TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

 

CHƯƠNG 2

XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG NGHIỆP

  Sau bốn mươi năm theo đường lối kế hoạch tập trung, vào khoảng cuối thập niên 1970 nền kinh tế Việt Nam lâm vào một tình trạng đình trệ trầm trọng. Mức sản xuất trong hầu hết mọi ngành kỷ nghệ giảm sút và vật giá gia tăng lên từng ngày. Để đối phó với tình huống này vào năm 1986 chính phủ Việt Nam công bố một quyết định quan trọng: từ biệt hệ thống kế hoạch tập trung, chuyển giao sang kinh tế thị trường. Tình trạng đình trệ kinh tế trong các năm cuối thập niên 1970 đã phát sinh từ nhiều nguyên do trong và ngoài nước. Các sự kiện xảy ra bên ngoài như sút giảm viện trợ từ các quốc gia Đông Âu đã có một ảnh hưởng không nhỏ vào các hoạt động kinh tê trong thời kỳ này. Tuy vậy, các yếu tố trong nước liên quan đến hệ thống sản xuất công nghiệp và cung cấp dịch vụ thương nghiệp dựa trên dạng thức quốc doanh phải được xem như nguyên do chính đưa đến khủng hoảng kinh tế trong các năm sau ngày đất nước thống nhất. Vì vậy để am hiểu quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam chúng ta cần quan sát và phân tích một cách tường tận chiến lược và dạng thức sản xuất và lưu thông hàng hoá công nghiệp trong các năm trước Đổi Mới.

Chương này đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu hệ thống sản xuất và lưu thông hàng hoá trong mô hình phát triển công nghiệp mà các nhà nghiên cứu nước ngoài thường gọi là ‘Mô Hình Phát Triển Kinh Tế Miền Bắc Việt Nam’ (the North Vietnam’s Economic Development Model). Trước hết chương này sẽ tóm lược quá trình sản xuất công nghiệp dưới thời kỳ kháng chiến chông Pháp. Kế đó sẽ quan sát hệ thống sản xuất và lưu thông hàng hoá dựa theo dạng thức quốc doanh và hợp tác xã ở Miền Bắc trong thời kỳ 1954-75. Và cuối cùng cố gắng tìm hiểu tác dụng và hiệu quả của mô hình phát triển này bằng cách so sánh với hệ thống sản xuất sản phẩm và phân phối tài nguyên trong một nền kinh tế thị trường.

1.      Quá trình phát triển công nghiệp trước Đổi Mới

Tương tự công trình quan sát về ngành nông nghiệp trình bày trong Chương 1, nền công nghiệp trong chương này cũng sẽ được phân tích theo năm giai đoạn như sau:

(1)   Giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945-54

(2)   Giai đoạn phục hưng và cải tạo cơ cấu công nghiệp Miền Bắc (1955-60)

(3)   Giai đoạn Kế Hoạch 5 Năm lần thứ nhất (1961-65)

(4)   Giai đoạn chiến tranh Nam Bắc 1966-75

(5)   Giai đoạn đất nước thống nhất 1976-86

  1-1.  Giai đoạn kháng chiến chống Pháp

  Công cuộc kháng chiến chống Phâp kéo dài chín năm, kết thúc vào năm 1954. Hầu hết mọi hoạt động và chính sách công nghiệp trong giai đoạn này mang tính chất đặc thù của thời chiến: mục tiêu tối thượng của chính sách phát triển công nghiệp là đạt thắng lợi quân sự và tất cả hoạt động đã tiến hành trong điều kiện an ninh và xã hội đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh. Sản phẩm và dạng thức sản xuất của các ngành công nghiệp xúc tiến bởi chính phủ cách mạng trong thời kỳ này phản ảnh môt cách trực tiếp thể chế bố trí để đáp ứng với tình trạng chiến tranh. Cũng cần lưu ý rằng vì dạng thức sản xuất và quản trị công nghiệp mà chính phủ cách mạng thích dụng trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp này có rất nhiều điểm tương đồng với các hình thức quản trị xí nghiệp (xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã) trong các giai đoạn sau, hình thức sản xuất và thể chế lưu thông hàng hoá trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp này có thể được xem như nguồn cội của mô hình phát triển công nghiệp theo hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Phản ảnh tỷ trọng lớn của nhu cầu quân sự, một phần lớn của các hoạt động công nghiệp trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp bao gồm các ngành chế biến sản phẩm quân nhu như vũ khí, đạn dược và quân phục, và sản xuất sản phẩm dân sinh chỉ giới hạn trong một phạm vi tương đối nhỏ. Nền công nghiệp chính trong thời kỳ này bao gồm ngành máy móc như chế biến và sửa chữa súng, sửa chữa đầu máy xe lửa và xe hơi, chế biến và sửa chữa nông cụ, ngành hoá học như chế biến dược phẩm, chế biến phân bón, ngành giấy, ngành ấn loát, ngành dệt và ngành khai thác hầm mỏ.

Các công trình sản xuất công nghiệp trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp tập trung trong các khu vực đặt dưới ảnh của quân đội cách mạng. Xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã là hai hình thức quản lý chính trong thời kỳ này. Xí nghiệp quốc doanh giữ vai trò chính yếu trong việc cung cấp sản phẩm cho quân đội và bổ sung tài chính cho chính phủ. Ngoài ra xí nghiệp quốc doanh cũng có nhiệm vụ hổ trợ hợp tác xã và các hoạt động kinh tế của tư nhân đi theo đường lối cách mạng[1].

Bởi vì hình thức xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã thành lập trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp là nguồn cội của các hình thức quản lý xí nghiệp chính phủ Việt Nam thích dụng ở Miền Bắc từ năm 1954 và Miền Nam từ năm 1975, dưới đây xin tóm lược đặc điểm của các hình thức quản lý này.

(1)         Xí nghiệp quốc doanh giữ vai trò chính trên mặt cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghiệp. Hợp tác xã có vai trò hổ trợ xí nghiệp quốc doanh.

(2)         Chính phủ cung cấp nguyên vật liệu cần thiết và trả lương cho công nhân trong xí nghiệp quốc doanh.

(3)         Xí nghiệp quốc doanh có nhiêm vụ nộp chính phủ phần lớn sản lượng hàng năm và bán phần còn lại theo giá chính phủ quyết định.

(4)         Xí nghiệp quốc doanh nộp chính phủ tất cả thặng dư và  ngược lại thiếu hụt sẽ được chính phủ bổ sung.

Các hình thức sản xuất công nghiệp kể bên trên đã đáp ứng được nhu cầu quân sự và một phần nhu cấu dân sinh trong chín năm kháng chiến và đưa đến thắng lợi cho phía cách mạng. Hình thức xí nghiệp quốc doanh đã có tác dụng tốt trong giai đoạn này vì hai lý do sau. Trước hết có thể kể đến loại sản phẩm và tình hình quân sự trong thời kỳ này. Dưới tình trạng mà trong hầu hết mọi khu vực quân đội cách mạng lẩn lộn với quân đội địch, công cuộc chế biến vũ khí và các sản phẩm quân nhu phải được đặt dưới tổ chức chặt chẻ của Bộ Quốc Phòng; hệ thống mệnh lệnh nghiêm khắc trong dạng thức quản trị quốc doanh có hiệu quả tốt hơn so với hình thức tư doanh dựa trên căn bản vụ lợi cá nhân. Lý do thứ hai là dạng thức hành động đặc thù của cá nhân trong giai đoạn chiến tranh dành độc lập. Trong chín năm kháng chiến, tinh thần tranh đấu và ý thức nhiệm vụ của đa số dân Việt Nam lên cao, đối với họ làm việc trong các xí nghiệp quốc doanh có một ý nghĩa rất lớn cho sự tồn vong của tổ quốc. Nói một cách khác, trong giai đoạn chiến tranh dành độc lập ý thức chính nghĩa và lòng ái quốc phát sinh một cách tự nhiên có tác dụng tương đương hay cả mạnh hơn động cơ vụ lợi cá nhân mà thường được xem như yếu tố chính quyết định các hành động sản xuất trong thời bình.

1-2.  Giai đoạn phục hưng và cải tạo cơ cấu Miền Bắc (1955- 60)

Sau khi giải phóng vào năm 1954, Miền Bắc bước vào giai đoạn phục hưng và xã hội chủ nghĩa hoá nền công nghiệp. Thời kỳ 1955-65 có thể được chia ra làm hai giai đoạn: giai đoạn phục hưng 1955-57, và giai đoạn cải cách cơ cấu 1958-60.

Trong thời kỳ phục hưng, chính sách phát triển công nghiệp Miền Bắc đặt mục đích nâng cao sản lượng của các ngành công nghiệp trên việc cải cách cơ cấu sản xuất (thiết lập xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã). Và trong thời kỳ này trọng tâm của các công trình xúc đẩy sản xuất tập trung vào các ngành kỷ nghệ nhẹ và các kế hoạch thực thi cho các ngành kỷ nghệ nặng còn giới hạn trong phạm vi xây dựng cơ bản sản xuất. Qua giai đoạn cải cách cơ cấu sản xuất trong các năm 1958-60 thì chính phủ bắt đầu xúc tiến mạnh công trình thiết lập xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã. Chính trong thời kỳ này khái niệm ‘công tư hợp doanh’ được đề xướng và cho đến năm 1960 đã biến đổi tất cả công ty tư nhân thành xí nghiệp công tư hợp doanh hoặc hợp tác xã.

Theo số liệu thống kê[2] năm 1970 thì vào năm 1957 mức sản xuất công nghiệp Miền Bắc đã vượt đến 2,7 lần mức sản xuất trong năm 1955 và khôi phục lại được mức sản xuất tối cao trước chiến tranh (năm 1938). Tổng sản lượng công nghiệp trong thời kỳ 1955-60 ước lượng gia tăng 37% trung bình hàng năm. Trên phương diện cải cách cơ cấu sản xuất, vào năm 1960 trên toàn Miền Bắc đã xây dựng được 1012 xí nghiệp quốc doanh và 2760 hợp tác xã. Cho đến năm 1960 đã biến đổi 729 xí nghiệp tư nhân thành xí nghiệp công tư hợp doanh (661) hoặc hợp tác xã (68).

Như đã quan sát bên trên, năm năm đầu của công trình phát triển công nghiệp Miền Bắc đã tiến hành một cách nhanh chóng trên cả hai mặt sản xuất và cải cách cơ cấu. Trên mặt sản xuất, suất tăng 37% hàng năm là suất tăng cao nhất nền công nghiệp Việt Nam đã đạt được trong suốt 30 năm kể từ ngày xã hội chủ nghĩa thành lập ở Miền Bắc. Về mặt cải cách cơ cấu công nghiệp, khó tìm ra được trong các quốc gia trên thế gới một trưòng hợp tương tự trong đó trên một ngàn xí nghiệp quốc doanh được thiết lập và trên 700 xí nghiệp tư nhân được cải biến thành hình thức quản trị xí nghiệp theo hướng xã hội chủ nghĩa chỉ trong vòng năm năm.

Có thể kể hai điểm giải thích sự thành công của chương trình phát triển công nghiệp Miền Bắc trong các năm 1955-60. Trước hết, đây là thời kỳ ngay sau khi chiến tranh thúc kết, dễ đạt được suất tăng cao tính từ một mức sản xuất thấp. Kế đến, khác với trường hợp nông nghiệp (đa số hộ nông canh tác trên căn bản cá nhân hay gia đình), các ngành công nghiệp trong thời kỳ này còn ở trong giai đoạn ấu trỉ, có rất ít xí nghiệp tư tức lớp người chịu thiệt thòi vì các chương trình xã hội chủ nghĩa hoá và từ đó chương trình xã hội chủ nghĩa hoá không gặp phải đề kháng manh.

1-3.  Thời kỳ Kế Hoạch 5 Năm Lần Thứ Nhất (1961-65)

Như đã đề cập bên trên đến năm 1960 thì sản xuất công nghiệp Miền Bắc đã hồi phục lại được mức tối cao trước chiến tranh và cơ cấu sản xuất cũng đã được cải tạo theo hinh thức thích hợp cho mô hình phát triển trên căn bản xã hội chủ nghĩa. Chính phủ Viêt nam đi thêm một bước quan trọng: thực hiện kế hoạch phát triển 5 năm với trọng tâm đặt trên ngành kỷ nghệ nặng.

  Kế Hoạch Phát Triển 5 Năm Lần Thứ Nhất bao gồm hai đặc điểm sau:

(1)   Xúc tiến mạnh các chương trình phát triển công nghiệp vừa tiếp tục duy trì cân bằng giữa nông nghiệp và công nghiệp

(2)   Giữa các ngành công nghiệp chọn công nghiệp nặng là ngành ưu tiên cho các chương trình phát triển.

  Vì vào năm 1964 khi mà Kế Hoạch 5 Năm Lần Thứ Nhất chưa kết thúc chiến tranh bùng nổ đem đến nhiều thiệt hai lớn cho nền kinh Miền Bắc, chúng ta không thể kiểm chứng một cách chính xác hiệu năng của kế hoạch phát triển đặt trọng tâm trên các ngành công nghiệp nặng này. Tuy vậy, theo các tài liệu thống kê công bố thì kế hoach 5 năm này cũng đã đạt được một thành quả đáng kể với sản lượng công nghiệp gia tăng 13,6% trung bình hàng năm và số xí nghiêp quốc doanh (quản trị bởi trung ương và địa phương) tăng từ 1012 xí nghiệp đến 1132 xí nghiệp[3].

  Trong giai đoạn Kế Hoạch 5 Năm Lần Thứ Nhất các ngành điện lực, chế biến cơ khí và khai thác hầm mỏ đã được xúc tiến mạnh. Về ngành điện lực, cho đến năm 1965 đã xây xong 40 nhà máy điện (so với 5 nhà máy điện có trước ngày giải phóng) nâng tổng điện lực cung cấp trong toàn Miền Bắc cao lên 3,4 lần. Về ngành cơ khí, cơ cấu sản xuất đã được dần dần biến đổi từ dịch vụ sửa chữa đến chế biến. Trong thời kỳ này các ngành cơ khí nhẹ như chế biến máy bơm và các ngành cơ khí chính xác sơ bộ đã được thúc đẩy mạnh với kết quả là vào năm 1965 trên toàn Miền Bắc đã thiết lập được 148 nhà máy chế biến cơ khí[4].

 1-4.  Giai đoạn chiến tranh Nam Bắc 1966-75

  Nền kinh tế Miền Bắc bước vào tình trạng cực kỳ khó khăn trong thời kỳ 1966-75. Ngay khi nền công nghiệp vừa hồi phục lại mức sản xuất tối đa trước giai đoạn chiến tranh chống Pháp và cơ cấu sản xuất vừa mới được cải tạo để thích ứng với đường lối phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa, toàn Miền Bắc phải đương đầu với một trận chiến mới.

  Thay vì khuếch đại đầu tư vào các công trình mới, đường lối phát triển công nghiệp trong thời kỳ chiến tranh Nam Bắc đặt trọng tâm vào việc bảo tồn thiết bị sẳn có và nâng cao năng suất để duy trì mức sản xuất. Để đối phó với các đợt bỏ bom của phi cơ Mỹ chính phủ đã bố trí, phân tán công nhân và thiết bị vào các vị trí bí mật với qui mô nhỏ rải rác khắp nơi. Tổng sản lượng công nghiệp Miền Bắc duy trì ở mức cố định cho đến năm 1970 và bắt đầu trở lại khuynh hướng gia tăng từ năm 1971 khi mà tình hình chiến tranh có mòi thuyên giảm.

 1-5.  Giai đoạn đất nước thông nhất 1976-86

  Vào năm 1975, sau khi đất nước thống nhất chính phủ Việt Nam bắt đầu xúc tiến công trình cải tạo nền công nghiệp Miền Nam theo hướng xã hội chủ nghĩa. Tương tợ như quá trình xã hội chủ nghĩa hoá Miền Bắc, chính phủ đã đẩy nhanh các công trình thiết lập xí nghiệp quốc doanh, và biến đổi xí nghiệp tư thành hợp tác xã hoặc xí nghiệp công tư hợp doanh. Chỉ trong vòng ba năm trong Miền Nam đã xây dựng 1678 xí nghiệp quốc doanh, trên 5500 hợp tác xã công nghiệp và 513 xí nghiệp công tư hợp doanh (xem Bảng 2-1).

  Mặc dầu công trình cải tạo cơ cấu sản xuất theo hướng xã hội chủ nghĩa tiến hành trôi chảy, sản lượng công nghiệp trong thời kỳ 1976-86 không theo kịp với kế hoạch nhà nước. Tình trạng đình trệ trên mặt sản xuất hiện rõ nhất trong phân loại xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý. Như trình bày trong Bảng 2-2, tổng sản lượng công nghiệp toàn quốc trong thời kỳ 1976-86 tăng 5,5% trung bình hàng năm, một suất tăng được xem là rất thấp cho ngành công nghiệp trong một giai đoạn phục hưng. Nếu chia khoảng thời gian mười năm này ra làm hai thời kỳ 1976-80 và 1980-86 thì có thể quan sát được rằng sản xuất công nghiệp đình trệ một cách trầm trong trong các năm 1976-80 và có mòi hồi phục trong các năm 1980-86.

  Bảng 2-1.  Số xí nghiệp thiết lập trong Miền Nam theo hình thức kinh doanh (1975-79)

                                      Trung ương        Địa phương       Tổng số

   Quốc doanh                      294                   1384             1678

   Tập thể                                 -                        -                5500

   Công tư hợp doanh             45                     468               523

   Tài liêu: Tổng Cục Thống Kê, Số Liệu Thống Kê Kinh Tế Tài Chính, 1988.

  Có thể quan sát được hai điểm sau từ các số liệu trình bày trong Bảng 2-2.

(1)   Sản lượng công nghiệp lâm vào tình trạng đình trệ trầm trong trong phân loại xí nghiệp quốc doanh và nhất là trong phân loại xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý.

(2)   Sản lượng của cả hai hình thức quản lý quốc doanh và tập thể có mòi hồi phục từ năm 1980 nhưng tỷ lệ của xí nghiệp quốc doanh trong tổng sản lượng công nghiệp toàn quốc để lại một giảm sút lớn trong suốt thời kỳ 1976-86.

Các con số về sản lượng công nghiệp trình bày trong Bảng 2-2 phản ảnh một phần thay đổi trong chính sách nhà nước trong các năm cuối thập niên 1970. Để đối phó với tình trạng đình trệ lan tràn trong các xí nghiệp quốc doanh, vào năm 1979 chính phủ ra nghị quyết nới rộng phạm vi tự chủ cho các đơn vị sản xuất. Thay đổi này có một ảnh hưởng tốt là chận được đà giảm sút và nâng cao sản lượng của mọi phân loại kinh doanh. Nhưng như đã đề cập bên trên, xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý có phản ứng tương đối rụt rè so với các đơn vị sản xuất tập thể và các xí nghiệp quốc doanh dưới hệ thống quản lý địa phương, đưa đến kết quả là sản lượng của xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý tăng chậm hơn so với các hình thức quản lý khác. Ngoài ra, trong thời kỳ 1976-86 đã xảy ra một sự kiện có ảnh hưởng mạnh đến nền công nghiệp Việt Nam: thuyên giảm rõ rệt lượng viện trợ từ các quốc gia Đông Âu. Sự kiện này có ảnh hưởng trên mọi hình thức quản lý nhưng xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý là thành phần chịu ảnh hưởng nhiều nhất.

2.  Hệ thống phân phối hàng hoá

Trong ‘Mô hình phát triển kinh tế Miền Bắc Việt Nam’ hai hình thức quản lý ‘quốc doanh’ và ‘hợp tác xã’ cũng đã được áp dụng vào hệ thống phân phối hàng hoá. Cũng như trên mặt sản xuất, chính phủ Việt Nam đã xúc tiến công trình thành lập các thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán (hợp tác xã thương nghiệp) để giữ trọng trách lưu thông và phân phối hàng hoá và dịch vụ. Thương nghiệp quốc doanh được nối liền một cách trực tiếp với xí nghiệp (sản xuất) quốc doanh và giữ vai trò then chốt trong hệ thống phân phối hàng hoá trong khi hợp tác xã thương nghiệp có nhiệm vụ hổ trợ thương nghiệp quốc doanh.

  Bảng 2-2. Sản lượng công nghiệp theo hình thức quản lý

             (đơn vị: ức VNđ, giá so sánh năm 1982)

                        Tổng        Quốc       Tập thể        Trung       Địa

                          số           doanh                              ương      phương

 1976              653,4          448,0            205,4           288,4       365,0

 1980              669,3          402,9            266,4            244,3      425,0

 1984              939,5          528,4           411,1             326,1      613,4

 1986              1117,5         632,5         485,0              377,2      740,3

 Suất tăng
 hàng năm      5,5%          3,5%         9,0%                2,7%      7,5%

 Tài liệu: Tổng Cục Thống Kê, Số Liệu Thống Kê, 1976-89.

 

1-1. Tổ chức hệ thống điều hành phân phối hàng hoá

Hệ thống lưu thông hàng hoá trong đó xí nghiệp (thương nghiệp) quốc doanh giữ vai trò then chốt có thể được am hiểu qua phương cách quyết định giá và lượng các xí nghiệp này mua và bán hàng hoá[5]. Trên nguyên tắc các đơn vị sản xuất (xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã sản xuất) có nhiệm vụ nộp hàng cho thương nghiệp quốc doanh dựa theo qui tắc quyết định bởi nhà nước. Đối với các xí nghiệp (sản xuất ) quốc doanh, thương nghiệp quốc doanh đặt hàng theo kế hoạch nhà nước và giá hàng nộp được định để phản ảnh chi phí sản xuất và một suất lợi cố đinh cho xí nghiệp sản xuất. Đối với các hợp tác xã công nghiệp, chế độ gia công được thích dụng trong đó thương nghiệp quốc doanh cung cấp nguyên vật liệu, thu hồi thành phẩm và trả hợp tác xã giá gia công. Hợp tác xã nông nghiệp có nhiệm vụ nộp thuế cho chính phủ và bán cho thương nghiệp quốc doanh một số nông sản chủ yếu theo giá quyết định bởi nhà nước.

Thương nghiệp quốc doanh bán buôn và bán lẻ hàng hoá thu nhận từ các đơn vị sản xuất theo một giá bán quản lý bởi chính phủ. Giá bán buôn và bán lẻ phản ảnh giá mua hàng, mức đóng góp của thương nghiệp quốc doanh vào ngân sách chính phủ và tổn phí cần cho công cuộc điều hành thương nghiệp quốc doanh.

Hợp tác xã mua bán đảm trách một nhiệm vụ hổ trợ trong hệ thống phân phối hàng hoá. Nhiệm vụ hổ trợ này có thể được thấy rõ trong hoạt động của hợp tác xã ở các vùng nông thôn trong đó hợp tác xã giữ vai trò đại lý cho thương nghiệp quốc doanh trong việc mua nông sản và bán hàng hoá tiêu thụ.

1-2.  Quá trình thiết lập hệ thống phân phối hàng hoá

  Tương tự với quá trình thành lập các hình thức quản lý trên mặt sản xuất, hệ thống phân phối hàng hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã được xây dựng qua nhiều giai đoạn. Vào năm 1954, sau khi giải phóng được Miền Bắc chính phủ bắt đầu xúc tiến công trình xã hội chủ nghĩa hoá thương nghiệp. Mặc dầu hình thức thương nghiệp quốc doanh đã manh nha trong các khu giải phóng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vào thời điểm năm 1954 thương nghiệp Miền Bắc bao gồm hoat động mua bán của hàng vạn tiệm hàng và người bán hàng và một số ít xí nghiệp tư bản qui mô vừa và nhỏ. Đặt trong tình trạng này chính phủ đã vừa thiết lập xí nghiệp (thương nghiệp) quốc doanh mới vừa xúc tiến công trình cải biến các công ty và tiệm bán hàng tư nhân vào xí nghiệp công tư hợp doanh hay hợp tác xã mua bán. Công trình cải tạo cơ cấu hệ thống phân phối hàng hoá Miền Bắc tiến nhanh, vào năm 1960 thì hầu hết công ty thương mại đã được cải biến thành xí nghiệp công tư hợp doanh và trên 15 vạn quán tiệm tư nhân trở thành thành phần của hợp tác xã thương mại hoặc hợp tác xã sản xuất.

  Từ sau ngày đất nước thống nhất hệ thống phân phối hàng hoá Miền Nam cũng được cải tạo theo xu hướng xã hội chủ nghĩa qua một quá trình tương tự như Miền Bắc trước ngày thống nhất. Nhưng vào khoảng cuối thập niên 1970 thì dần dần bôc lộ hiện tượng đình trệ và hổn loạn trong hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá dựa trên căn bản quốc doanh, cuối cùng đưa đến sự ra đời của chính sách Đổi Mới.

3.      Tìm hiểu kinh nghiêm trong mô hình phát triển công nghiệp Việt Nam

  Hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá chính phủ Việt Nam thích dụng từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp đến trước ngày chuyển giao sang kinh tế thị trường dựa trên căn bản kế hoạch tập trung. Cùng một chính sách nhưng mô hình phát triển công nghiệp này đã bộc lộ kết quả khác hẳn trong các giai đoạn lich sử của quốc gia này. Hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá này đã có tác dụng tương đối tốt trong giai đoạn phục hưng kinh tế Miền Bắc và nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhưng hệ thống này đưa đến một tình trạng đình trệ trầm trọng trong toàn nền kinh tế trong các năm sau ngày đất nước thống nhất, khi mà tất cả tài lực và nhân lực quốc gia được huy động vào mục đích phát triển kinh tế. Dưới đây thử so sánh hệ thống phân phối hàng hoá trong mô hình kinh tế Việt Nam trong các giai đoạn trước Đổi Mới với tác dụng phân phối tài nguyên (market mechanism of resource allocation) trong kinh tế thị trường và tìm hiểu các nguyên nhân nằm sau các diễn biến công nghiệp dưới hệ thống kế hoạch tập trung.

  3-1.  Hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá trong kinh tế kế hoạch tập trung

  Hệ thống sản xuất và trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế kế hoạch tập trung có thể được trình bày một cách tóm lược trong Hình 2-1. Về phía sản xuất, ngoài xí nghiệp quốc doanh còn có hợp tác xã (sản xuất) nhưng để đơn giản hoá lối trình bày trong Hình 2-1 tất cả các đơn vị sản xuất được rút gọn vào ba xí nghiệp quốc doanh A, B và C. Về phía phân phối và trao đổi hàng hoá trong Hình 2-1 có ba đơn vị trong đó a và b là hai xí nghiệp thương mại (thương mại quốc doanh) và c là một hợp tác xã mua bán làm đại lý cho thương mại quốc doanh trong vùng nông thôn.. Giải thích bên dưới sẽ đặt chú tâm vào liên quan giữa hai xí nghiệp A (xí nghiệp quốc doanh, sản xuât) và b (thương mại quốc doanh), hợp tác xã c và chính phủ (Uỷ Ban Kế Hoạch Nhà Nước).

  Xi nghiệp sản xuất nhận chỉ thị về loại hàng và lượng hàng sản xuất từ Uỷ Ban Kế Hoạch, thi hành công trình sản xuất và sau khi hoàn tất quá trình sản xuất nộp hàng cho thương nghiệp quốc doanh. Thương nghiệp quốc doanh có nhiệm vụ bán buôn hay bán lẻ hàng hoá thu nhận từ xí nghiệp sản xuất. Trong Hình 2-1 xí nghiệp sản xuất B nhận chỉ thị từ Uỷ Ban Kế Hoach Nhà Nước(ngọn tên 1), sau khi hoàn thành hành động sản xuất trao hàng cho xí nghiệp thương mại a (ngọn tên 3), đóng góp vào ngân sách nhà nước tất cả thặng dư sản xuất (ngọn tên 2) và ngược lại được chính phủ cung cấp tất cả nguyên vật liệu và vốn đầu tư và được được chính phủ bao cấp khi có thiếu hụt (ngọn tên 1).

   

 

(1)     Đưa chỉ thị về mục tiêu sản xuất, cung cấp nguyên vật liệu và vốn đầu tư, bù đấp thiếu hụt

(2)     Đòng góp vào ngân sách nhà nước

(3)     Giao hàng

(4)     Đưa chỉ thị về giá cả và mục tiêu

(5)     Mua bán, cung cấp vốn đầu tư, bù đấp thiếu hụt

(6)     Đóng góp vào ngân sách nhà nước

(7)     Bán buôn

(8)     Bán lẻ

Xí nghiệp a (thương nghiệp quốc doanh) mỗi năm nhận chỉ thị nhà nước trên số lượng và mức giá hàng hoá xí nghiệp có trách nhiệm mua bán (ngọn tên 4). Chỉ thị của nhà nước bao gồm cả mức giá mua (mức giá trả cho xí nghiệp B) và mức giá bán buôn và bán lẻ của tất cả các thứ hàng hoá. Xí nghiệp a nộp tất cả thu nhập vào ngân sách nhà nước sau khi trả giá thành cho xí nghiệp B và dành lại một suất lời cố định.

Hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá trình bày bên trên khác hẳn với hình thức phân phối tài nguyên trong nền kinh tế thị trường. Một điểm quan trọng là trong hệ thống này không phải các xí nghiệp mà chính chính phủ (Uỷ Ban Kế Hoạch Nhà Nước) đưa ra mọi quyết định trên hành động sản xuất và phân phối hàng hoá và xí nghiệp quốc doanh (sản xuất và thương nghiệp) chỉ giữ một vai trò thụ động. Thêm vào đó, mức giá của hàng hoá trong tất cả giai đoạn từ giai đoan giao hàng giữa đơn vị sản xuất và thương nghiệp quốc doanh đến giai đoạn bán buôn giữa thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã thương mại và giai đoạn bán lẻ giữa đơn vị thương nghiệp và người tiêu thụ đều được quyết định bởi chính phủ. Mức giá hàng hoá và dich vụ không phản ứng một cách năng động tình trạng cung cầu trên thị trường.

  3-2.  Thành công và thất bại trong quá khứ

  Trong một nền kinh tế thị trường không phải chính phủ mà cung và cầu trên thị trường quyết định mức giá và ngược lại mức giá thị trường năng động giữ vai trò chính trong sự phân phối tài nguyên. Các đơn vị sản xuất phản ứng theo mức giá, tăng giảm lượng sản xuất về hướng cân bằng phí tổn cận biên (marginal cost) với giá đầu ra và điều chỉnh lượng nhập về hướng cân bằng năng suất cận biên (marginal productivity) với giá đầu vào. Người tiêu thụ sẽ đắn đo, thương lượng với túi tiền và sở thích cá nhân và mua hàng và dịch vụ đến mức mà hiệu dụng cận biên (marginal utility) cân bằng với  mức giá. Cả hai bên sản xuất và tiêu thụ hành động theo động cơ vụ lợi cá nhân và quyết định lượng bán và lượng mua theo giá thị trường. Theo lối này yếu tố đầu vào sẽ được sử dụng bởi xí nghiệp dùng một cách hiệu quả nhất, hàng hoá và dịch vụ sẽ được trao đến tay người cần nhất và kết quả cuối cùng lá tài nguyên sẽ được phân phối thích hợp giữa vố số hoạt động kinh tế quốc gia[6].

  Trong hơn bốn mươi năm dưới hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá không dựa trên động cơ vụ lợi cá nhân và giá thị trường, nền công nghiệp Việt Nam đã trải qua cả hai kinh nghiệm: tiến triển đều đặn (1945-54 và 1955-65) và đình trệ trầm trọng (1976-86). Khác biệt trên thành quả giữa các giai đoạn này có thể được giải thích bởi khác biệt trên điều kiện giữa thời bình và thời chiến. Trong giai đoạn chiến tranh dành độc lập, ý thức chính nghĩa và lòng ái quốc tự phát sinh là một động cơ thay thế cho động cơ vụ lợi cá nhân trong hành động sản xuất. Thêm vào đó nhất là trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-54) điều kiện thị trường không an định và sản phẩm sản xuất giới hạn trong một số hàng hoá quân nhu và dân sinh cần yếu, xí nghiệp quốc doanh đặt dưới hệ thống mệnh lệnh chặt chẻ của nhà nước có thể có tác dụng tốt hơn thị trường tự do. Ngược lại trong thời bính (1976-86), nhu cầu chất lượng của sản phẩm tiêu thụ trở nên đa dạng và lòng ái quốc, ý thức chính nghĩa dần dần phai mờ nhường chỗ cho động cơ vụ lợi cá nhân, hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá dựa theo hình thức quốc doanh mất hiệu năng.


[1] Phạm Đình Tân Góp Phần Nghiên Cứu Công Nghiệp Quốc Doanh trong Thời Kỳ Kháng Chiến, Hà Nội: Sự Thật, 1962.

[2] Tổng Cục Thống kê 25 năm Nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, 1970.
[3] Dựa theo tài liệu kể trong chú thích 2.
[4] Dựa theo tài liệu kể trong chú thích 2.

[5] Phần này dựa nhiều vào thông tin bởi Nguyễn Mai ’45 Năm Xây Dựng và Phát Triển Thương Nghiệp Việt Nam’, 45 Năm Kinh Tế Việt Nam (1945-90), Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1990.

[6] Kinh nghiêm trong nhiều quốc gia trên hế giới cho biết thị trường tự do có tác dụng tốt trên mặt phân phối tài nguyên ngoại trừ một vài vấn đề như độc quyền (monopoly) và ô nhiễm môi trường (pollution)

 

Trở về Mục lục


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả 
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com