TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

CHƯƠNG MỘT

XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

Song song với quá trình chuyển giao sang kinh tế thị trường, bắt đầu từ khoảng giữa thập niên 1980 các hình thức kinh doanh nông nghiệp dựa trên căn bản cá nhân và gia đình được chính thức thừa nhận và từ đó đã đóng góp một vai trò ngày càng quan trọng trong các hoạt động sản xuất nông sản trong nước. Đến đầu thập niên 1990 thì phần lớn sản phẩm nông nghiệp trong nước được sản xuất dưới các dạng thức doanh nghiệp mới này và nông nghiệp tập thể chỉ còn tồn tại trong một phạm vi rất nhỏ.

  Các dạng thức nông nghiệp tập thể như hợp tác xã và nông trường quốc doanh đã phải bước lùi vào sau tấm màn, nhường sân khấu cho nông nghiệp cá nhân và gia đình vì không thích hợp với môi trường kinh tế trong thời kỳ Đổi Mới. Tuy vậy điều này không là bằng chứng để chúng ta phủ định tất cả giá trị của các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn thực thi trên đoạn đường lịch sử dài trước khi chính sách Đổi Mới được ban bố vào năm 1986. Trên đoạn đường dài từ năm 1945 đến ngày nay đã có lúc (toàn quốc trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp và Miền Bắc trong các năm 1954-60) đường lối phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng xã hội chủ nghĩa đóng góp nhiều vào công cuộc cải cách xã hội nông thôn. Thêm vào đó, ngay trong toàn bộ chính sách mà nhìn chung chúng ta có thể thấy không thích hợp với môi trường kinh tế và xã hội hiện tại, khi quan sát riêng từng thành phần có thể nhận xét được có thành phần (như phá bỏ liên hệ ruộng đất theo chế độ phong kiến) đã, đang và sẽ tiếp tục làm nền tảng cho các công trình phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.

  Mục đích chính của chương này là tìm hiểu nội dung và ý nghĩa chiến lược của các kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn mà chinh phủ Việt Nam thực thi trong thời kỳ cách mạng chống Pháp và trong các năm dưới hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung. Trong chương này, ngoài việc tóm lược nội dung của các kế hoạch và chính sách trong từng giai đoạn, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu tác dụng và hiệu quả của các chương trình này trên cả hai phương diện sản xuất hàng hoá và cải thiện xã hội nông thôn.

Trong phần quan sát hiệu quả của chính sách, phân tích trong chương này sẽ đặt trọng điểm trên hai khía cạnh sau.

(1)   Trong việc tìm hiểu tác dụng và hiệu quả của chính sách sẽ đặc biệt lưu ý đến khác biệt trên điều kiện xã hội và kinh tế giữa thời chiến và thờI bình.

(2)   Phân biệt rõ giữa chương trình cải cách liên quan ruộng đất (đả phá chế độ phong kiến) và chương trình tập thể hoá sản xuất.

Điểm (1) đã được đặt ra vì dạng thức nông nghiệp tập thể có thể không thích hợp với môi trường xã hội trong thời bình nhưng có tác dụng tương đối tốt trong thời chiến trong đó điều kiện thị trường không ổn định và sản xuất nông nghiệp cần được đặt dưới kế hoạch chặt chẻ của nhà nước. Điểm (2) đã được đặt ra vì mặc dầu cải cách liên quan ruộng đất và vận động tập thể hoá cùng nằm chung trong quá trình cải cách nông nghiệp và nông thôn theo hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách liên quan ruộng đất (nhất là trong giai đoạn đầu khi mà chính phủ giao quyền sử dụng đất cho nông dân nghèo) có tác dụng nâng cao tinh thần và năng lực canh tác trong khi tập thể hoá nông nghiệp (nhất là trong giai đoạn hợp tác xã cấp cao) làm tiêu hao tinh thần lao động của nông dân.

 

  

1.        Chiến lược cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa

  Công trình xây dựng nền tảng xã hội và kinh tế theo đường hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp và hệ thống lưu hành hàng hoá và dịch vụ. Tuy vậy đối với một quốc gia còn nằm trong giai đoạn phát triển sơ khởi trong đó nông sản chiếm một phần lớn trong tổng sản lượng trong nước và đa số dân còn cư trú trong các vùng nông thôn, đường lối cải cách nông nghiệp và nông thôn có một ảnh hưởng sâu rộng trên hầu hết mọi hoạt động của quốc gia.

Chiến lược cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp điển hình của Việt Nam có thể được tóm lược trong ba điểm sau:

(1)          Xúc tiến công trình cải cách điền địa (liên quan ruộng đất) theo đường hướng xã hội chủ nghĩa.

(2)          Xúc tiến công cuộc tổ chức hoá nông dân và

(3)          Tập thể hoá sản xuất và cải cách dạng thức phân phốI thu nhập theo đường hướng xã hội chủ nghĩa.

Trên đoạn đường dài của công trình xây dựng xã hội chủ nghĩa bao gồm thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-54, thời kỳ phân chia Nam Bắc 1954-75 và thời kỳ đất nước thống nhất 1975-86, chính sách cải cách nông nghiệp và nông thôn đã được thể hiện dưới nhiếu hình thức nhưng mô hình căn bản của chiến lược này có thể được quan sát một cách có hệ thống qua các kế hoạch thực thi ở Miền Bắc trong các năm 1954-75.

Như trình bày trong Bảng 1-1, các chương trình cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp ở Miền Bắc trong các năm 1954-75 bao gồm bốn giai đoạn. Giai đoạn đầu của chương trình này là công cuộc cải cách liên quan ruộng đất trong đó chính phủ tịch thu ruộng từ tay điền chủ và phú nông và phân chia cho tá điền và bần nông. Điểm căn bản của chính sách cải cách nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn này là đả phá liên hệ ruộng đất theo chế độ phong kiến, chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng ruộng đất vào tay người cày. Trong giai đoạn này, ngoài lao động gia đình các hộ nông nghiệp còn được quyền thuê lao công để giúp việc đồng án.

Sau khi hoàn thành công trình cải cách liên quan ruông đất kể bên trên, chính phủ tiến đến giai đoạn thứ hai của chương trình, tổ chức nông dân vào các tiểu tổ nông nghiệp trong đó hình thức trao đổi lao động và lao động tập thể được khuyến khích để thay thế hình thức lao công. Ý nghĩa chính yếu của chính sách trong giai đoạn này là ở điểm bãi bỏ hình thức mua bán lao động trên thị trường, tập thể hoá hay ‘xã hộI chủ nghĩa hoá’ lao động nông nghiệp. Tuy vậy có thể nói rằng trong giai đoạn này canh tác ruộng đất còn đặt trên căn bản gia đình và cá nhân và các hộ nông nghiệp còn giữ quyền sở hữu đất và hưởng thụ tất cả thu nhập từ ruộng vườn trong tay sau khi nộp thuế chính phủ và bù đấp phí tổn lao động trao đổi hay tập thể.

Sau khi hình thức lao động tập thể đã được truyền bá rộng trong các vùng nông thôn, quá trình cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp bước vào giai đoạn thứ ba, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng và phổ biến để thay thế hình thức canh tác trên căn bản cá nhân và gia đình trong hai giai đoạn trước. Giai đoạn xây dựng hợp tác xã này có thể được phân ra thành hai thời kỳ có hệ thống phân phối thu nhập khác nhau: thời kỳ hợp tác xã cấp thấp và thời kỳ hợp tác xã cấp cao. Trong cả hai hình thức hợp tác xã này các hộ nông dân cùng cung cấp lao động vào công việc đồng án theo kế hoạch tập thể của hợp tác xã. Điểm khác giữa hai hình thức hợp tác xã này là trong hợp tác xã cấp thấp các hộ nông dân hưởng thụ thu nhập theo tỷ lệ diện tích đất thuộc quyền sử dụng của hộ trong khi qua giai đoạn hợp tác xã cấp cao thì thu nhập được quyết định dựa trên căn bản ‘điểm lao động’.

Để am hiểu được quá trình xã hội chủ nghĩa hoá nông nghiệp và nông thôn thực thi trong suốt thời kỳ 1945-75 chúng ta cần phải theo giỏi thay đổi trên bốn phương diện: hình thức sở hữu đất, hình thức canh tác nông nghiệp, hình thức lao động và hình thức phân phối thu nhập trên quá trình cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp vì hai lý do. Trước hết, với lối nhìn này chúng ta sẽ am hiểu được ý nghĩa chiến lược của các chương trình này trong bối cảnh xã hội Việt Nam trong mỗi thời kỳ. Kế đến, lối nhìn này sẽ giúp chúng ta nhận xét được các điểm tương đồng và dị đồng giữa đường lối cải cách nông nghiệp theo hướng xã hộI chủ nghĩa và đường lối cải cách điền địa thực thi trong các quốc gia (và đặc khu) theo kinh tế thị trường như Nhật Bản, Đài Loan, Phi-lip-pin, v.v. và từ đó có thể có được một lối nhìn chính xác hơn về tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.

2. Tóm lược chính sách cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp theo từng thời kỳ

 

Phần này tóm lược các chính sách chủ yếu liên quan đến nông nghiệp và nông thôn chính phủ Việt Nam đã thi hành từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp đến ngày ban hành chính sách Đổi Mới.

(1) Thời kỳ chiến tranh chống Pháp

Vận động cải cách nông thôn theo hướng xã hội chủ nghĩa đã được xúc tiến ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳ chiến tranh chống Pháp. Để có thể chịu đựng được kham khổ qua cuộc chiến tranh cực kỳ khó khăn với quân đội Pháp, dưới các mục tiêu ‘cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa’ chính phủ cách mạng đã xúc tiến công cuộc cải cách điền địa với mục đích chính là đả phá liên quan ruộng đất theo chế độ phong kiến và tạo lập một nền tảng xã hội nông thôn dựa trên căn bản dân chủ và bình đẳng.

Theo tài liệu đã công bố, trong các năm 1945-53 chính phủ đã tích thu từ tay địa chủ và giai tầng phản cách mạng và phân chia cho lớp tá điền và bần nông 477.000 mẩu đất ở Miền Bắc và 820.000 mẩu đất trong Miền Nam. Mặc dầu cải cách liên quan ruộng đất là một chính sách chung trên toàn quốc, công trình chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng đất đai vào tay ngườI cày trong thời kỳ này chỉ được thực thi một cách có giới hạn trong các khu vực đã giải phóng hoặc chính phủ cách mạng có ảnh hưởng mạnh. Theo tài liệu công bố thì ngay đến thời điểm năm 1953, bộ luật cải cách điền địa của chính phủ cách mạng chỉ được thi hành một cách tương đối triệt để trong ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và Thanh Hoá[1].

  Mặc dầu cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được đề xướng ngay từ năm 1930 khi Đảng Cộng Sản vừa được thành lập, các chính sách cải cách nông nghiệp và nông thôn thực thi trong thời kỳ 1945-54 thiên về việc thiết lập một nền dân chủ ở nông thôn và huy động năng lực sản xuất của toàn dân vào công trình kháng chiến dành độc lập. Tuy trong một vài địa điểm hợp tác xã nông nghiệp đã được thành lập, vận động tập thể hoá nông nghiệp trong thời kỳ này chỉ được thực thi trong một phạm vi rất nhỏ. Có thể nhận thức rằng chia ruộng cho tá điền và bần nông và thi hành một hệ thống thuế nông nghiệp luỷ tiến có lợi cho giai cấp nghèo ở nông thôn giữ vai trò chủ yếu trong chính sách cải cách nông thôn và nông nghiệp trong thời kỳ này.

(2)   Thời kỳ chấn hưng nông nghiệp Miền Bắc (1954-58)

Sau nhiều năm dưới chế độ thực dân và chiến tranh, vào thời điểm năm 1954 tình trạng nông nghiệp và nông thôn Miền Bắc thật là bi đát. Không những phần lớn các cơ sở hạ tầng căn bản như đường lộ và thiết bị thuỷ lợi đã bị tàn phá, hư hỏng vì chiến tranh mà cơ cấu xã hội nông thôn còn giữ đậm nét của liên quan ruộng đất, liên quan giai tầng đặc biệt của thời kỳ phong kiến. Đối phó với hiện trạng này, chính sách cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp mà chính phủ Việt Nam thực thi trong các năm ngay sau ngày Miền Bắc giảI phóng đặt chủ tâm vào việc phục hưng tiềm năng sản xuất và đả phá chế độ phong kiến.

Chính sách nông nghiệp trong các năm 1954-58 có thể được tóm lược trong ba điểm sau:

(1)          Cải cách liên quan ruộng đất: tịch thu ruộng từ tay điền chủ và phú nông và giao quyền sử dụng cho tá điền và bần nông

(2)          Xúc tiến các công trình thuỷ lợi, cải thiện thổ chất, v.v. với mục đích nâng cao năng suất đất nông nghiệp hiện có và tiến hành các công trình khai hoang nhằm mục đích khuếch đại đất nông nghiệp

(3)          Cải cách hệ thống thuế nông nghiệp.

  Vì thuyên giảm trầm trọng sản lượng lương thưc là một vấn đề khẩn cấp cần được giảI quyết, chính phủ thực thi biện pháp tài chính khuyến khích dân chúng tích cực trong việc nâng cao năng suất đất (không đánh thuế trên sản lượng gia tăng do cải thiện năng suất đất), canh tác đất bỏ hoang (sử dụng đất bỏ hoang được miển thuế ba năm) và tạo nhiều điều kiện khuyến khích nông dân khai thác đất nông nghiệp mới (nông dân được toàn quyền sử dụng đất mới khai hoang và được miển thuế năm năm). Trong thời kỳ này, song song với công trình cải cách liên quan ruộng đất (tịch thu đất từ tay điền chủ và phú nông và chia cho tá điền và bần nông) chính phủ đã khuyến khích nông dân sử dụng trâu bò và ngay cả mướn người (lao công) trong việc đồng án.

(3)   Giai đoạn tập thể hoá nông nghiệp 1958-65

Chính sách nông nghiệp thực thi ở Miền Bắc trong các năm 1958-1965 có thể được xem như mô hình điển hình của quá trình xã hội hoá nông nghiệp Việt Nam. Sau khi đả phá xong chế độ phong kiến trên liên quan ruộng đất và hoàn thành chương trình dân chủ hoá nông thôn, vào năm 1958 đảng và chính phủ bắt đầu tiến hành công đoạn chính của vận động xã hội chủ nghĩa hoá nông thôn Miền Bắc tức tập thể hoá nông nghiệp.

Vận động tập thể hoá nông nghiệp đã được tiến hành trên hai mặt: tập thể hoá tư liệu sản xuất và tập thể hoá hình thức kinh doanh. Trong khi trong các năm 1954-58 chính phủ tích cực trao quyền sử dụng ruộng đất và các tư liệu sản xuất như nông cụ và trâu bò cho nông dân canh tác trên căn bản gia đình, từ năm 1958 chính phủ tổ chức các hộ nông vào hợp tác xã trong đó mọi hành động từ thiết lập kế hoạch cho đến canh tác lao động đều được thể hiện dưới hình thức tập thể. Nếu trong các năm 1954-58 chính sách cải cách nông nghiệp và nông thôn mang đặc điểm hữu sản hoá giai tầng bần nông (trao quyền sở hữu, sử dụng đất cho tá điền và bần nông) thì các năm 1958-65 đã được dành cho công trình vô sản hoá và tập thể hoá, bước đường cuối cùng của quá trình xã hội chủ nghĩa hoá nông nghiệp và nông thôn. Mặc dầu cả hai, chương trình hữu sản hoá tiến hành trong thời kỳ 1954-58 và công trình tập thể hoá tiến hành trong các năm sau, cùng là công đoạn tất yếu trong toàn thể quá trình xã hội chủ nghĩa hoá nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam, chúng ta cần phân biệt hai chương trình này vì, như sẽ đề cập bên dưới, hai chương trình này có tác dụng khác nhau trên ý chí sản xuất của nông dân.

Như trình bày trong Bảng 1-1, quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Miền Bắc bao gồm hai giai đoạn. Vào năm 1958 chính phủ tiến hành công trình xây dựng hợp tác xã cấp thấp trong đó sản xuất thực hiện dưới dạng tập thể nhưng phân phối thu nhập còn dựa trên căn bản diện tích ruộng thuộc quyền sở hữu của các hộ. Từ khoảng năm 1960 hợp tác xã cấp thấp dần dần được cải biến lên hợp tác xã cấp cao. Hình thức hợp tác xã cấp cao này khác với hợp tác xã cấp thấp trên hai điểm: có qui mô lớn hơn và phân phối thu nhập dựa trên chỉ tiêu ngày lao động.

Chương trình tập thể hoá nông nghiệp đã tiến hành rất nhanh. Theo tài liệu công bố (xem Bảng 1-2), vào năm 1958 khi chương trình này bắt đầu thực thi 95 phần trăm hộ nông nghiệp ở Miền Bắc còn canh tác trên căn bản cá nhân và gia đình và chỉ có 4,7 phần trăm hộ gia nhập hợp tác xã cấp thấp. Đến năm 1960, chỉ hai năm sau ngày khởi đầu chương trình tập thể hoá thì tỷ số hộ tham gia hợp tác xã tăng đến 85,8 phần trăm (gồm 73,4% cấp thấp và 12,4% cấp cao). Vào năm 1965 thì số hộ tham gia hợp tác xã đã vượt quá 90 phần trăm với khoảng 2 phần 3 thuộc hợp tác xã cấp cao.

 

 

(4)   Miền Bắc trong thời chiến (1965-75)

Trong Miền Nam vào năm 1963 xảy ra cuộc đảo chính (dưới quyền chỉ huy của tướng Dương Văn Minh) lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Hoạt động quân sự của Quân Đội Giải Phóng bột phát trong khu vực nông thôn rồi dần dần lan rộng đến các thị trấn lớn. Với các đợt pháo kích của phi cơ Mỷ, từ khoảng năm 1965 Miền Bắc cũng bước vào một thờI kỳ cực kỳ khó khăn, vừa đánh giặc vữa tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Miền Bắc vẫn tiếp tục xúc tiến chương trình tập thể hoá nông nghiệp. Đến năm 1975 tỷ số hộ nông tham gia hợp tác xã tăng đến 97 phần trăm so với 90 phần trăm trong năm 1965. Vào thời điểm đất nước thống nhất (năm 1975) thì gần như hầu hết hợp tác xã cấp thấp đã được cải biến thành hợp tác xã cấp cao (41 ngàn hợp tác xã qui mô nhỏ có trong năm 1960 được thống hợp thành 31 ngàn hợp tác xã qui mô vừa trong năm 1965 và 17 ngàn hợp tác xã qui mô lớn trong năm 1975)[2].

Tuy vận động xã hội chủ nghĩa hoá tiếp tục tiến hành, chiến tranh đã mang đến một ảnh hưởng không nhỏ trên tiềm năng sản xuất nông nghiệp Miền Bắc. Hàng vạn thanh niên phải rời bỏ ruộng vườn, gây ra một giảm sút lớn trên lực lượng lao động nông nghiệp. Thêm vào đó, để đối phó với nhu cầu tối khẩn của chiến tranh chính phủ phải thuyên giảm ngân sách dành cho bộ môn nông nghiệp đến mức không những không gia tăng được tổng lượng tài sản cố định cần để nâng cao sản lượng nông nghiệp mà còn không đủ cho việc sửa chửa máy móc nông cụ sẳn có để duy trì mức sản lượng đã đạt đến từ trước.

(5)   Xã hội chủ nghĩa hoá Miền Nam (1975-86)

  Từ tháng 4 năm 1975, nông nghiệp và nông thôn Miền Nam bước vào một quá trình xã hội chủ nghĩa hoá tương tợ với Miền Bắc trong các năm 1954-75. Trước hết chính phủ tịch thu ruộng đất thuộc quyền sở hữu của người ngoại quốc, giới địa chủ và phú nông để phân chia cho giai tầng tá điền và bần nông. Công trình cải cách liên quan ruộng đất này hoàn thành vào khoảng cuối năm 1977 và từ đó chính phủ bắt đầu tiến hành bước thứ hai, tức tập thể hoá nông nghiệp. Vào năm 1977, tập đoàn sản xuất và hợp tác xã được thành lập trong một vài thí điểm rồi bắt đầu phổ biến khắp Miền Nam vào năm 1978.

  

  Nhưng chương trình tập thể hoá nông nghiệp và nông thôn Miền Nam phải dừng bước nửa đường và nhường chỗ cho một phương hướng cải cách mới thích hợp với môi trường chính trị và điều kiện kinh tế trong và ngoài nước. Vào khoảng năm 1979 khi mà tỷ số hộ nông tham gia hợp tác xã nông nghiệp trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long còn chưa đạt đến 10 phần trăm (xem Bảng 1-3)[3] đã xuất hiện triệu chứng đi ngược với phong trào tập thể hoá trong một vài làng xã. Một số nông dân từ bỏ ruộng đất và từ chối cung cấp lao động cho hợp tác xã. Chính trong tình trạng khó khăn này nảy sinh ra hình thức ‘khoán hộ’ trong đó nông dân được hợp tác xã giao quyền sử dụng ruộng đất và ngược lại nộp khoán cho hợp tác xã. Lúc đầu ‘Khoán hộ’ xuất hiên như một tập quán tự phát trong một số địa phương nhưng rồi được chính phủ chính thức thừa nhận thành một chế độ.

Từ khoảng năm 1981, sau kinh nghiệm hai bước tiến một bước lùi của chế độ khoán hộ, chính phủ bắt đầu thực hiện một vài cải cách quan trọng mà sau đó đã trở thành nền tảng cho chính sách Đổi Mới chính thức ban hành trong năm 1986. Các cải cách chính ban bố sau Nghị Quyết Số 100 bao gồm ba điểm sau:

(1)          Ngoài hợp tác xã (sở hữu tập thể) thừa nhận các hình thức sở hữu khác trên đất đai và tư liệu sản xuất.

(2)          Chấp nhận hình thức sản xuất trên căn bản gia đình như một hình thức quá độ trong quá trình đi đến xã hội chủ nghĩa.

(3)          Cải thiện phương cách điều hành (tính cách quan liêu) hợp tác xã và liên hệ giữa chính phủ và hợp tác xã nhằm mục đích nâng cao năng suất nông nghiệp.

 

3. Tìm hiểu kinh nghiệm từ mô hình xã hội hoá nông nghiệp Việt Nam

  Mô hình cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp theo hướng xã hộI chủ nghĩa thực thi trong quá trình lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến trước ngày chuyển giao sang kinh tế thị trường bộc lộ nhiều đặc điểm bao gồm cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. Về khía cạnh tích cưc, chắc không ai có thể phủ nhận được những đóng góp lớn lao của mô hình này vào việc tập trung ý chí toàn dân vào công trình sản xuất lương thực ứng đáp với đòi hỏi của đất nước, nhất là trong các giai đoạn chiến tranh dành độc lập. Nhưng cùng lúc đó chúng ta cũng không thể phủ nhận được tác dụng tiêu cực của mô hình này, như có thể được quan sát qua sự thật của tình trạng đình trệ sản xuất nông nghiệp trong các năm sau ngày đất nước thống nhất.

  Ý nghĩa của công trình cải cách liên quan ruộng đất

  Như đã đề cập bên trên, cải cách liên quan ruộng đất bao gồm hai giai đoạn: tịch thu ruộng đất từ tay điền chủ và phú nông và phân chia cho tá điền và bần nông (giai đoạn sở hữu hoá nông dân trong thời kỳ kháng chiến chông Pháp và trong các năm 1954-58 ở Miền Bắc) và tập thể hoá nông nghiệp (giai đoạn vô sản hoá nông dân, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ 1958-75 ở Miền Bắc và 1978-86 ở Miền Nam). Với sự khủng hoảng của mô hình nông nghiệp tập thể, bộc lộ trong các năm sau ngày đất nước thống nhất, ngày nay chúng ta có thể nhận thức rằng chính sách vô sản hoá, tách rời ruộng đất từ tay nông dân không là một chính sách hợp lý xét trên cả hai khía cạnh xã hội (tạo một môi trường xã hội dân chủ, an định trong vùng nông thôn) và kinh tế (nâng cao sản lượng nông nghiệp). Nhưng cải cách liên quan ruộng đất thi hành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và trong các năm 1954-58 ở Miền Bắc, mặc dầu đã được xúc tiến như một dạng thức quá độ trong công trình xây dựng mô hình nông nghiệp tập thể, có một ý nghĩa rất sâu đậm trên ngành nông nghiệp và cả nền kinh tế Việt Nam. Đả phá các hình thức liên quan ruộng đất theo chế độ phong kiến đã mang đến nông thôn Việt Nam một ý thức dân chủ bình đẳng, rằng lao động của nông dân phải được đáp thù một cách thích đáng, rằng ruộng đất phải nằm trong tay người cày. Ý thức và tinh thần dân chủ bình đẳng này không những đã đóng góp rất nhiều vào công cuộc kháng chiến chống Pháp mà sẽ còn tiếp tục làm nền tảng cho công cuộc phát triển nền nông nghiệp Việt Nam trong tương lai. Trong môi trường xã hội và kinh tế của Việt Nam ý nghĩa của chính sách cải cách liên quan ruộng đất có thể được tóm lược trong hai điểm sau:

(1)   Trong thời kỳ chiến tranh dành độc lập, tạo trong xã hội nông thôn một ý thức dân chủ bình đẳng và nâng cao tinh thần đấu tranh mang đến thắng lợi trong cuộc chiến dành độc lập.

(2)   Dưới hệ thống kinh tế thị trường, duy trì tình trạng an định trong xã hội cần thiết cho việc thực thi các công trình phát triển kinh tế.

Cải cách liên quan ruộng đất cũng đã được xúc tiến trong nhiều quốc gia theo kinh tế thị trường, nhưng không được thi hành một cách triệt để như trong trường hợp ở Miền Bắc (1954-58) và Miền Nam Việt Nam (1975-78). Phi-lip-pin trong các thập niên 1960 và 1970, chính quyền Marcos đã tiến hành một công trình cải cách điền địa trong một phạm vi khá rộng (giới hạn địa tô, mua ruộng từ tay điền chủ và bán lại cho tá điền và bần nông với giá rẽ, v.v.) nhưng chương trình này đã không được thực thi một cách triệt để. Miền Nam Việt Nam dưới thời kỳ chính quyền Ngô Đình Diệm cũng có tiến hành chính sách ‘người cày có ruộng’ với nội dung tương tợ với chương trình cải cách điền địa của Marcos. Chương trình ‘ngườI cày có ruộng’ cũng đã không đi đến nơi đến chốn. Chương trình cải cách điền địa thi hành ở Nhật Bản trong các năm ngay sau ngày kết thúc Đại Chiến Thứ Hai có thể được xem như một trường hợp hiếm có trong đó cải cách liên quan ruộng đất đã được hoàn thành bên ngoài các quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa. (Nhưng chúng ta cần nhận thức rằng chính sách cải cách điền địa ở Nhật trong các năm 1945-50 đã được thực hiện trong một môi trường đặc biệt, toàn nước Nhật đặt dưới sự kiểm soát chặt chẻ của quân đội ngoại quốc.)

Tác dụng của công trình tập thể hoá trên mặt sản xuất

Trong khi cải cách liên quan ruộng đất trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội chủ nghĩa hoá nông nghiệp có nhiều đóng góp, vô sản hoá nông dân và tập thể hoá nông nghiệp không có tác dung tích cực trên mặt sản xuất.

Mặc dầu khủng hoảng của mô hình nông nghiệp tập thể hiện rõ ra trong Miền Nam trong các năm sau ngày đất nước thống nhất, môi trường xã hội Miền Nam không phải là lý do chính cắt nghĩa sự kiện này. Số liệu thống kê trong các thời kỳ trước năm 1975 cho biết rằng hợp tác xã không là một hình thức quản trị có hiệu quả so vớI nông nghiệp trên căn bản gia đình trong đó nông dân trực tiếp làm chủ ruộng đất. Điều này có thể được kiểm chứng với số liệu thống kê trình bày trong Bảng 1-4 và Hình 1-1.

Bảng 1-4 và Hình 1-1 trình bày tình hình sản xuất lúa ở Miền Bắc (xã hộI chủ nghĩa) và trong Miền Nam (dưới chính quyền Ngô Đình Diệm). Cần lưu ý hai điểm. Trước hết, trong các năm 1954-63 Miền Nam đặt dưới chính sách người cày có ruộng có tác dụng trung nông hoá nông nghiệp trong khi Miền Bắc từ năm 1958 tiến hành công trình tập thể hoá nông nghiệp sau khi đã hoàn thành công trình phân chia ruộng đất cho tá điền va bần nông. Kế đến, ngoài một số sự kiện như cuộc nổi loạn Cao Đài và Bình Xuyên trong các năm 1954-56 và cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm vào năm 1963 trong Miền Nam, điều kiện an ninh trong cả hai miền duy trì tình trạng tương đối tốt trong các năm 1954-63. Ngược lai, với các cuộc đảo chính liên tục của các tướng tá Miền Nam và hoạt động ngày càng lan rộng của Mặt Trận GiảI Phóng, điều kiện an ninh của Miền Nam không ở trong tình trạng tốt trong các năm 1963-67.

  Bảng 1-4 trình bày tổng sản lượng lúa, suất tăng hàng năm của tổng sản lượng lúa, năng suất đất (sản lượng trên ha) và sản lượng lúa trên đầu người ở hai miền Bắc và Nam trong hai thời kỳ1954-63 và 1963-67. Trong các năm 1954-63 tổng sản lượng lúa chỉ khuynh hướng gia tăng trong cả hai miền nhưng suất tăng ở Miền Bắc (2,9%) tương đối thấp so với Miền Nam (6,7%). Phản ảnh chênh lệch trên suất tăng tổng sản lượng giữa hai miền, sản lượng lúa trên đầu người ỏ Miền Bắc duy trì ở mức độ thấp, gia tăng từ 242 kg/người đến 249 kg/ngườI trong khi Miền Nam ghi chép một cải thiện đáng kể, gia tăng từ 236 kg/người đến 342 kg/ người.

 Cũng cần nhớ ra rằng Miền Nam trong các năm 1954-63, ngoài chính sách người cày có ruộng mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã không triệt để thực thi, không có một chính sách hoặc kế hoạch phát triển nông nghiệp nào đáng được bình phán. Vì vậy suất tăng hàng năm 6,7% Miền Nam đạt được trong các năm này chỉ là một kết quả đương nhiên thường quan sát được trong các năm mà tình trạng an ninh vừa hồi phục sau chiến tranh. Và từ đó trong cùng một điều kiện tương tự, suất tăng hàng năm 2,9% của Miền Bắc phải được xem như thấp hơn mức bình thường trong một thờI kỳ phục hưng.

  Trong các năm 1963-67, vì ảnh hưởng của tình trạng an ninh tổng lượng lúa sản xuất trong Miền Nam ghi chép một thuyên giảm lớn. Trong thời kỳ này sản lượng lúa Miền Bắc tiếp tục gia tăng nhưng với một tốc độ rất thấp (1,3% hàng năm).

  Các triển khai trình bày bên trên về tình hình sản xuất lúa, một sản phẩm nông nghiệp chính của Việt Nam, chứng tỏ rằng mô hình sản xuất tập thể không có công hiệu tốt so với mô hình sản xuất dựa trên căn bản cá nhân hay gia đình, ít nhất trong các năm mà điều kiện xã hội tương đối an định.

 

   Số lượng về sản lượng, diện tích và dân số chỉ trị số trung bình ba năm.

   Tài liệu: Tính dựa theo số liệu thống kê của FAO, Production Yearbook (1968-76).

 

  Kinh nghiệm của Việt Nam và kết quả của một số công trình nghiên cứu về sản xuất nông nghiệp[4] cho biết rằng mô hình sản xuất nông nghiệp tập thể (hợp tác xã nông nghiệp) không có tác dụng tốt trên mặt sản xuất vì các lý do sau:

(1)   Tập thể hoá quyền sở hữu đất và hệ thống phân phối thu nhập theo số ngày lao động làm tiêu hao ý chí lao động của nông dân.

(2)   Khuếch đại qui mô của đơn vị sản xuất gây ra gia tăng tổn phí trên mặt điều hành (phức tạp hoá hệ thống quản trị, tạo ra chủ nghĩa quan liêu) và làm giảm sút năng suất của các yếu tố đầu vào.

 

 


 

[1] Dựa theo 45 Năm Kinh Tế Việt Nam (Viện Khoa Học Xã HộI, 1990).

[2] Dựa theo tài liệu Tổng Cục Thống Kê, Tình Hình Phát Triển Kinh Tế và Văn Hoá Miền Bắc Xã HộI Chủ Nghĩa Việt Nam 1960-1975.

[3] Tuy trong thời kỳ giữa năm 1980 và năm 1987 một số HTX đã ngừng hoạt động, số liệu trong Bảng 1-3 có thể được xem như trình bày gần đúng chênh lệch trên mức độ tập thể hoá giữa các vùng ở thời điểm mà phong trào này đạt đến mức tối cao.

[4] Hầu hết các công trình ước lượng hàm số sản xuất đưa ra một trị đàn lực qui mô (scale elasticity) không khác 1 ở mức hữu ý cao (not different from 1 at high significance level)

 

Trở về Mục lục


.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả 
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com