Thuở lọt ḷng, tôi được sinh ra trong một gia đ́nh mà cha tôi là người quê ở thành phố Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng B́nh và mẹ tôi là gốc người Nam Giao xứ Huế, nhưng anh chị em tôi lại chào đời và lớn lên ngay trên mảnh đất Sài Thành muôn thuở này.

Với tôi, mảnh đất thân yêu này dù thời gian đă vô t́nh trôi qua quá lâu, dù chỉ sống với nó trong những năm tháng ngắn ngủi của thời niên thiếu ấy, nhưng những h́nh ảnh yêu quư trên mảnh đất này cũng là những kư ức của lứa tuổi học tṛ ngây ngô dại khờ khó quên nhất trong đời, lâu thay cứ ùa về măi trong tâm tư tôi, như những đợt hồi kư đang hiện về trong mắt tôi của ngày hôm nào..

Trong ḍng đời ai lại không trải qua cái tuổi của một thời thanh xuân vui ấp bao nhiều kỷ niệm, không chỉ có thế mà riêng tôi, c̣n có cả những may mắn được sống trong một gia đ́nh tương đối khá giả là nhờ vào công sức xây dựng của cha tôi, một doanh nhân thành công trên đất Sài Thành này trong những thập niên năm 50-70.

Nơi đây tôi cũng xin mượn lời người xưa hay nói: “Công Cha Như Núi Thái Sơn”để nói lên lời tri ân sâu xa nhất của tôi đến với người, đă cho tôi những ngày sống sung túc nhất mà bạn bè cùng trang lứa từng mong muốn.

Tuy cuộc sống bên ngoài trong cảnh nhà cao cửa rộng, nhưng thực tế ít người biết được trong cuộc sống hằng ngày th́ ngược lại cha tôi là người rất cực kỳ nghiêm khắc về giáo dục đối với con cái, có lẽ một phần do cuộc sống cơ cực quá nghèo khó ở ngoài quê Quảng B́nh đă ảnh hưởng đến những suy tư của cha tôi khi tất cả anh em chúng tôi lại sanh ra và lớn lên trong cuộc sống phồn thịnh của đô thị Sàig̣n lúc bấy giờ.

Tôi luôn nhớ măi những lời nhắn nhủ của người luôn nhắc nhủ với các con cái trong gia đ́nh: “Đừng mong chờ ỷ lại vào những ǵ các con đang trông thấy, v́ đó chỉ là những ǵ cha phải đi vay mượn để kiếm lăi sinh sống cho các con và gia đ́nh hôm nay đó, điều chính là hăy lo học hành cho nên người tài giỏi, để xây dựng đất nước ḿnh đang trong cảnh chiến tranh và giúp đỡ những người ngoài quê ḿnh nữa.”

Không riêng ǵ về chuyện nhắc nhở chuyện học hành mà ngay cả chuyện tiêu xài cần kiệm là cha tôi vẩn thường xuyên hay nhắc nhở anh em chúng tôi về những câu chuyện h́nh ảnh thôn quê nghèo khó của những bà con ngoài ḿnh.

Dù đă nghe đi lại nhiều lần, nhưng tuổi trẻ như tôi bấy giờ đă không thể nào h́nh dung ra được khi cha tôi hay miêu tả về cảnh người quê ở Quảng B́nh nghèo khổ đến độ mỗi khi mùa đông về, họ phải tự làm nên những chiếc áo làm bằng bao gạo, hay có bao giờ họ thấy được những bữa ăn c̣n nguyên một con cá hay tôm hẹ trên bàn để ăn mà thường phải dằm nhỏ những con cá này, rồi ngâm trong nước mắm để cả nhà được cùng ăn chung.

Làm sao tôi quên được trong nhiều lần xin phép cha tôi để mua một đôi dày hay bộ áo nào đó th́ câu trả lời duy nhất của cha tôi là :“ Sao con không đem ra ở đầu gốc đường để nhờ chú ǵ đó vá lại đi cho tạm, người dân ngoài ḿnh c̣n khổ sở lắm con à, miếng ăn c̣n không đủ mà sao cha thấy con hay lo chưng diện áo quần hoài vậy ?”, cũng với những lời nhắn nhủ tương tự ấy mà sau này tôi cũng nghe mẹ tôi thường hay nhắc đi nhắc lại :“ Mi liệu hồn mà lo học đi, chứ cha cứ nhắc hoài về mi nhiều nhất đó nghe.”.

Tôi biết trước ư của mẹ tôi bao giờ cũng thế, rầy la như những lời răn đe của cha tôi, nhưng rồi sau đó v́ ḷng nuông chiều thương con của mẹ tôi, mà năm nào cứ tết đến tôi cũng đều có đủ ít nhất là hai bộ kiểu áo sơ mi model, quần tergal đương thời tại tiệm may Trung Nam, nằm trên đường Phan-Đ́nh-Phùng và một đôi dày da, cổ chân cao đến mắc cá của tiệm giày Luyện, chuyên nghiệp may tay nằm bên kia cầu Khánh Hội.

Thế rồi thời gian cứ dần măi trôi đi sau khi gia đ́nh tôi thay đổi nơi chốn ở, từ ngă 7- 625 Phan-Thanh-Giản và Lư-Thái-Tổ để dọn lên 123 Bùi-Thị-Xuân, trên khu chợ Ông Tạ gần phi trường th́ tôi cũng đổi các lớp từ đệ thất ở Nguyễn-Bá-Ṭng lên Lê-Bảo-Tịnh và sau cùng là vào lớp đệ nhất ở Pétrus Kư.

Một phần để tiện việc di chuyển đến trường được nhanh hơn, một phần để tôi cố gắng hơn nữa đó là quà tặng khích lệ từ cha tôi, một chiếc mobylette mới toanh. Nhưng hơn tất cả vẩn là câu nói đă ghi khắc măi trong trái tim suốt cả cuộc đời tôi nói lên ḷng nhớ ơn vô biên này với cha tôi: “ Con ráng thi đỗ kỳ này nữa đi là cha sẽ cho con sang Nhật Bản để du học đó”.

Thế là cái năm đó cũng là cái năm cuối cùng quyết liệt nhất đời trung học của tôi, dù chưa biết trước cái tương lai định mệnh của việc đi học Nhật Bản sẽ xảy ra như thế nào, nhưng trước mắt cái tâm nguyện của tôi là phải thi cho đỗ cái tú tài này, mà phần chính cũng là để đền đáp lại công ơn sinh thành của cha mẹ tôi nữa.

Ai cũng biết cái tuổi trẻ học đường vẩn luôn là cái tuổi vàng thời thơ mộng đầy quyến rủ và chất chứa nhiều kỷ niệm nhiều nhất trong đời. Đó chính là vào cái năm đệ nhất trường Pétrus Kư. Dễ nhớ lắm, lớp B6 ban anh văn chúng tôi nằm cuối hành lang ở lầu hai.

Trong lớp th́ chia thành nhiều phe phái, vừa hiền vừa chăm học th́ có Xuân-Trường, Tấn-Đức, chưa hết, cũng chăm học vậy nhưng thêm phần chịu chơi nhất lớp là chỉ có thằng Anh và thằng Ḥa là ư hợp đủ kiểu với tôi về mọi mặt từ những việc học, lúc ra chơi, cho cả những lúc tan trường về, đột phá có lúc thay v́ về thẳng nhà th́ bọn tôi đèo nhau thám hiểm để “rữa mắt” xem mấy em bên trường nữ Gia Long lướt trên đường tan học về, ngầu hơn nữa thỉnh thoảng trong phần giải trí cuối tuần là bọn tôi cũng hay gặp nhau ở các cốc cà phê quanh đường phố chợ hoa Nguyễn-Huệ, nhiều nhất là ở những quán sinh tố, quanh khu rạp hát Casino Dakao.

Gần những ngày tháng của cuối năm học, T-Đức chắc không quên bọn ḿnh hay ra ngồi ở gốc Nguyễn-Huệ này ít nhất cũng một hai lần rồi, ngay sau khi mày vừa nhận được giấy tờ để đi Đức đó”. Rồi cũng có khi cao hứng th́ thằng “công tử ” Anh, là con một của ông chủ hảng dệt lụa gần khu phi cảng Tân-Sơn-Nhất, rủ bao cả bọn tôi vào Bạch Đằng ăn kem hay thưởng thức bánh Pâté Chaud ở Givral, nằm đối diện xéo bên kia đường với khách sạn Continental .

Trong đó những kỷ niệm không bao giờ quên là trong đám bạn chỉ có Hoà là gia đ́nh không được khá giả lắm, sống từ nhỏ ở miền quê Rạch Giá và lên Sàig̣n sống chung với người chị. Mà một khi đă hiểu hoàn cảnh của nó rồi th́ nhiều lúc càng làm tôi không hiểu v́ sao hắn lại hay cù bọn tôi hăy lên ngồi nghe nhạc trên tiệm Đồng Khánh một lần cho biết là nghĩa ǵ ?

Hơn nữa với cái tên Đồng Khánh th́ quá xa lạ, đường xá lại phải đi tuốt xa trong Chợ Lớn nữa nên chúng tôi cứ hay thối thác với Hoà:“ Vô Chợ Lớn th́ chán bỏ xừ, tại mày ở dưới quê nên đâu có biết, chứ dân Sàig̣n ở đây mà chiều thứ bảy, chủ nhật là khó kiếm ghế ngồi vỉa hè nh́n thiên hạ đă lắm nghen. Bánh Pâté Chaud Grivral, kem Thanh Bạch ngon hết xảy, chứ nghe theo mày vô Chợ Lớn th́ chỉ có nước ăn cḥ cha quảy chấm hủ tiêu thôi chán thấy bà”.

Rồi khoảng thời gian sau này cũng đă đến, khi anh em chúng tôi đă thi đổ xong tú tài và để kết thúc một năm học, phần cũng ṭ ṃ để ch́u theo ư của thằng Hoà nên cả bọn chúng tôi đă làm một chuyến đi thám hiểm phá “rào cản” của gia đ́nh để lên tiệm Đồng Khánh này nghe nhạc một lần cho biết, tôi vẩn c̣n nhớ ở cái tuổi mới non choẹt vị thành niên này là không được đi chơi về đêm, nên khoảng sau 4 giờ chiều hôm đó anh em chúng tôi đă có mặt tại pḥng trà khiêu vũ này và lợi dụng cái khoảng thời gian vắng khách này nên Hoà mới thong thả đưa bà chị của nó ra giới thiệu với anh em chúng tôi cho biết, lúc bấy giờ cả bọn chúng tôi mới ngỡ ra v́ lư do nào mà trước đây Hoà hay nhắc đến cái tên tuổi của pḥng trà mang tên Đồng Khánh này là nghĩa ǵ !

Không những thế, sau này Hoà mới kể cho tôi nghe thêm về hoàn cảnh khó khăn của chị em nó khi bước chân lên đất Sàig̣n này để sinh sống, không một người thân và tay nghề nên chị nó phải kiếm sống với cái nghề chiêu đăi này. Ở lứa tuổi 18,19 làm ǵ tôi đă hiểu được cái nghề với cái tên gọi “Cave” này là ǵ ? Tánh ṭ ṃ đă đến lúc khiến tôi không thể tự dấu kín ḿnh nữa, nên đành phải thú tội với người anh đầu tôi như một lời sự xin lỗi và cầu cứu chuyện đi chơi phá rào này. Cũng nhờ vào sự phóng khoáng của ông anh tôi là dân học chương tŕnh Pháp ChasseLoup-Laubat từ nhỏ, thay v́ bị la rầy th́ lại cho tôi những lời căn dặn nhẹ nhàng : “ Thôi em đừng lên những chỗ ấy làm ǵ, cha mà biết th́ chết đ̣n mày đó nghe. Chỗ ấy chỉ dành riêng cho người lớn thôi, mà cũng đừng nên gọi những người làm chiêu đăi ấy là “Cave” hay “Vũ Nữ” làm ǵ, mà nên gọi là Cavalier, v́ hay có lối phân biệt giai cấp trong xă hội người Việt ḿnh lắm”.

Măi sau này khi sang đến Nhật rồi nhưng tôi vẩn hay c̣n liên lạc với Hoà trong vài tháng đầu, cùng lúc ấy bà chị đă cho hay tin Ḥa đă vào quân ngũ rồi, từ đó chúng tôi đă mất liên lạc rồi cũng bặt tin luôn. Trong mấy thằng bạn th́ chỉ có Hoà là người tôi thương quư nhất v́ đă nghe nó tâm sự nhiều lần về câu chuyện khó khăn của nó khi c̣n sống ở miệt dưới quê nhà.

Xuôi ngược với câu chuyện “ Nhất quỷ, nh́ ma, thứ ba học tṛ” của lớp B6 này, th́ không thể quên được câu chuyện của một “thần học” mà có lẽ các bạn Exryu học ở Nhật cùng năm như Lê-Bá-Vĩnh (lớp A1, đầu hành lang) Vơ-Hữu-Đức, Tô-Bửu-Lưỡng, Trần-Thành-Danh (lớp B1, giữa hành lang) Đoàn-Vĩnh-Khương (Mỹ), Mai-Viết-Thu (Can), hay Nguyễn-Tấn-Đức và Hoa-Xuân Trường (Đức) th́ đều biết quá rỏ khi nghe đến tên tuổi của Lê-Quang-Chu, một học sinh rất xuất sắc về môn toán, không những giỏi trong lớp mà c̣n là một học sinh Top One lănh được giải Đố Vui Để Học do Trung Tâm Học Liệu của bộ giáo dục VNCH thành lập vào khoảng 1965 hay 1966 bấy giờ.

Tôi không thể nào nhớ hết được mà đă nhiều lần, khi thầy Đỗ-Ngọc-Châu (dạy môn lư hoá) hay thầy Nhơn (dạy về toán ) vừa đọc, vừa chép, dịch biên những đề thi tuyển từ một cuốn sách luyện thi tú tài bằng tiếng Pháp nào đó, thế mà hai thầy dù chưa viết dứt hết đề bài thi này lên bảng, th́ Chu đă đưa tay lên với những câu đáp án rồi. Măi sau này tôi mới biết Chu kể lại đó là những đề luyện thi tú tài bên chương tŕnh Pháp lấy ra trong bộ sách của Lebossé-Hemery, mà hằng ngày ông thân của Chu đă chỉ dạy học cho hắn trước tại nhà rồi.

V́ chỉ ngồi ngay sau lưng Chu cách hai dăy bàn nên nhiều lúc tôi cũng hay muốn làm quen để may ra học được những ǵ hay từ nó. Nhưng rất tiếc tánh Chu rất ít nói, mà nói ra cũng toàn chuyện học hành, ít diễu cợt như những thằng bạn “quậy” cùng trang lứa khác, chưa hết, tôi c̣n nhớ như in trong đầu là lúc ra chơi Chu thường hay đứng tựa vào balcony một ḿnh và trên tay luôn cầm những tập cours toán lư hóa, đó là chưa kể đến chuyện lúc đến trường cũng như khi lúc tan học về, Chu đều được ông cụ thân sinh tự lái xe đưa đi và đón về, v́ thế nhiều lúc tôi cũng đă cố gắng muốn làm quen nhưng vẩn thấy bất khả thi chuyện tạo cho ḿnh một cơ hội gặp riêng nào đó để học được những ǵ từ Chu cũng không chừng, nhưng rồi rốt cuộc chỉ là những câu chào hỏi chuyện vui chơi thông thường mà chẳng ṃ được một chữ nào từ người bạn quá thông minh này.

Ngộ thay mà măi hơn 23 năm sau này khi được gặp lại ông thân sinh tại nhà Chu ở Thornhill-Toronto này, tôi thích thú vẩn c̣n nhớ nhắc lại câu chuyện đưa rước này, đă làm ông cụ hơi chút ngạc nhiên trong nụ cười:

- Ồ, sao mà cháu nhớ hay vậy, vâng tôi chỉ có hai anh em nó thôi mà.

Đúng là “Con nhà tổ tông không giống lông cũng giống cánh”, tôi thầm nghĩ bụng như đă nghe câu nói này nhiều lần đâu đó th́ phải.

Thế rồi ngày định mệnh đă đến, phút chia tay cha mẹ tôi, người thân, bạn bè cùng h́nh ảnh của mái trường xưa thân yêu ấy là hôm 27 tháng 12 năm 1967, trong khi bịn rịn giây phút tạm biệt gia đ́nh và người thân để lên đường sang Nhật, th́ bất chợt từ cổng bên khu ra vào của phi trường, tiếng gọi thật to của Chu:“ C.ơi, bộ ông cũng đi sang Bỉ chung chuyến hôm nay với ḿnh hả ?”.. Lúc đó tôi mới biết là Chu sẽ lên đường sang Bỉ với học bổng toàn phần.

Ḍng thời gian vẩn trôi chảy qua trong đời, lắm lúc tôi trầm ngâm vui buồn nhớ lại cho vui những câu chuyện của tuổi thơ học tṛ ngày nào, những chuyện ấy đă qua rồi chắc sẽ không bao giờ trở lại đâu nhỉ ?

Nhưng có ai ngờ đâu, hơn 23 năm chứ ít ǵ, sau khi tôi đă định cư tại Toronto, bổng nhiên một hôm đi xem chợ Tết về, cặm cụi đọc những tiết mục quảng cáo trên tờ Thời Báo Toronto, tôi không khỏi sửng sờ lẩn ngờ vực khi đọc đi, đọc lại mẫu tin giới thiệu pḥng khám bệnh về Nhăn Khoa của một bác sĩ tên Lê-Quang-Chu, trên đường College Avenue, tọa lạc trên lầu hai cạnh văn pḥng với nữ bác sĩ Tuyết thuộc khoa sản phụ. Khu vực trong thành phố này tôi quá quen thuộc v́ đă qua lại nhiều lần.

Dù vậy chứ trong ḷng tôi cũng xôn xao chút ít dù vẩn một mực không tin rằng đó là sự thật. Biết đâu có người trùng tên với họ th́ sao?..hay là cứ để vài tuần nữa xem thực hư ra sao rồi hẳn tính tiếp, đồng thời cũng nghĩ ra cách nào tế nhị nhất để t́m ra có phải chính hắn là thằng Chu ngày xưa không? Điện thoại th́ quá dễ rồi, nhưng lại không phải là phương thức lịch sự để ṭ ṃ t́m hiểu về xuất xứ đời tư của một người. Biết đâu chỉ cần một câu hỏi vô ư tứ nào đó của ḿnh trên phone sẽ làm “banh càng” ngay câu chuyện t́m ra thủ phạm không ngộ mà duyên này chăng !?

Cuối cùng thôi th́ cũng đánh liều một mẻ, tôi mạnh dạng gọi đến và xin lấy hẹn để khám mắt. Và sau khi điền các thủ tục và trả lời những câu hỏi bệnh lư về mắt của ḿnh trên đơn để đưa cho cô thư kư, tôi bạo miệng hỏi luôn: “ Xin lỗi cô cho tôi hỏi, có phải bác sĩ Chu đây là hồi xưa học bên Bỉ sang đây không ạ ?”. Cô thư kư chợt ngẩng đầu cười nhẹ nh́n tôi hơi vẻ ngạc nhiên:“ Dạ..thưa đúng rồi ạ. Nhà tôi và cả gia đ́nh bên ngoại đây đă từ bên Bỉ để theo diện băo lănh qua bên Canada này, nay đă hơn chục năm rồi..và..xin lỗi.. anh, xin cho biết quư danh để tôi thưa lại với nhà tôi ạ”.

Vài phút sau đó, với sự báo trước của người thư kư này tên Hương (phu nhân của Chu) từ trong cửa bước ra, một chàng thanh niên cũng với dáng người thấp thấp ấy, trong chiếc áo blue trắng, đầu không c̣n trọc nhẳng như xưa, vừa cười to vừa giới thiệu với Hương về tôi, người bạn cũ cùng trường ngày xưa, nói chưa dứt câu Chu vội kéo tôi vào bên trong pḥng và qua câu chuyện này tôi mới biết thêm Chu đă lấy xong Ph.D về toán bên Belgium và sang đây học lại để lấy thêm bằng bác sĩ về mắt nữa. Wow! Thấy người mà nghĩ đến thằng tui !!

Sau đó là những câu chuyện hơi “gập ghềnh” của hai chúng tôi, giữa một thằng “ Học nhiều Chơi ít ”c̣n tôi th́ ngược lại. Ấy vậy mà cũng may nhờ tài bẩm sinh tán dốc của tôi mà những câu chuyện ngày xưa này đă làm Chu như cao hứng quên mất đi chuyện đến khám bệnh mắt của tôi lúc nào không hay biết. Sau đó chúng tôi vẩn lâu thay qua lại đến thăm trong những buổi ăn ngoài trời hay dịp lễ cuối năm.

Trớ trêu thay, nghĩ lại phải chi những buổi gặp gỡ như vầy không chỉ là Chu, mà có thêm X.Trường hay T.Đức, hay độc đáo với thằng Anh hay thằng Ḥa th́ câu chuyện “ không duyên mà ngộ ” này sẽ vui thú nứt vách đến cực điểm nào! Duyên t́nh mà có ai đoán trước bao giờ được đâu!..Chưa hết.

Cũng khoảng cuối tháng 2/22 mới đây thôi, trong khi ngồi “tu” lại những trang hồi kư này, chợt thấy một bài viết khá thú vị trên trang nhà ERCT* : “ Nhớ Lại một Thời Boléro ” của anh Trần-Văn-Thọ.

Với ai chứ Thọ th́ anh em chúng tôi c̣n xa lạ ǵ, hơn 25 năm trước đây Thọ đă qua tận đây cùng tôi đi thăm anh em trên Ottawa, Montréal và tôi cũng đă về thăm vợ chồng Thọ bên Nhật đă hơn 11 năm rồi, nhưng nào có biết những thao thức lảng mạn, dạt dào t́nh cảm trong âm nhạc Boléro này như Chiều Mưa Biên Giới, của Đêm Đêm Chiếc Bóng Bên Trời, Vầng Trăng Xẻ Đôi này sao lại có thể thổi hồn được vào tâm tư của một giáo sư chuyên ngành Kinh Tế Waseda như Thọ là một điều làm tôi quá ngạc nhiên v́ xưa nay chỉ biết Thọ qua những chuyên đề về Chiến Lược, Tiềm Năng Phát Triển hay Công Nghiệp Hoá Kinh Tế Thị Trường trên các báo chí thông tin trong nước cũng như ở hải ngoại !

Thôi được cũng tốt thôi, có thêm một người bạn cùng chí hướng “nghiện” về âm nhạc th́ c̣n ǵ bằng, nên tôi mới gởi liền lên mấy ḍng “Like” để cảm ơn và mong mỏi được đọc thêm những ḍng tư tưởng về âm nhạc nào đó của Thọ trong nay mai nữa không chừng. Mong thay.

Bẵng đi hai ba tuần sau, trong thư hồi âm chẳng thấy Thọ đề cập đến chuyện âm với nhạc ǵ cả, thay vào đó là một tin nhắn ngắn gọn làm tôi quá sững sờ trên messenger:

Bạn Cường ơi, có nhớ người nào tên là Hoa Xuân Trường ở Đức không? Anh ấy học Pétrus Kư ngày xưa và hỏi ḿnh có biết LT Cường không và muốn liên lạc. Cho biết tin nhé.

Thọ.

Chỉ mới đọc thoáng qua tôi đă nghĩ ngay chắc Thọ chỉ giởn chơi thôi, ngẩm cho kỷ chuyện này thấy cũng rất lạ, v́ một người xưa kia học hành măi tận miền Trung, Quảng Ngăi, c̣n người kia th́ dân học tuốt trong miền Nam, cho đến lúc ra đi du học th́ kẻ ở Nhật người bên Đức. Vậy th́ hoàn cảnh và cơ duyên nào đă đưa đẩy hai tên này biết nhau đă làm khơi dậy trong tôi những h́nh ảnh, từng bộ mặt của những thằng bạn lớp B6 bấy giờ, đương nhiên Trường là khởi điểm đầu tiên làm khơi dậy trong trí tôi nhiều nhất, nó ngồi ở đâu và diện mạo của nó cũng như những thằng bạn năm xưa ấy bây giờ ra sao ? Hiện ra trong đầu làm lao chao trong ḷng một niềm vui khôn tả nào đó đến nổi ch́m vào giấc ngủ lúc nào tôi không biết.

Dĩ nhiên sau khi tôi đă trả lời xác nhận rỏ ràng tin này với Thọ th́ cả tuần sau đó, với tôi là một khoảng thời gian đợi chờ dài tới cổ, như kiểu “ Sao Chưa Thấy Hồi Âm ” của Châu Kỳ vậy. Rốt cuộc Thọ đă bật mí gởi kèm lại vỏn vẹn chỉ ít ḍng:

- Vậy là hay quá, bây giờ C. có thể Nối Lại T́nh Xưa rồi đó.

Kèm theo đó là thư của X.Trường qua e-mail:

“ Thân gửi anh Thọ,

Chúng tôi có người bạn, sau khi đậu tú tài 1967, sang Nhật học, tên Cường (Lê Tiến ?). Như anh có cho biết anh Cường đă sang Canada hay Mỹ.

Nếu anh có địa chỉ email của Cường, anh thử hỏi xem có phải anh Cường đă học lớp đệ nhất B6 Pétrus Kư năm 1966-1967, có quen bạn tôi Nguyễn-Tấn-Đức và tôi Hoa -Xuân-Trường. Nếu đúng, anh nhắn Cường có thể liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ email trên. Cảm ơn anh nhiều. Thăm anh chị và gia đ́nh. Thân chào.

Hoa Xuân Trường

Chuyện khó tin nhưng có thật của sau 55 năm tha phương cầu thực, hơn nữa đời người chứ ít ǵ, vậy mà không ngờ ngày hôm nay ba anh em chúng tôi, một thằng th́ bên Berlin, một thằng tận măi bên Viêt Nam cùng với thằng tôi đây đă không ngộ mà có cái duyên nối ôn lại những t́nh cảm cũng như những câu chuyện học tṛ tuổi đôi mươi dưới mái trường thân yêu Pétrus Kư ngày nào.

Wow !! Quả đất coi vậy mà cũng nhỏ thật! Cảm ơn đời và Thọ nữa đă tạo nên cơ duyên không ai biết được chữ ngờ này.

Thế rồi, xuôi ngược chuyện xưa chuyện cũ bồi hồi chợt nhớ lại chuyện ngày xưa, tôi vẩn không tin rằng thấp thoáng ḿnh đă vô t́nh bỏ quên đi bao năm tháng xa rời quê hương, cha mẹ và mồ mă Ông Bà Tổ Tiên ấy để đi ăn học và t́m cuộc sống mới nơi xứ người, trong đó là những việc học hành, thực tập và đi làm như bao nhiêu người dân bản xứ khác, và cho dù như đă tạm đủ hội nhập vào cuộc sống trên đất nước Phù Tang này để hành trang cho ḿnh một cuộc sống an định mới nào đó chăng đi nữa , thế nhưng, trong tôi như cảm thấy thiếu đi vấn đề c̣n lại trong tôi một vấn đề “tâm linh”, tạm gọi như vậy, là được về lại nơi quê cha đất tổ, một phần là để cảm tạ ḷng bảo ơn đối với các bậc cha mẹ đă nuôi dưỡng công sinh thành, đă đưa đẩy vận mệnh của ḿnh ra đi khỏi ṿng đai của cuộc chinh chiến khốc liệt nhất trên Quê Hương lúc bấy giờ và một phần chính là cũng muốn nh́n lại những cảnh vật, của mái trường xưa lối cũ mà tuổi thơ dại khờ của ḿnh đă sống qua. Tôi đă về thăm lại Quê Hương Việt Nam.

Với tôi th́ c̣n lạ ǵ chuyện ngồi xe máy lạnh hay ăn ngon mặc đẹp nơi xứ người, v́ thế trong những lần về thăm lại mẹ tôi và bà con bạn bè này là những cơ hội “vàng” để tôi tự t́m thấy tận mắt, nghe tận tai những câu chuyện thật về những cảnh đời đă thay đổi như thế nào của người dân ḿnh sau năm 1975.

Do đó trong những lần về thăm lại Việt Nam của tôi sau này là không bao giờ kế hoạch hay theo dơi những chương tŕnh của các tours du lịch quy định như kiểu “Cỡi ngựa xem hoa”, pḥng ốc điều hoà có máy lạnh hay những thực đơn “hoành tráng” thức ăn, mà chỉ thích đi ngao du đây đó một ḿnh, như kiểu người trong nước. Có thế tôi mới đích thật nghiệm ra được những thay đổi nào đang có trong con người Việt Nam hiện nay dù giàu hay nghèo, đẳng cấp chính trị “vẹm” hay thường dân bần cùng khổ đế cỡ nào cũng đều là những mục tiêu trong những chuyến đi về thăm lại Quê Hương cội nguồn của tôi sau gần ba thập niên qua.

Thưa các bạn trong cuộc đời mà, cơ duyên th́ nhiều nhưng phải nói có những câu chuyện thấm đậm t́nh người trong đời th́ mấy khi xảy ra và luôn làm ḿnh khó quên đi được.

Cái hôm ấy nhân lúc từ Huế vào lại Sàig̣n, vừa ra khỏi cổng phi trường, đang lưỡng lự chưa biết nên chọn phương tiện nào để về nhà th́ bổng từ đằng xa đi lại một ông lăo lịch thiệp tiến đến chào đón như người thân biết tôi từ trước:

- Cháu từ ở ngoải mới về phải không? Có ǵ cho bác đưa cháu về cho, ở đây họ nói thách lắm, yên tâm đi , bác chỉ lấy tiền cơm thôi cháu ”.

Theo quy chế (?) của phi trường th́ nh́n dáng phục của ông cụ này, trong chiếc áo choàng 3 túi với đôi dép “tổ ong” bằng cao su th́ khó ai đoán được ông là một người tài xế “lén chuồng” vào khu vực này để đón khách, trông dáng y như một người quen đi đón người thân từ xa về mà thôi.

Dưới cơn nóng gắt của buổi trưa hè oi ả ấy, tôi cùng người tài xế mới quen biết này kéo lê những hành lư ra khỏi vùng “cấm địa” của phi trường để ra tận băi đậu xe tuốt bên kia lề đường, lúc ấy tôi mới hiểu thêm những khó khăn vất vả nào mà người tài xế “già” này phải trải qua những thử thách nào để mưu sinh cho cuộc sống !.

Tôi nhanh trí chụp vội ngay mấy tấm ảnh này trong khi bác tài vui sướng hănh diện vừa chỉ chỏ vào chiếc xe kể lễ:

- Cháu biết không? bác phải sơn đi sơn lại mấy lần chiếc Peugeot cũ kỹ này đấy, do một ông chủ người Pháp để lại cho bác mà nhờ nó hai vợ chồng bác cũng kiếm tạm được chút đỉnh qua ngày đó cháu à.”

Vừa dạ dạ gật gù lắng nghe cho có chuyện, mắt tôi không rời quan sát kỷ những dàn vành xe rỉ xét dưới những lớp sơn trắng đă ngă màu vàng úa lẩn lộn, bên trong nội thất của chiếc xe từ chiếc ghế nệm ngồi đến các lớp đệm trong những cánh cửa được che lấp hàng loạt những băng dáng cũ kỹ mang đến trong tôi những cảm xúc khó tả, y chang như đang nh́n những bảo vật xe hơi thời cổ 50-60 có khác.

Cũng giống như một số kiểu xe hơi đời xưa như Volwagen, Simca Fiat hay Peugeot của Pháp th́ ngược lại, ngoại h́nh toàn bộ máy móc của chiếc xe thường được nằm đằng sau và thùng xe chứa đồ th́ nằm phía trước này lại không đủ chỗ để có thể để lọt vào hai chiếc valise cỡ nhỏ vào. Cho nên dù biết trước không mấy an toàn cho người lái nhưng tôi cũng đành phải để chiếc hành lư của tôi c̣n lại ngay bên cạnh bác tài và cũng không buồn muốn t́m hiểu sợi dây cột an toàn đang nằm chỗ nào nữa mà chỉ biết im lặng thích thú quan sát nh́n lên nơi gốc cánh cửa bên tay mặt là một khung cửa kính h́nh tam giác để xoay vào, đẩy ra để đưa gió vào trong xe, ngộ nhất là trên kệ bảng đồng hồ chỉ cây số ( dashboard ) là một cái hộp sắt nhỏ mở lên đóng xuống để gạt tàn thuốc. Thú vị nhất là khi đến những ngă tư đường, bác tài phải đưa cánh tay ra ngoài hay để tay trên trần xe để ra dấu hiệu quẹo trái hay phải trên con đường ḿnh đang đi. Ngầu hơn cả đó là tiếng kèn xe đều được phát ra do bác tài phải luồng tay dưới kệ tay lái để bóp nhiều lần vào một ống tay cầm bằng cao su. Dễ h́nh dung nhất là y chang như những kèn xe của chiếc xe lô ba bánh ngày xưa vậy!

Trăm nghe không bằng một lần thấy, thú thật lúc ấy nếu không nhanh trí để chớp lại những h́nh ảnh này th́ giờ đây tôi không biết ḿnh phải trả một cái giá như thể nào để có thể t́m lại những giây phút được nh́n thấy “ Cảnh, vật và người xưa” với ông lăo tài xế này nữa đây ?

Lâng lâng một chút cảm xúc như vừa chớm lên trong ḷng tôi như đă t́m thấy được niềm vui nho nhỏ nào đó cho ông lăo tài xế này được trọn vẹn trong cái cơ duyên bất chợt về “ T́nh Con Người ” này nữa đây!

Cũng trong một lần 2007 sau ba năm về thăm ấy, sau khi ăn sáng xong cùng với mẹ tôi và để chuẩn bị những thứ cần thiết cho ngày mai ra Nha Trang, tôi cùng cháu Xuân, một người cháu ở dưới quê lên sinh sống chung với mẹ tôi ở Sàig̣n bấy lâu nay, cùng nhau đi ra khu chợ Thái B́nh, ngă tư Cống Quỳnh và Nguyễn Trải để nhờ nó chỉ chỗ mua ít thứ lặt vặt như quần tắm, dép đi biển..

Vừa ra khỏi cổng chợ tôi bảo ngay với cháu Xuân:

- Thôi con về để lo đi chợ, và lo cơm nước với bà đi, hôm nay có lẽ cậu không về ăn trưa v́ cũng muốn đi bộ xuống khu chợ Bến Thành, hay đi quanh đâu đó rồi ghé mấy tiệm sách gần đó cho biết ấy mà, con yên tâm về với bà đi nghe.

- Trời ơi, từ đây về đó xa lắm cậu ơí, cậu hăy lấy cái Taxi đi cho nhanh, mà trời sắp trưa rồi nóng ghê lắm, mà cậu cũng coi chừng nghe, ở bên này đi ngơ ngơ là dễ bị giựt bóp như chơi đó.

Tôi vội trấn an nó: “Con yên tâm, lo về với bà đi, nếu nắng lắm th́ cậu sẽ kêu Taxi. Dễ thôi mà” .

Vừa nói tôi vừa cầm nh́n vào tấm bản đồ mới mua trong chợ để định hướng chốc nữa đây sẽ lát bộ tà tà dọc theo đường Phạm-Ngũ-Lăo để ṿng ra khu vực đường Nguyễn-Huệ, chợ Bến Thành, nghĩ là vậy nhưng trong bụng tôi vẩn thấy lo lo v́ đây là lần đầu đi “ thám hiểu ” một ḿnh không một người nhà quen biết. Nhất là nghe nói khu chợ này là khu vực b́nh dân khá hổn tạp.

Vừa chia tay người cháu, chả biết sẽ đi đâu nhưng tôi cứ rảo bước tà tà dọc theo phố Phạm-Ngũ-Lăo để đến gốc ngă ba Cống Quỳnh th́ chợt nghe một giọng nói mời mọc từ một người phu xe xích lô:

- Ông bạn ơi, đi đâu vậy, trời nóng lắm, lên xe đi tui chở đi cho, cho bao nhiêu cũng được”.

Nh́n người đàn ông trông luống tuổi, tôi vội đáp nhanh không suy nghĩ: “ Không sao chú à, tôi muốn đi một chút để cho biết đường xá đó mà”.

Ngoài trời cơn chiếu nắng lại tăng dần theo giấc trưa, đi xích lô th́ bụi bặm lắm, vừa nghĩ bụng, tôi vừa bước nhanh vào một cửa hàng bán đồ trang sức quen biết gần đó như để tránh đi lời từ chối quá đột ngột của người phu xe này.

Cũng không may trong thời gian này, tại Việt Nam việc đổi tiền bị cấm không được chính thức tự do mua hay bán tiền tệ nước ngoài ở những cửa hàng tư nhân mà phải qua những cơ quan ngân hàng được ấn định , đó là quy định “không luật mà lệ” ở bên nhà, tôi biết trước chuyện này, nên chẳng quan tâm, mà chỉ biết đến gặp riêng một người quen trong tiệm vàng này, làm xong vài thủ tục hóa đơn “bạc lẻ” cho lấy lệ, kiểm lại tiền thật hay giả và cẩn thận hơn nữa là tôi phải vào trong toilet để cất dấu những loại tiền “lộng lưng” này vào bên trong áo lót, b́nh thường th́ những công việc này tôi hoàn toàn hay ủy thác cho người nhà nếu có ai đó cùng đi chung.

Vừa bước ra khỏi cữa tiệm, tưởng như đă quên nhưng chợt nghe lại tiếng leng keng, tôi hơi ngạc nhiên và chột dạ nh́n về hướng ngoài đường với chiếc xích lô và người phu xe lúc nảy, lần này hơi khác, với cái phẩy tay chào tỏ ra thân thiện và mời mọc hơn cũng làm tôi xiêu ḷng, bèn tiến đến bên chiếc xích lô ấy và nói như nửa lời thối thác: “Nảy giờ tôi cũng muốn đi xe cho chú, nhưng ngại thấy vừa trời nóng lại vừa bụi nữa”.

- Chú hai đừng lo, tui kéo tấm màn này lên là che nắng và tui sẽ chạy chậm ngang mấy đường có bóng cây, chú đừng lo, à mà chú hai muốn đi đâu tui chở đi cho, trưa rồi nắng lắm, lên ngồi đi.

Tiến đến gần hơn nữa, tôi mới kịp nh́n kỹ nước da ngâm đen v́ mưa nắng để lộ cả hàm răng móm, dù chỉ c̣n đôi ba cái, dù chưa biết rỏ ư định của tôi như thế nào nhưng người phu xe ấy vẩn cúi xuống lom khom vừa phủi bụi lại tấm vải nệm ghế ngồi đă phai màu, vừa tía lia mời mọc:

- Chú hai lên đi, Trời, có muốn đi đâu tui chở cũng tới được cả mà, cả Sàig̣n này ở đâu tui mà không rành, gần 50 năm rồi …”.

Phân vân chưa có quyết định ǵ, nhưng khi nh́n lại khuôn mặt xạm nắng chai đen trong đôi dép “tổ ong” trông hẳn thật già nua trước tuổi, tôi mũi ḷng bước đến bên xe hỏi vọng: “ À chú nè, từ đây lên khu B́nh Hương Ḥa ở quận B́nh Tân có xa lắm không?, rồi từ đó qua bên trường Pétrus Kư có xa không?..đâu đó có mấy tiệm sách ǵ lớn hay lạ không ? ”.

Vừa trả lời rất có bài bản, vừa sợ tôi đổi ư “ Tư ” hóm hỉnh vội mời níu tôi lên xe, kéo chiếc màn che lại cho bớt nắng, vừa cười vừa nói liên miệng:

- Chú hai yên tâm đi, qua làm kiếm sống cái nghề chạy xe ngoài đường này đă hơn 3,4 chục năm rồi chỗ nào mà không biết, chạy xe đ̣, làm taxi đủ cỡ rồi, chú yên tâm qua sẽ chở chú đi bất cứ nơi nào chú muốn hé, rồi khi nào xong chú cho qua bao nhiêu, qua cũng nhận cả, chú yên tâm đi đừng lo, bộ ở bển mới d́a hả ?..”.

Thế là hôm ấy, tôi coi như là một vị khách đầu tiên mở hàng cuộc du hành trên các đường phố Sàig̣n bằng chiếc xích lô mộc mạt của người phu xe xích lô này.

Ngoài trời những cơn nóng gay gắt hừng hực lên từ mặt đường, “Tư” kỷ lưỡng vội kéo lại những màn che hai bên thành ghế vừa cho chiếc xe chầm chậm quay đầu chuyển bánh đưa tôi ra khỏi con hẻm nhỏ của khu chợ Thái B́nh, rồi dí dỏm thăm hỏi xă giao mở đầu câu chuyện:

Tôi - tên là Tư, hồi trước tôi hay chạy xe đ̣, công ty bị đổi chủ, đóng cửa nên sang chạy Taxi rồi từ ngày vợ tôi đau bệnh nên phải bán chiếc xe ấy để chữa bệnh cho vợ tui, rốt cuộc bây giờ vốn liếng chỉ c̣n chiếc xe ba gát này để chạy kiếm sống thôi, khổ lắm anh hai, mà bây giờ nhiều hảng Taxi với xe ôm đủ loại tụi nó chạy đầy đường nên không biết cuộc sống nay mai sẽ ra sao nữa đây, khổ lắm, tui nói thiệt mà.”

Về lại đây cũng nhiều lần, dường như tôi đă quá quen thuộc khi nghe những điệp khúc “không hỏi mà khai”, nôm na là những lời than thở của nhiều người dân trong nhiều bối cảnh khác nhau, từ những buổi họp mặt riêng trong gia đ́nh, ngồi lê cà phê ăn sáng, trong quán nhậu buổi chiều tối với người thân, cho đến người chạy lái xe ôm, người gát cổng chung cư, là nơi mẹ tôi đang ở, đâu đâu cũng đều là những câu chuyện buồn “than văn” không đoạn kết của người dân, và hôm nay câu chuyện “ Tự Truyện của Tư ” này không c̣n là ngoại lệ, như để họ có cơ hội tuôn trào những cảm xúc buồn khổ trong cuộc sống của ḿnh cho tôi nghe.

Rời khỏi ngă ba Cống Quỳnh, Phạm Ngũ Lăo đổ ra ga xe lữa gần chợ Bến Thành đi tới đâu và qua mỗi di tích đường phố xưa của Sàig̣n nào Tư cũng đều giải thích khá cặn kẻ như một người từng làm hướng dẩn du lịch lâu năm. Xen kẻ những lời hướng dẩn về những di tích nào Tư cũng thường kèm theo những câu chuyện về bối cảnh của gia đ́nh ḿnh nói riêng và của người dân lao động nghèo khó nói chung đă thay đổi như thế nào sau 75. Càng lúc câu chuyện qua lại giữa tôi và Tư bổng vô t́nh trở nên thân thiện ǵ lạ.

Cho dù đó là những câu chuyện thật hay hư cấu “Cá sống v́ nước” để lấy ḷng khách hàng đi chăng nữa, nhưng lúc ấy trong mắt tôi, Tư là một người rất nhiệt t́nh và chất phát trong từng câu chuyện kể.

Băng qua nhiều đường phố “lạ” của Sàig̣n mà trước giờ tôi chưa bao giờ nghe biết đến, cuối cùng chúng tôi cũng đă lặn lội đến điểm hẹn trong chương tŕnh dự định chính của tôi kỳ này là cuộc viếng thăm căn nhà Làng May Mắn của cô Tim Aline Rebeaud.

Như các bạn hữu cùng quư mạnh thường quân toàn cầu đều biết, có thể nói sau cuộc hành tŕnh gây quỹ lần đầu tiên và lớn nhất lịch sử ở hải ngoại của Tim vào mùa thu 2008 tại các quốc gia ở Úc, Canada, Mỹ như Toronto, Ottawa, Montréal, Calgary, Vancouver và liên tục sang đến các tiểu bang Washington D.C, Texas, Philadelphia, San Fernando & San Jose CA là những thành quả rất đáng kể góp phần xây dựng thêm những cơ sở hạ tầng từ Nhà May Mắn (1993) nâng cấp lên đến Trung Tâm Chấp Cánh (2006), Làng May Mắn (2011) và sau cùng là Nhà May Mắn tại tỉnh Đă´K Nông được xây dựng lên từ năm 2016 nhưng đến cuối năm 2019 mới đă bắt đầu đưa vào giai đoạn sử dụng để đón nhận thêm trên 200 thành viên gồm trẻ em mồ côi, thành niên khuyến tật và các học sinh nghèo gốc người đồng bào thiểu số.

Nói đến sự phát triển quá gian nan và nhiều biến động cực kỳ gian khổ sau gần 27 năm làm thiện nguyện của Tim tại Việt Nam, th́ phải nói cả nhóm t́nh nguyện viên ( David Lộc, Nhung, Nhă, Mai, Phong, Bistro Dũng, Duyên, Sỹ, Trung-Lan, Chiến và vợ chồng Wayne-Kim…) ở Toronto chúng tôi cũng không tài nào có thể kể hết những hành tŕnh gian truân cực khổ của Tim kể từ những năm 1993 đến nay, không chỉ khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, mà cả từ thể chất lẫn tinh thần của hàng trăm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa nữa.


Trong đó những kỷ niệm không quên được với Tim th́ rất nhiều và sôi nổi nhất vẩn là những giây phút chuẩn bị tổ chức cho những buổi tiệc gây quỷ trong những chuyến đồng hành. cùng Tim qua các thành phố Toronto,Ottawa và Montréal…

( Buổi tiệc bán đấu giá những bức tranh của thành viên Nhà May Mắn cùng với a.Nguyễn-Ngọc-Ngạn ).

 

 

Thế rồi, hai năm sau đó sẵn việc về thăm gia đ́nh, tôi cũng ghé lại thăm ngôi Nhà May Mắn lần thứ hai này, nhưng không muốn báo trước cho Tim biết, một phần biết trước Tim luôn bận bịu từ việc trong nhà lẩn chuyện đối ngoại, một phần tôi cũng muốn Tim coi ḿnh như là một thành viên trong gia đ́nh. Thuần túy như một người hàng xóm chợt về ghé qua thăm mà thôi.

                  

Hiểu được nhau điều này, nên hôm đó dù đang bận họp với một số khách từ nước ngoài, nhưng Tim cũng chạy ra vui mừng đón chào vài câu thăm hỏi, hẹn gặp lại sau buổi meeting rồi chuyển tôi sang cuộc tham quan kỳ này với cô Chi (Ban Thư Kư Hành Chánh) và a.Thưởng ( Quản Lư Xây Cất ) hướng dẩn tôi đi xem toàn bộ các khu nhà đang tân trang và xây cất cho những lô nhà mới gọi tên là Trung Tâm Chấp Cánh và Làng May Mắn là hai trung tâm mới được khánh thành khoảng 2011 sau này. Về địa h́nh cũng không cách xa lắm với ngôi Nhà May Mắn khoảng 1,2 km, là cơ sở chính đầu tiên khi Tim mới bắt đầu cuộc hành tŕnh mà tôi hay tạm gọi như “L’amour Sans Frontière” này từ năm 1993.

( A.Th́n.Quản Lư Gia / Nhà May Mắn ).

Trong suốt gần hai tiếng đồng hồ trôi qua cuộc tham quan kỳ này đă để lại trong tôi quá nhiều cảm xúc khôn tả, vui buồn lẩn cả muôn ngàn tuổi thương cho hàng trăm trẻ em mồ côi dưới mái nhà t́nh thương này. Và nếu không có sự đùm bọc quá phi thường và đầy dũng cảm t́nh người của Tim th́ số phận tương lai của những vị thành niên bệnh tật và trẻ em vô tội này sẽ đi về đâu là những câu tự hỏi luôn măi trong ḷng tôi hoài.

Nh́n Tim trong nổi vui mừng khi gặp lại, vẩn luôn nụ cười đầy lạc quan cũng làm tôi an ủi phần nào, lẩn một lời cầu nguyện trong tâm tôi sao cho sức khỏe của Tim luôn được vạn toàn là điều mà mọi người nói chung đang luôn măi mong đợi ước mơ nhiều nhất. Giống như cô Chi trong vai quản lư tài chánh của Tim từng nói: “ Tui cũng chỉ mong sao cho Tim phải giữ ǵn thêm cho sức khỏe của cổ nữa, anh coi đi, cổ làm việc suốt cả ngày nhiều khi cả chuyện quên ăn, rồi tối khuya lại cũng phải làm việc qua mạng với ân nhân nước ngoài đó, bởi giờ giấc bên đó khác thường lắm…”

https://maison-chance.org 

YOUTUBE PAGES

https://www.youtube.com/c/MaisonChanceVideo 

Chia tay Tim cùng với các cộng sự viên Nhà May Mắn th́ trời như đă sập chiều tối, chúng tôi tiếp tục lộ tŕnh c̣n lại trong ngày là trở lại khu vực trong trung tâm thành phố để ghé vào một tiệm ăn để giải khát luôn thể : “ Hồi nảy xin lỗi nghe, đợi tui chắc lâu lắm ? ”.

- Trời, có ǵ đâu anh, nghề tui mà.

Tư trả lời cho có lệ rồi đưa mắt chăm chú hướng nh́n lên TV đang phát ra những bản nhạc khá quen thuộc, có lẽ của các băng nhạc do PBN th́ phải?

Tôi vô tư kêu gọi thêm các món ăn để mời Tư no bữa : “ Hôm nay đi với tui chắc ông mệt lắm, thong thả lai rai nghe”.

Tư không rời đôi mắt trên TV:

-Trời, cảm ơn anh nhiều nha, tui thích nghe mấy bản này lắm, nhớ hồi c̣n đi lính, giờ nghe hoài cũng không chán anh ơi. Anh biết không, tui cũng phục vụ gần bảy năm bên bộ binh, mấy lần bị tụi nó pháo kích tưởng chết rồi chứ may thiệt ”.

Như cố lơ đễnh chuyện buồn nào đó mà Tư sắp kể tiếp, tôi nh́n lên về hướng TV tiếp lời : “ Có vẻ ông thích mấy băng đĩa bên hải ngoại này lắm hả? Khoái nghe cô ca sĩ nào hát nhất vậy?

- Tui khoái nghe nhất là Hương Lan và Ngọc Huyền. Lâu lâu cũng có kèm theo mấy câu ḥ căi lương nghe đă lắm. À chút nữa trên đường về tui chỉ anh coi sau khu nhà hát lớn gần đây này, mấy đoàn văn nghệ nước ngoài hay về đây tŕnh diễn hoài à, mấy lúc đó là tui hay lén đứng ngồi phía cửa sau này để đón chờ khách là nghe rỏ lắm. Nhà đâu có máy truyền h́nh đâu anh, lại cũng đỡ có quen mấy đứa c̣ bảo vệ là bạn tui ở cùng xóm đó anh, nên đâu có bị đuổi phải đứng đằng xa nghe chán chết.

Tôi thôi thúc Tư: “ Trời sắp tối rồi, thôi anh cần thêm món ǵ nữa kêu tiếp nha. Đừng làm khách nghe. “

-Trời, nhiêu đây ăn hổng hết đâu, có ǵ chút nữa tui đem về cho đứa con gái tui , chắc nó mừng lắm.

Vừa lúc kêu người hầu bàn ra tính tiền, một thằng bé khoảng trên dưới 11,12 tuổi quay mời chúng tôi mua vé số. Tôi đưa nh́n qua phía Tư : “ Anh lựa mua giúp lấy cho nó ít xấp đi, biết đâu”. Và không để Tư kịp thối thác: “ Anh lấy giúp nó đi, đây là tiền xe hôm nay của anh đó ”. Tư cười lựa vội mấy cặp vé số lấy hên cùng tôi bước ra lề đường.

Trời đă bắt đầu có những cơn gió nhẹ thổi thoáng qua, làm cho cơn nóng oi ức ban trưa ấy tan dần báo trước một ngày nữa sắp sữa lại trôi qua và thể theo lời yêu cầu cuối cùng của tôi trong cuộc hành tŕnh, chúng tôi cùng nhau ghé qua gian hàng bánh baguette Kim Lan, một tiệm bán bánh trái đủ thể loại có tầm cỡ của Sàig̣n, nằm cách gian hàng này độ ba bốn căn phố là nhà sách Khai Trí khi xưa trên đại lộ Nguyễn Huệ, phía bên kia đường là rạp hát Vĩnh Lợi xưa kia để tôi lựa mua một chiếc bánh kem sô cô la và một khoanh bánh Pizza rồi sau đó cùng Tư lăn bánh trở về khu vực chợ Thái B́nh, nơi ngôi nhà của chung cư Nguyễn Trải, mà mẹ tôi và cháu Xuân đang chờ tôi trong bữa cơm chiều.

Biết phút chia tay đă gần kề, Tư như quyến luyến mời gọi:

- Ngày mai anh ra Nha -Trang bằng xe đ̣ hay tàu lữa vậy? Khi nào anh vô lại đây kêu em đưa anh đi công chuyện nha, được không? Tui biết chỗ anh ở rồi đó mà..

Tiến vào đến gần kề bên thang cấp của căn hộ, tôi quay lại chào Tư một lần cuối trong niềm vui pha lẩn chút cảm xúc khi nh́n thấy Tư vẩn c̣n đứng yên chỗ cũ, trên tay cầm số tiền mỉm cười vẩy tay chào lại từ giả tôi, cạnh đó trên chiếc nệm xe là hộp bánh kem và khoanh bánh pizza đang chờ đợi Tư mang về làm quà cho đứa con gái thân yêu của ḿnh được một ngày vui bất ngờ.

Mùa Xuân tháng 03/2022

......

* Bài đă đăng trên ERCT :

 ERCT hay Exryu Cuối Tuần là một trang báo được thành lập do một nhóm anh chị em cựu sinh viên du học tại Nhật Bản phụ trách hơn 20 năm nay.

Chủ yếu là tập hợp rất nhiều bài vỡ trên mọi lănh vực từ khoa học, thơ văn và thời sự văn học lịch sử của Nhật Bản cho đến những bài vở, tập truyện dịch thuật Nhật-Anh-Việt , đặc biệt là cho thế hệ trẻ ngày nay đang muốn t́m hiểu những ǵ về Nhật Bản. Xin mời đón đọc trên trang nhà: : http://www.ERCT.com