), hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có năng suất đất rất thấp (-1,4852 và –1,4153) vì hai vùng này không những có ít người lao động trên đơn vị đất (-1,3360 và –1,3040) mà tỉ lệ đất trồng lúa cũng rất thấp (-0,3075 và –0,2696) so vớI ĐB Sông Hồng.
[1] Tỷ lệ của ngành trồng cây lâu năm và cây công nghiệp trong tổng sản lượng nông nghiệp gia tăng từ 19,7%trong năm 1986 đến 22,5% trong năm 1999 (Số Lượng Thống Kê Nông Lâm Nghiệp, Thuỷ Sản 1975-2000)
[2]
Trong trường hợp hạt tiêu, trong các năm
1990-99 số liệu thống kê chỉ lượng xuất khẩu lớn hơn sản
lượng, một điều có vẻ không hợp lý.
[3] Nói một cách chĩnh xác hơn, thay đổi trong hình thức kinh doanh nông nghiệp là một trong các yếu tố chính mang đến gia tăng sản lượng và thay đổi trong cơ cấu sản phẩm.
[4]
Nhớ rằng b+c=1.
[5]Trong trường hợp của vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nguyên, hệ số dương cua biến số dummy cho biết rằng ngoài điều kiện đất đai còn có yếu tố khác có tác dụng làm gia tăng sản lượng. Trong khuôn khổ của công trình nghiên cứu náy không thể bàn sâu về nội dung của các yếu tố này, Tuy nhiên tác giả nghĩ rằng lịch sử lâu dài của ngành trồng cây công nghiệp từ thời thuộc địa đến các năm gần đây phải có liên quan nhiều ít đến biến số này. Ngược lại, hệ số âm của biến số dummy trong các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ cho biết ngoài đất đai còn có yếu tố có tác dụng làm giảm sản lượng so với các vung khác. Các yếu tố này, nội dung cũng còn chưa biết, có thể có liên quan đến hiện trạng hạ tầng cơ sở trong các vùng này.
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ý của tác giả |