|
|
KỶ NIỆM 40 NĂM NHẠC TRẺ VIỆT NAM NH̀N LẠI NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA PHONG TRÀO NHẠC TRẺ VIỆT NAM
TRƯỜNG KỲ
Để tặng tất cả các bạn cùng
hoạt động trong “một thời nhạc
trẻ”, từ những ngày đầu. Thấm thoát đă trên đưới 40 năm, kể từ ngày phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam được h́nh thành vào đầu thập niên 60 tại nam Việt Nam, với điểm phát xuất chính là Sài G̣n. Thật ra trước đó vào cuối thập niên 50, phong trào đó đă bắt đầu nhen nhúm. Nhưng phải đợi đến những năm 63, 64 nhạc trẻ mới thật sự gây được chú ư nơi những người trẻ tuổi cùng một lúc với sự phát triển của phong trào này tại những quốc gia như Pháp, Hoa Kỳ, Anh Quốc cùng nhiều quốc gia Aâu Mỹ khác. Nói đến nhạc trẻ, hầu như ai cũng liên tưởng đến Hoa Kỳ là nước khai sinh ra nhạc Rock, nhạc Pop - vào thời đó được gọi một cách tổng quát là kích động nhạc và sau đó là nhạc trẻ - là loại nhạc được những người trẻ tuổi ưa thích. Và cũng chính Hoa Kỳ là nước đầu tiên đă dấy lên làn sóng nhạc trẻ khắp nơi trên thế giới. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam vào năm 2004, bài viết này mời bạn đọc quay về những ngày đầu tiên với những giai đoạn quan trong đă gây nhiều ảnh hưởng đến phong trào này, trước khi hội nhập vào ḍng âm nhạc Việt Nam... 1- ẢNH HƯỞNG NHẠC PHÁP TRONG PHONG TRÀO NHẠC TRẺ VIỆT NAM Do một bối cảnh lịch sử và xă hội đặc biệt với sự có mặt của người Pháp trên một trăm năm, Việt Nam đă chịu ảnh hưởng ở nền văn hoá của quốc gia này một cách nặng nề. Chỉ riêng trong lănh vực ca nhạc, thế hệ đi trước đă mê mệt với những tên tuổi như Tino Rossi, Josephine Baker, Edith Piaf, vv... Rồi dần dần đến lớp sau với nhiều danh ca khác. Đặc biệt, về phía nữ ca sĩ trong thời kỳ này, người có ảnh hưởng hơn cả vào cuối thập niên 50 tại Việt Nam không ai khác hơn là Dalida, một nữ ca sĩ Pháp gốc Ai Cập, từng đến Sài G̣n vào năm 1958 và đă qua đời cách đây khá lâu. Những người yêu nhạc chắc chắn không thể quên được những nhạc phẩm đă gắn liền với tên tuổi Dalida như: Bambino, Parlez-Moi D’Amour, Gondolier, Romantica, Dans Les Rues De Bahia, Histoire D’Un Amour, Romantica, Ciao Ciao Bambina,vv... Người ta cũng thể không nhắc tới Charles Aznavour, người nam ca sĩ gốc Armenian với rất nhiều nhạc phẩm quen thuộc, trong số có Et Pourtant, La Bohême, Que C’est Triste Venise, Désormais, vv... Thêm vào đó là một lực lượng đông đảo những giọng ca tên tuổi khác như Gilbert Becaud, Juliette Greco, Charles Trenet, Yves Montand, ...trong những thập niên 40, 50 đă tạo được một ảnh hưởng lớn mạnh nơi thế hệ cha anh cho đến khi người Pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1954. Tuy vậy ảnh hưỏng có tính cách văn hoá đó vẫn c̣n tồn tại mặc dù việc du nhập những sản phẩm văn hoá phương Tây vào Việt Nam không c̣n ồ ạt như trước đó.
Qua đến những năm đầu thập niên 60, khi có sự xuất hiện của những thần tượng trẻ trên khắp thế giới, nền ca nhạc của Pháp đă được du nhập vào Việt Nam, đúng ra là Sài G̣n, qua vài cửa tiệm bán sách và đĩa nhạc, chẳng hạn như nhà sách Albert Portail ( tức Xuân Thu sau đó ) và tiệm bán đĩa nhạc Anna trên đường Lê Lợi. Cùng một lúc những đĩa nhạc và sách báo c̣n được du nhập vào Sài G̣n từ những học sinh theo học chương tŕnh Pháp tại các trường như Jean Jacques Rousseau, Marie Curie, Taberd, Saint Paul hay Couvent Des Oiseaux, vv...Do chịu ảnh hưởng nặng nề lâu đời của nền văn hoá Pháp, nhạc Mỹ chưa có chỗ đứng tại Việt Nam trong thời kỳ này cho đến khi theo những người lính GI’s đặt chân đến miền nam Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 60 với những chương tŕnh ca nhạc truyền thanh và truyền h́nh dành cho quân đội Hoa Kỳ. Trong khi đó những tên tuổi của làng nhạc trẻ Pháp Quốc đă trở thành những thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Chẳng hạn như Sylvie Vartan. Người nữ ca sĩ Pháp gốc Bulgarie với mái tóc cắt ngắn vén ra sau hai bên tai đă trở thành khuôn mẫu thời trang cho giới trẻ Pháp Quốc và miền namViệt Nam, đặc biệt nơi những thành phố lớn như Sài G̣n, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ, vv...”Mái tóc Sylvie” đă là một biểu tượng của giới trẻ yêu nhạc thời trang được goị là những yéyés. Những nhạc phẩm do Sylvie Vartan tŕnh bày như Tous Mes Copains, Locomotion, Quand Le Film Est Triste, , vv...đă nhanh chóng được các ca sĩ nhạc trẻ Việt Nam cất tiếng hát. Một thời gian sau, Sylvie Vartan vẫn tiếp tục làm mưa làm gió với những : La Maritza, La Plus Belle Poyr Aller Danser, Si Je Chante, Moi Je Pense Encore A Toi, vv... Trong số những nữ ca sĩ của nhạc trẻ Việt Nam trong thời kỳ đầu tiên này có Nicole Piétri và Hélena được coi là 2 giọng ca nữ tiên phong của nền nhạc trẻ Việt Nam. Cả hai đều là nữ sinh Marie Curie, từng hợp tác với nhiều ban nhạc trẻ qua những nhạc phẩm lời Pháp. Tuy nhiên Nicole Piétri chỉ xuất hiện trong một thời gian rất ngắn ngủi để sau đó lên đường về Pháp. Chỉ c̣n lại Hélena, một thời là ca sĩ chính của ban nhạc The Teddy Bears. Helena đă gây được nhiều chú ư trong buổi dạ hội mừng Cách Mạnh Thành Công do Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tổ chức vào đầu tháng 11 năm 1963, sau khi được chính tướng Tôn Thất Đính mời khai mạc buồi dạ vũ. Helena sau đó một thời gian cũng lên đường sang Pháp và hiện cư ngụ tại Paris. Buổi đại nhạc hội tổ chức tại nhà hàng Đại Kim Đô này được coi như cái mốc quan trọng của phong trào nhạc trẻ Việt Nam với sự tham dự của nhiều ban nhạc trẻ nổi tiếng nhất thời đó là Les Vampires, Les Fanatiques, The Black Caps, The Rockin’Stars, The Teddy Bears, vv... Nếu Sylvie Vartan tạo được cho ḿnh một h́nh ảnh đẹp với “mái tóc Sylvie” và cái miệng xinh xắn để lộ hai chiếc răng cửa như răng thỏ rất dễ thương th́ Francoise Hardy với dáng dấp cao và gầy g̣ cùng một vẻ trí thức, đă chinh phục được giới trẻ Việt Nam với cặp mắt kính gọng đen và mái tóc dài xơa hai bên bờ vai. Những nhạc phẩm do cô tŕnh bày như Tous Les Garcons Et Les Filles, J’Suis D’Accord, Le Temps De L’Amour, Mon Amie La Rose, Ton Meilleur Ami, Qui Aime – T- Il Vraiment, vv...đă trở thành những “hits” rất được giới trẻ yêu thích tại Việt Nam. Liền sau đó ở Sài G̣n đă có thêm một giọng ca nữ tên Francoise Hằng, cũng với mái tóc xơa dài và cặp kính gọng đen, chuyên tŕnh bày những nhạc phẩm của thần tượng ḿnh là Francoise Hardy. Vài năm sau là sựỉ xuất hiện của Thanh Lan, được coi như giọng ca nữ tŕnh bày những nhạc phẩm lời Pháp chuẩn xác nhất. Cô nữ sinh Marie Curie này được coi như một đóng góp đáng kể trong thời kỳ đầu tiên của nền nhạc trẻ Việt Nam là thời kỳ c̣n mang tính cách hoàn toàn tài tử cho đến khi xuất hiện những Club dành riêng cho quân nhân Mỹ trong các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Sài G̣n và rải rác khắp miền nam ViệtNam. Ngoài ra c̣n phải kể đến những giọng ca nữ của Pháp rất được mến mộ trong những năm đầu thập niên 60 như Sheila với nhạc phẩm L’Eùcole Est Finie. Nhưng phải đợi đến khi nhạc phẩm Bang Bang được chuyển sang lời pháp từ nhạc phẩm cùng tên của Mỹ do Cher tŕnh bày trước đó, th́ tên tuổi Sheila mới nổ bật. Hoặc một nữ ca sĩ trẻ của Pháp khác là France Gall, với những nhạc phẩm Ne Sois Pas Si Bête, Attends Ou Va T’En và nhất là Poupée De Cire Poupée De Son, vv...một thời đă trở thành thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Đó cũng là những nhạc phẩm đă gắn liền với tên tuổi của “France Gall Việt Nam” là Berthe Ngọc Bích, một nữ sinh trường Saint Paul, từng được bầu là giọng ca nhạc trẻ dễ thương nhất của Teenager’s Club vào năm 1965. Berthe Ngọc Bích chính là Bích Trâm, vợ nam tài tử Nguyễn Chánh Tín. Về phía nam ca sĩ, nếu từng theo dơi sinh hoạt nhạc trẻ Việt Nam từ những ngày đầu, khó ai quên được tiếng hát của Jacky, ca sĩ chính của ban nhạc Les Vampires là một trong vài ban nhạc tiên phong ở Việt Nam. Nhạc phẩm Parce Que Tu Sais được coi như nhạc phẩm dính liền với người ca sĩ lai Pháp chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn trước khi trở về mẫu quốc. Cùng thời với Parce Que Tu Sais, c̣n có một số nhạc phẩm được tŕnh bày bởi ban nhạc trẻ Pháp nổi tiếng Les Chaussettes Noires đă trở thành những nhạc phẩm ruột của Công Thành, Elvis Phương, Paolo trong thời gian đầu tiên của nhạc trẻ Việt Nam như : Chérie, Oh Chérie!, Ca Ne Peut Plus Durer Comme Ca, Tu Parles Trop, vv... Như đă nói ở trên, hầu hết những ca sĩ trẻ xuất hiện trong những năm đầu tiên của nhạc trẻ Việt Nam xuất thân từ những trường Pháp Trừ một vài người, trong số có Cathy Kim Dung, một cựu nữ sinh Gia Long, do đó họ đă chú tâm vào việc tŕnh bày những nhạc phẩm lời Pháp, theo sự đ̣i hỏi của phong trào đang thời kỳ phát triển. Tại Pháp Quốc, Johnny Hallyday trở thành thần tượng – một “idole des jeunes” - của lớp trẻ yéyé, tuy nhiên ở Việt Nam anh lại không được ưa chuộng bằng những giọng ca nam như Christophe với nhạc phẩm Aline, từng gây sóng gió trong giới trẻ yêu nhạc tại Việt Nam cùng với một số nhạc phẩm khác như Les Marionnettes, Je Suis Parti, Tu N’es Plus Comme Avant, Main Dans La Main, vv... Một nam ca sĩ khác là Hervé Villard với những nhạc phẩm một thời khiến giới trẻ say me như Capri, C’est Fini, Mourir Ou Vivre, Fais La Rire, J’ai Envie, vv... cũng đă trở thành một ca sĩ được mến mộ rất nhiều... Phong trào yêu thích nhạc trẻ tại Pháp c̣n được sự hỗ trợ mạnh mẽ bằng sự ra đời của tạp chí ca nhạc đặc biệt dành cho giới trẻ là “Salut Les Copains” vào năm 1963, đánh dấu cho giai đoạn được gọi là yéyé, tạo thành một cuộc cách mạng về văn hoá lớn mạnh theo sát trào lưu tại các “siêu cường” về nhạc trẻ là Mỹ và Anh. Tuy nhiên phương tiện truyền thông thời đó tại Việt Nam c̣n quá eo hẹp nên giới trẻ tại đây chưa được tiếp xúc nhiều với nền ca nhạc của hai quốc gia này cho đến vài năm sau. Mang nặng ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp, dù sau đó có bị nhạc Anh hay Mỹ xâm nhập, nhưng một số giới trẻ Việt Nam h́nh như vẫn cảm thấy gắn liền với những Art Sullivan ( Ensemble, Adieu Sois Heureuse, Jenny Lady) , Michel Sardou ( La Maladie D’amour ), Claude Francois ( Belles, Belles, Belles; Comme D’Habitude, DonnaDonna, Si J’Avais Un Marteau ), Enrico Macias ( Adieu Mon Pays, La Femme De Mon Ami, Paris Tu M’As Pris Dans Tes Bras vv..), Pascal Danel ( Les Neiges Du Kilimandjaro), Claude Jerome ( Himalaya, La Petite Fille 73, C’Est Moi, vv...) Điểm đặc biệt những nhạc phẩm lời Pháp thịnh hành tại miền nam Việt Nam thời đó đa số là những nhạc phẩm t́nh cảm êm dịu, lăng mạn va thơ mộng với những lời ca giản dị, không chút cầu kỳ. Đặc biệt trong nửa đầu thập niên 70, mặc dù đang bị nhạc Mỹ và Anh thao túng mănh liệt cùng với sự xâm nhập càng ngày càng ồ ạt vào miền nam Việt Nam những băng đĩa và sách báo về nhạc, khác hẳn với t́nh trạng hiếm hoi đối với nhạc pháp trước đó. Nhưng những nhạc phẩm lời Pháp do Jean Francois Michael tŕnh bày vẫn mạnh dạn ra sức chống trả và tạo được thành công, trong số có nhạc phẩm Adieu Jolie Candy được rất nhiều người ưa chuông. Ngoài ra c̣n phải kể đến Je Veux Vivre Auprès De Toi, Si L’Amour Existe Encore, vv...Riêng với nhạc phẩm Adieu Jolie Candy, tiếng hát của Paolo, một học sinh trường Jean Jacques Rousseau đă tạo được cho ḿnh một chỗ đứng vững vàng trong số những nam ca sĩ tŕnh bày nhạc Pháp . Tiếng hát của Elvis Phương, một học sinh cùng trường Jean Jacques Rousseau với Paolo cũng gây được rất nhiều chú ư với nhiều nhạc phẩm lời Pháp nổi tiếng trong thời kỳ này, điển h́nh là Coupable. Một học sinh cùng trường với Elvis Phương và Paolo thuộc lớp sau, có một thời gian cũng đă được biết đến nhiều với những nhạc phẩm lời Pháp khi anh là ca sĩ chính của ban nhạc Crépuscule, đặc biệt với nhạc phẩm Adieu Sois Heureuse. Đó là Trọng Nghĩa. Trở lại năm 1964, tuần báo Kịch Ảnh ở Sài G̣n là tuần báo đầu tiên ở Việt Nam có sự xuất hiện một trang báo dành riêng cho lớp độc giả yêu thích nhạc trẻ với nhiều lời ca của những nhạc phẩm Pháp thịnh hành, xen kẽ với một số bài Anh và Mỹ. Trang “Teenager’s Club” trên tuần báo Kịch Aũnh tức “Trang Nhạc Trẻ” sau đó đă do người viết phụ trách trong nhiều năm. Theo hướng đi đó, nhiều tuần báo khác cũng khai thác những trang nhạc trẻ như Tiền Tuyến, Sống Chủ Nhật, Minh Tinh, vv...Nhờ vào những phương tiện truyền thông này, phong trào nhạc trẻ đă có cơ hội lan rộng đến khắp nơi. Đến khi những chương tŕnh nhạc trẻ được phát thanh trên các đài Quân Đội cũng như Sài G̣n, sự thu hút của những nhạc phẩm lời Pháp nơi lớp người trẻ tuổi đă trở nên rất mạnh mẽ. Qua những chương tŕnh đó, do những “clubs” bạn trẻ yêu nhạc thực hiện, ngoài những tên tuổi của làng ca nhạc Pháp Quốc đă được nhắc tới, c̣n những Michel Polnareff ( Love Me Please Love Me ), Adamo ( La Nuit, Mes Mains Sur Tes Hanches, Tombe La neige, Une Larme Aux Nuages, C’ Est Ma Vie, Inch Allah, vv...), Alain Barrière ( Elle Eùtait Si Jolie, Ma Vie, vv...), vv.....cũng đă trở nên quen thuộc với các thính giả trung thành của những chương tŕnh nhạc trẻ phát thanh với những ca khúc lời Pháp... Đề cập tới ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp, đặc biệt trong lănh vực ca nhạc tại Việt Nam, không ai quên được tiếng hát của Jo Marcel và Billy Shane. Đó là hai cựu học sinh trường Taberd Sài G̣n, tốt nghiệp cách nhau 6, 7 năm. Jo Marcel là một trong những nam ca sĩ tŕnh bày nhạc Pháp đầu tiên, trước khi phong trào nhạc trẻ xuất hiện khi anh cộng tác với một ban nhạc người Pháp để tŕnh diễn tại nhà hàng La Galère trong khách sạn Caravelle dưới tên Ngọc Minh. Sau đó anh trở thành một danh ca trong những nhạc phẩm t́nh cảm Việt Nam, và đặc biệt là những nhạc phẩm lời Pháp như Les Neiges Du Kilimandjaro, Merci Chérie, Elle Eùtait Si Jolie, Fais La Rire, vv... Vào đầu thập niên 70, Jo Marcel đứng ra điều hành một trung tâm phát hành băng nhạc với những chương tŕnh do chính anh thực hiện, trong đó những nhạc phẩm lời Pháp được thu thanh khá nhiều trên những băng nhạc đầu tiên. Cùng vào thời kỳ này một số băng nhạc trẻ ra đời với nhiều nhạc phẩm Pháp được chuyển thành lời Việt . Về phần Billy Shane, qua đời vào năm 1995 tại California, trở thành nổi bật trong những nhạc phẩm lời Pháp – nhất là với Love Me Please Love Me - vào năm 1965 khi c̣n là một học sinh chương tŕnh Pháp tại trường Taberd. Anh đă gây thật nhiều thích thú nơi những khán giả trẻ có mặt tại buổi Đại Hội Nhạc Trẻ đầu tiên tổ chức tại thính đường của một trường nổi tiếng nghiêm khắc và kỷ luật do các sư huynh ḍng La San cai quản. Một năm sau anh đă trở thành một tiếng hát lẫy lừng với những bài hát Mỹ và Anh khi giữ vai tṛ ca sĩ chính trong các ban nhạc trẻ nổi tiếng như The Spotlights và The Strawberry Four. Chỉ một thời gian ngắn sau, nhạc ngoại quốc lời Pháp không c̣n hạn chế trong giới học sinh trường Tây, mà đă lan rộng đến mọi tầng lớp người trẻ tuổi khác. Không kể chương tŕnh Đại Hội Nhạc Trẻ tổ chức vào tháng 11 năm 1963 tại nhà hàng Đại Kim Đô với đại đa số nhạc phẩm tŕnh bày bằng lời Pháp trước khán giả hầu như đều là những học sinh trường Tây cùng những vị tướng lănh chủ tọa mang ảnh hưởng nặng nề của nền văn hoá Pháp. Vào năm 1964, một buổi Đại Hội Nhạc Trẻ đầu tiên mang tính cách thương mại tổ chức tại rạp hát Văn Hoa ở Sài G̣n, một số nhạc Pháp cũng đă được tŕnh bày trước một số lượng đông đảo khán giả trẻ không phân biệt trường Tây, trường Ta. Cũng do ảnh hưởng của nhạc trẻ Pháp, những ban nhạc thành lập tại Sài G̣n thời đó đều được được gọi bằng những tên Tây cho hợp thời trang. Chẳng hạn như ban Les Vampires là một trong vài ban nhạc đầu tiên tại Sài G̣n, rập theo khuôn mẫu của những ban nhạc Pháp như Les Chaussettes Noires, Les Chats Sauvages hay Les Fantômes, vv... Sau đó ở Sài g̣n c̣n lần lượt xuất hiện những ban nhạc trẻ với những tên Tây như Les Faucons Noirs, Les Daltons, Les Tridents, Les Demi-Sels, Les Fanatiques, vv... Ban nhạc sau, Les Fanatiques là một sự kết hợp giữa các học sinh của hai trường Taberd và Jean Jacques Rousseau với nam ca sĩ Công Thành, được kể trong số những nam ca sĩ kỳ cựu của nhạc trẻ Việt Nam trong những nhạc phẩm lời Pháp Trong khi những nhạc sĩ dùng tên Pháp để đặt tên cho cho ban nhạc của ḿnh với thành phần căn bản gồm 3 guitars, một trống và một, hai ca sĩ th́ các ca sĩ cũng đă đặt cho họ một cái tên Pháp, chẳng hạn như Cathy Kim Dung, Hélena, Francoise Hằng, Pauline Ngọc, Prosper Thắng ( đă qua đời tại Paris cách đây nhiều năm ), Riri Hoa ( em Elvis Phương, chị Kiều Nga ), vv...để tạo thành một cơn băo nhạc vào những năm 64,65 khi những phương tiện truyền thông càng ngày càng phát triển mạnh để giới trẻ yêu nhạc gần gũi hơn với những khuôn mặt được coi như tiêu biểu của phong trào nhạc trẻ Việt Nam trong thời kỳ đang trên đà phát triển, mang nhiều ảnh hưởng của Pháp Quốc. Trong số đó phải kể tới Julie Quang, một nữ ca sĩ mang hai ḍng máu Việt – Á, một thời gian là con dâu của nhạc sĩ Phạm Duy. Ngoài ra, một nữ ca sĩ khác không mang tên tây và cũng không xuất thân từ trường Tây, nhưng đă chiếm được nhiều cảm t́nh của giới yêu nhạc trong những ca khúc lời Pháp, trước khi trở thành một “con mèo” trong ban tam ca nổi tiếng The Cat’s Trio vào đầu thập niên 70. Người viết muốn nói đến Minh Xuân. Mặc dù chịu nhiều sức ép từ sự bùng dậy của phong trào nhạc trẻ Hoa Kỳ từ giữa thập niên 60 cho đến biến cố tháng Tư năm 75, nhưng nền nhạc trẻ Việt Nam vẫn không thoát hẳn ra khỏi ảnh hưởng của những ca khúc lời Pháp. Mặc dù khuynh hướng ưa thích nhạc Pháp có nhiều sút giảm, nhưng một niềm hoài niệm vẫn c̣n ẩn tàng đâu đó trong khi chính tại nước Pháp cũng đang bị điêu đứng bởi sự xâm nhập như vũ băo của những đội quân ca nhạc Anh Quốc và Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, với sự phát triển mạnh mẽ khắp miền nam Việt Nam, phong trào nhạc trẻ đă trở thành đại chúng nơi giới trẻ, mà đại đa số bắt đầu đi theo trào lưu mới trong vấn đề tiếp thu nhanh chóng nhạc Mỹ, do đó nhạc Pháp dần dần mất chỗ đứng nơi những người yêu nhạc trẻ. Thời kỳ huy hoàng của nhạc Pháp ngày nào trong những năm đầu thập niên 60 chỉ c̣n là quá khứ, khi các phương tiện truyền thanh, truyền h́nh và báo chí tại Việt Nam lúc đó hầu như chỉ chú tâm đến nhạc Anh, nhạc Mỹ. Tuy nhiên một số tiếng hát của Pháp vẫn c̣n khả năng níu kéo được một phần nào cảm t́nh của người nghe. Nhưng có lẽ giọng ca nam của Pháp được yêu thích nhất tại miền nam Việt Nam trong khi ảnh hưởng của nhạc Pháp trên đà suy thoái vào thời gian trước biến cố tháng Tư năm 75 chính là Joe Dassin ( Le Café Des Trois Colombes, L’Eùté Indien, Siffler Sur La colline, Le dernier Slow, Si Tu T’Appelles Mélancolie, vv... ). Đó là một ngọn lửa bùng lên trước khi tắt lịm để nhường chỗ cho một nền văn hoá mới – một nền văn hoá Hợp Chủng Quốc - với những ảnh hưởng quan trọng trong nhiều lănh vực, trong đó có âm nhạc. 2- ẢNH HƯỞNG NHẠC ANH – MỸ TRONG PHONG TRÀO NHẠC TRẺ VIỆT NAM Cả nước Mỹ đă thật sự rúng động khi Elvis Presley xuất hiện với những nhạc phẩm được gọi là Rock And Roll vào giữa thập niên 50. Người ta gọi đó không những là một cuộc cách mạng trong âm nhạc mà c̣n là một cuộc cách mạng về mặt xă hội với những tiết điệu kích động cùng với một thể cách tŕnh diễn được coi như cuồng nhiệt vào thời đó. Rock And Roll sau đó đă chinh phục hoàn toàn giới trẻ khắp nơi, từ lâu đă âm ỉ muốn nói lên sự chống đối của ḿnh qua âm nhạc. Trước đó, Bill Haley và ban nhạc The Comets của anh đă đưa Rock And Roll đến với người thưởng thức bằng nhạc phẩm được công nhận là nhạc phẩm Rock đầu tiên, được thu thanh vào tháng 4 năm 1954 tại New York. Đó là Rock Around The Clock... Nhưng phải đợi đến khi Elvis Presley cho ra đời những nhạc phẩm sôi động khác sau đó, với những điệu bộ nhún nhẩy, uốn éo và lắc lư đầy sôi động th́ Rock And Roll mới chính thức xác định được vai tṛ quan trọng cũng như ảnh hưởng lớn mạnh của nó trong phong trào nhạc trẻ thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việt Nam cũng không thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của Rock And Roll mặc dù đang chịu ảnh hưởng nặng nề của nhạc Pháp. Nhưng phải đợi đến đầu thập niên 60, Rock And Roll mới xuất hiện taiỉ Sài G̣n với một nam ca sĩ tài tử thời đó có tên Phạm Ngọc Phương.Chàng thiếu niên này là ca sĩ chính của ban nhạc The Rockin’ Stars. Phạm Ngọc Phương nhờ khuôn mặt hao hao thần tượng Elvis Presley của ḿnh đă lấy tên Elvis Phương sau đó với cách phát âm cùngnhững điệu bộ hoàn toàn rập theo khuôn mẫu của người ca sĩ anh ái mộ đến mức tôn sùng. Ai đă từng nghe Elvis Phương hát Don’t Be Cruel, Heartbreak Hotel, Blue Suede Shoes hay Are You Lonesome Tonight chắc hẳn sẽ có cùng nhận xét. Từ đó giới trẻ Sài G̣n trong thập niên 60 đă gọi anh là “Elvis Presley Việt Nam”. Cùng thời kỳ đầu thập niên 60 c̣n có sự xuất hiện của Thanh Tuấn , tức nam ca sĩ Paolo sau này. Nhạc phẩm Rock And Roll đă tạo tên tuổi cho Thanh Tuấn chính là Bebop Alula, do thần tượng của anh là Gene Vincent tŕnh bầy trước đó. Với bộ quần áo da đen với những động tác quay cuồng hoặc ngả người ra sát phía sau y hệt thần tượng của ḿnh, Thanh Tuấn đă được bạn bè cùng lớp tuổi 15, 16 với anh cổ vơ nhiệt liệt trong lần tŕnh diễn đầu tiên vào dịp Giáng Sinh năm 1960, trước khi ttrở thành ca sĩ chính của ban nhạc The Black Caps.
Trước khi Rock And Roll du nhập vào Việt Nam, đúng hơn là Sài G̣n vào đầu thập niên 60, nhạc Mỹ đă từng được biết đến nơi một số người yêu nhạc ngoại quốc trong thập niên 50 qua những đĩa nhạc được nhập vào đây một cách hiếm hoi. Tuy nhiên đối với những nam nữ ca sĩ hát nhạc ngoại quốc thời đó thật là quí hoá đối vơí việc tập dượt để tŕnh bày trong các vũ trường và pḥng trà. Paul Anka, một ca sĩ người Canada gốc Liban đă một dạo làm mưa làm gió tại Việt Nam với những Diana, Crazy Love hay Put Your Head On My Shoulder, vv...Cũng trong thời kỳ này, âm thanh của nhạc phẩm Mambo Italiano do Rosemary Clooney hát cũng đă khiến những thính giả trẻ tuổi ngứa ngáy tay chân. Ngoài những đĩa nhạc ngoại quốc được du nhập vào Sài G̣n một cách rất hạn chế trong thập niên 50, những nhạc phẩm được biết tới tại Việt Nam và trở thành thịnh hành tại đây, mặc dù khá chậm so với những quốc gia Aâu Mỹ, phần lớn nhờ vào những cuốn phim ca nhạc hoặc những cuốn phim có một nhạc phẩm theo chủ đề chính. Chắc ai cũng c̣n nhớ nam danh ca Pat Boone trong những cuốn phim Bernardine hay April Love, vv...vào cuối thập niên 50. C̣n với tiếng hát của Doris Day, nhạc phẩm Whatever Will Be Will Be đă trở thành một trong những nhạc phẩm rất thịnh hành vào cùng thời gian này sau khi cuốn phim mang cùng tên được tŕnh chiếu tại Sài G̣n. Nhạc phẩm được biết nhiều dưới tên Que Sera, Sera. Về phần nam danh ca Andy Williams, tiếng hát độc đáo này có sức quyến rũ rất mạnh trong nhạc phẩm chính của cuốn phim Exodus cùng với một số nhạc phẩm khác như A Summer Place, Moon River hay The Shadow Of Your Smile, vv... Về phần ban hợp ca The Platters, vào những năm cuối thập niên 50 đă khiến những người yêu nhạc say mê trong những nhạc phẩm t́nh cảm như You’ll Never Know, Only You hay Smoke Gets In Your Eyes, vv...Tại Việt Nam, những nhạc phẩm đó sau này cũng đă được nhiều ca sĩ trong làng nhạc trẻ tŕnh bầy, trong số có Tuấn Ngọc. Từ những năm đầu thập niên 60, nhạc Mỹ và Anh nói chung mà không hẳn là nhạc Rock bắt đầu được chú ư nhiều hơn tại Việt Nam, trong khi nhạc Pháp vẫn giữ thế đứng cao trong tâm hồn những người yêu nhạc ngoại quốc. Trong thời gian này, một số ban nhạc trẻ bắt đầu được thành lập tại Sài G̣n, manh nha cho sự h́nh thành phong trào Nhạc Trẻ một thời gian sau. Với sự xuất hiện của nhạc Twist, cả thế giới trở nên quay cuồng theo tiết điệu mới mà Chubby Checker được coi như người đi tiên phong với nhạc phẩm The Twist và kế đó là Let’s Twist Again. Và dĩ nhiên giới trẻ Việt Nam cũng không thoát khỏi sự quyến rũ của âm thanh mới mẻ này. Đến những năm 62, 63 giới trẻ Sài G̣n như lên cơn sốt khi những cuốn phim ca nhạc có mặt nam ca sĩ Cliff Richard và ban nhạc The Shadows của Anh Quốc được tŕnh chiếu tại đây với một số khán giả kỷ lục. Cliff Richard từ đó trở thành thần tượng của giới trẻ Việt Nam qua phần tŕnh bày những ca khúc : The Young Ones, We Say Yeah, Lessons In Love, Bachelor Boy, vv...C̣n ban nhạc The Shadows th́ trở thành khuôn vàng thước ngọc cho những ban nhạc trẻ thành lập vào thời kỳ này... Đâu đâu người ta cũng được nghe những âm thanh quen thuộc của ban nhạc Anh Quốc này trong những nhạc phẩm hoà tấu Apache, Peace Pipe, Cozy, Man Of Mystery, FBI, The Savage, vv...Những tay sử dụng lead guitar của các ban nhạc trẻ Việt Nam thời đó như Les Vampires, Les Tridents, Les Faucons Noirs, The Tedy Bears, Les Fanatiques hoặc bất cứ ban nhạc trẻ nào khác luôn cố gắng nắn nót tiếng đàn của ḿnh sao cho giống The Shadows mới là đúng điệu. Trong khi đó, cặp mắt kính gọng đen của tay nhạc sĩ Hank Marvin của The Shadows đă trở thành một thứ thời trang đối với giới trẻ. Người ta gọi đó là cặp mắt kính Shadows. Nước Mỹ ngay lập tức tung ra ban nhạc hoà tấu để đương đầu với The Shadows. Đó là ban nhạc The Ventures, một thời gian một số nhạc phẩm cũng được các ban nhạc trẻ Việt Nam đua nhau tŕnh bày như : Walk Don’t Run, Hawai Five – O, Caravan, Bandolero, Pipeline, vv...Nhưng so với The Shadows, ảnh hưởng của the Ventures không đáng kể. Nhưng kể từ khi âm thanh của Tứ Quái The Beatles vang lên qua những nhạc phẩm She Loves You và I Saw Her Standing There th́ sinh hoạt nhạc trẻ mới thật sự sôi động mặc dù những âm thanh này đến với Việt Nam tương đối chậm so với các quốc gia khác. Từ đó John, Paul, George và Ringo trở thành khuôn mẫu cho giới trẻ yêu nhạc để đưa đến sự xuất hiện của những mái tóc dài như những thần tượng của họ Và cũng từ đó, phần lớnnhững ban nhạc Việt Nam hầu như bắt đầu không c̣n mấy chú ư đến việc tập dượt những nhạc phẩm Pháp, để chú tâm nhiều hơn trong việc tŕnh bày những nhạc phẩm Anh-Mỹ, điển h́nh như những nhạc phẩm của The Beatles, như Come Together, Let It Be, Oh! Darling, Strawberryfields Foerever, Nowhere Man, vv... Chắc chắn những người yêu nhạc trong lứa tuổi thiếu niên vào những năm 63, 64 không thể quên được âm thanh quen thuộc của nhạc phẩm Love Potion Number Nine do The Searchers tŕnh bày trong thời kỳ được gọi là thời kỳ xâm lấn của nền ca nhạc Anh Quốc ( “The British Invasion”) trên khắp thế giới. Cùng một lúc với sự xuất hiện của 4 ông mănh tóc dài The Beatles, Thời kỳ này được đánh dấu bằng sự ra đời ồ ạt của rất nhiều ban nhạc trẻ tại nước Anh, nhất là từ thành phố hải cảng Liverpool là nơi có ḍng sông Mersey chảy ngang, ngoài những ban xuất phát từ London hay Manchester. Bởi vậy những âm thanh xuất phát từ Liverpool được gọi là “Mersey Beat” với những ban nhạc điển h́nh như Gerry and The Pacemakers hay Freddie and The Dreamers. Aâm thanh Mersey Beat đă kéo theo một đội ngũ rất đông những ban nhạc trẻ tại nhiều thành phố khác, đặc biệt là Luân Đôn với The Rolling Stones ( I Can’t Get No Satisfaction, As Tears Go By, Get Off My Cloud, Ruby Tuesday,vv...) ,The Dave Clark Five ( Can’t You See She Was Mine, Because, I Like It Like That, Over And Over, vv... ) , The Who ( My Generation, The Kids Are Alright, vv..., The Kinks ( You Really Got Me, All Day And All Of The Night, Sunny Afternoon, vv...), Manfred Mann ( Do Wah Diddy Diddy, Sha la la, Come Tomorrow, vv ...). Nhưng có lẽ ban nhạc Herman’s Hermits với chàng ca sĩ răng khểnh “Herman” Peter Noone là một trong số những ban nhạc được yêu thích nhất trong những ca khúc thật dễ thương : Mrs Brown You’ve Got A Lovely Daughter, Henry The VIII, No Milk Today, Leaning On The Lamp Post, vv...Nam ca sĩ có tên Minh Huấn – đă qua đời vào cuối thập niên 60 – là người được mệnh danh là “Herman Peter Noone Việt Nam” của trong những năm 65, 66. Sau khi cuốn phim “Pop Gear” được tŕnh chiếu tại rạp Rex vao năm 67 với số lượng khán giả trẻ đông đảo chưa từng thấy đă nói lên một cách rơ ràng ảnh hưởng của nền ca nhạc Anh Quốc trong thời kỳ “British Invasion” mạnh mẽ đến chứng nào. Qua cuốn phim gồm nhiều ban nhạc lừng danh của nước Anh này, The Animals có lẽ là ban nhạc gây được nhiều chú ư nhất với nhạc phẩm bất hủ The House Of The Rising Sun, từng được nhiều ca sĩ nhạc trẻ Việt Nam tŕnh bày trước đó, nhờ những đĩa hát có mặt từ trước. Ngoài nhạc phẩm trên, The Animals c̣n tạo được một ảnh hưởng lớn nơi giới nhạc trẻ Việt Nam với Boom Boom cũng như We’ve Gotta Get Out Of This Place, vv... Cho đến thời điểm này, riêng phong trào yêu thích nhạc Mỹ nơi giới trẻ Việt Nam đă bắt đầu h́nh thành sau khi quân đội Mỹ thiết lập một đài phát thanh FM tại Sài G̣n với những chương tŕnh ca nhạc đủ loại được phát thường trực mỗi ngày. Sau đó là sự thiết lập một đài truyền h́nh với mục đích giải trí các quân nhân Mỹ bắt đầu đặt chân đến Việt Nam từ năm 65, với số lượng càng ngày càng đông đảo. Thêm vào đó là sự du nhập những đĩa nhạc phổ thông mới nhất từ Mỹ đă khiến sự tiếp cận với nền văn hoá của đất nước chú Sam trở nên rất dễ dàng hơn. Nhạc Pháp từ đó gần như không c̣n được mấy ban nhạc và ca sĩ trẻ Việt Nam tŕnh bầy. C̣n đối với lớp khán giả trẻ, nền ca nhạc của quốc gia này chỉ c̣n là một sự hoài niệm về một quá khứ vàng son vào những năm sau đó. V́ ngay chính Pháp Quốc vào thời này cũng đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi đạo quân ca nhạc ào qua từ bên kia bờ biển Manche và từ miền Bắc Mỹ xa xôi. Mặt khác, tại Việt Nam do nhu cầu giải trí của quân đội Mỹ, rất nhiều câu lạc bộ được gọi là Clubs Mỹ được dựng lên khắp miền Nam Việt Nam. Từ đó hầu như tất cả các ban nhạc trẻ tại các thành phố lớn đều được mời cộng tác với những nơi này. Tính cách tài tử của nền nhạc trẻ đă nhường chỗ cho những hoạt động nhà nghề. Ngoài việc cộng tác với các vũ trường, các nam nữ ca sĩ nhạc trẻ Việt Nam gần như tất cả đều đi làm tại các Club Mỹ, chẳng hạn như Carol Kim, Paolo, Công Thành, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Jennie Mai, Julie, Cathy Huệ, Jimmy Joseph Jr, Paul, vv... Cuộc chiến Việt Nam vài năm sau đă đưa đến phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Và cũng từ đó đă xuất phát những nhạc phẩm ủng hộ cho phong trào này, đặc biệt là những nhạc phẩm do Joan Baez hay Bob Dylan tŕnh bầy. Joan Baez nổi bật hơn cả với Any Day Now. C̣n Bob Dylan với Blowin’In The Wind, It’s Alright, Ma cùng với Bringing It All Back Home, Like A Rolling Stone, vv... Một điều cần ghi nhận một cách đặc biệt hầu như không có một ca sĩ nhạc trẻ Việt Nam nào tŕnh bày những nhạc phẩm mang tính cách phản chiến này. Họ chỉ tŕnh bầy một số nhạc phẩm nói lên sự cô đơn và nỗi nhớ nhà của những quân nhân Mỹ đồn trú tại Việt Nam, cách quê hương ḿnh nửa ṿng trái đất, như được Bobby Vinton diễn tả trong một nhạc phẩm rất thịnh hành tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh là Mr Lonely hoặc một nhạc phẩm dân ca tên Detroit City mà trong bài hát được các ca sĩ đổi thành “Saigon City” cho hợp với tâm trạng của những GI’s, trong đó có những câu “ last night I went to sleep in Saigon City...I wanna go home...Oh, how I wanna go home...”, diễn tả nỗi hoài vọng về xứ sở Hoa Kỳ. Lại một cơn sốt nữa bùng lên khi phong trào Hippy ra đời vào năm 67 tại Hoa Kỳ và du nhập vào Việt Nam rất mạnh từ năm 68. Giới trẻ tại đây đă hưởng ứng lời kêu gọi của Scott Mc Kenzie qua nhạc phẩm San Francisco để nữ giới th́ cài hoa trên tóc hoặc gắn hay thêu những chiếc hoa 5 cánh trên quần áo, giầy dép, xe máy, vv...C̣n nam giới bắt đầu nuôi tóc dài như những hippies ở San Francisco... Và hơn bao giờ hết, giới trẻ trong thời kỳ này không ai không mơ đến một ngày nào đó được đặt chân tới miền California nắng ấm. Nơi đó đối với họ là một thế giới của mầu sắc, của âm thanh, của thiên nhiên như được diễn tả trong nhạc phẩm California Dreamin’ do ban The Mama’s And the Papa’s tŕnh bầy. Phong trào Hippy liền đó đă phát sinh ra thể loại nhạc với những âm thanh khi huyền hoặc mơ hồ, khi vang rền đến nhức óc được gọi là Psychedelic với tay đàn guitar da đen điển h́nh là Jimi Hendrix và nữ ca sĩ Janis Joplin. Và với những ban nhạc trẻ Việt Nam Jimi Hendrix đă trở thành thần tượng của họ với những nhạc phẩm : Are You Experienced, Purple Haze, Hey Joe, And The Wind Cries Mary, vv...Trong khi đó Janis Joplin được một số những nữ ca sĩ nhạc trẻ dập khuôn, dập mẫu khi tŕnh bày những nhạc phẩm như Piece Of My Heart, Summertime, Me And Bobby McGee, Ball And Chain, vv...Đặc biệt phải kể đến Bich Loan của ban nhạc CBC và Ngọc Bích, Ngọc Quư của ban nhạc The Crazy Dogs. Ngoài Jimi Hendrix, loại nhạc Psychedelic đă được rất nhiều ban nhạc trẻ Hoa Kỳ tŕnh diễn như The Black Sabbath, Cream, Iron Butterfly, vv.… Từ đó đă ảnh hưởng đến những ban nhạc trẻ Việt Nam. Qua đó The Peanuts Company được nhắc nhở đến rất nhiều với lối tŕnh diễn bốc lửa trên sân khấu. Trong khi đó ban nhạc The Enterprise với tiếng hát của nam ca sĩ gốc Ấn Độ tên Kasim cũng từng làm mưa làm gió một thời gian dài trong những nhạc phẩm mà kỹ thuật âm thanh được khai thác triệt để. Cũng do đó, nhạc sĩ Trung Nghĩa của ban nhạc này đă được mệnh danh là “10 Ngón tay Vàng” trong nghệ thuật sử dụng guitar trong thời gian cộng tác với ban nhạc The Enterprise... Cũng từ phong trào Hippy, một đại hội nhạc trẻ ngoài trời có tầm vóc qui mô nhất trong lịch sử ca nhạc quốc tế đă được tổ chức liên tiếp trong 3 ngày tại tiểu bang New York. Đó là đại hội nhạc trẻ Woodstock, tổ chức vào năm 1969, qui tụ hàng trăm ngàn người với sự có mặt của những tên tuổi lẫy lừng nhất của nền nhạc trẻ Hoa Kỳ. Hai năm sau tại Việt Nam, một Đại Hội Nhạc Trẻ Ngoài Trời có tầm vóc quốc tế lần đầu tiên được diễn ra tại Việt Nam. Địa điểm tổ chức là sân vận động Hoa Lư nên được quen gọi là Đại Hội Nhạc Trẻ Hoa Lư, diễn ra vào tháng 4 năm 1971. Ngoài những ban nhạc trẻ Việt Nam nổi tiếng, c̣n có sự tham dự của ban nhạc các quốc gia Hoa Kỳ, Phi Luật Tân, Nam Dương, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Đại Hàn, vv... Trước khi diễn ra Đại Hội Nhạc Trẻ Quốc tế Hoa Lư vào năm 71, từ năm 65 đă có những buổi đại hội Nhạc Trẻ được tổ chức trong thính đường, và sau đó là ngoài sân trường Taberd trên đường Nguyễn Du, Sài G̣n. Nhạc Mỹ, nhạc Anh cũng đă thi nhau nở rộ trên sân khấu những buổi Đại Hội Nhạc Trẻ này. Từ những năm cuối của thập niên 60 cho đến biến cố tháng 4 năm 75, nhạc Mỹ hoặc nói chung là nhạc đến từ những quốc gia sử dụng Anh Ngữ đă đánh bật nhạc Pháp ra khỏi sự yêu thích nơi giới trẻ và đó cũng là loại nhạc được tất cả những ban nhạc trẻ và ca sĩ Việt Nam tŕnh bầy. Những ban nhạc như Creedence Clearwater Revival ( gọi tắt là CCR), Simon & Garfunkel, The Bee Gees, Abba, The Doors, Jefferson Airplane, Santana, Lobo, The Beach Boys, Three Dogs Night, The Supremes, Carpenters, vv...đă trở thành những tên tuổi được mến mộ nhất Từ trong nhà ra đến ngoài đường, từ ngoài đại hội nhạc trẻ vào trong sân khấu vũ trường, đâu đâu người ta cũng được nghe vang lên những âm thanh quen thuộc của nhạc Mỹ, nhạc Anh. Điều đó đă chứng tỏ ảnh hưởng lớn mạnh đến chừng nào của nền văn hoá Aâu Mỹ được du nhập vào Việt Nam trong những ngày đầu của nền nhạc trẻ Việt Nam, từ giữa thập niên 60 cho đến tháng 4 năm 75. 3- PHONG TRÀO VIỆT HOÁ NHẠC TRẺ Qua trên 30 năm từ lúc khởi đầu vào năm 1972, việc soạn lời Việt cho những nhạc phẩm ngoại quốc cho đến nay vẫn được rất nhiều người thuộc thế hệ sau hưởng ứng, ở trong nước cũng như tại hải ngoại. Riêng ở trong nước, những nhạc phẩm chuyển lời Việt từ ngạc ngoại quốc gần đây đă trở thành một “vấn đề”à sau khi xẩy ra những t́nh trạng “cầm nhầm” hoặc sử dụng ca từ mộỉt cách cẩu thả đến độ ngớ ngẩn, như nhận định của báo chí trong nước. Phong trào mang tên Việt Hoá Nhạc Trẻ khởi đầu vào năm 1972, khi một số người trẻ tuổi nổi tiếng trong làng nhạc trẻ thời đó như Nam Lộc, Vũ Xuân Hùng, Lê Hựu Hà, Kỳ Phát, Tuấn Dũng, Tiến Chỉnh, Trung Hành, Cao Giảng, vv...đă hưởng ứng mạnh mẽ lời kêu gọi của Trường Kỳ để bắt tay vào việc soạn lời Việt cho những nhạc phẩm ngoại quốc. Nhạc phẩm Việt Hoá đầu tiên ra đời vào thời kỳ này đă do Trường Kỳ soạn lời Việt từ nhạc phẩm Mỹ nổi tiếng Sealed With A Kiss của Brian Hyland, mang tựa đề T́nh Yêu Trong Đời. Lần lượt sau đó, Trường Kỳ đă soạn lời Việt từ hàng chục nhạc phẩm Pháp, Mỹ và Anh khác, trong số có những nhạc phẩm quen thuộc như : Khi Ta 20 ( All I Have To Do Is Dream, tựa Pháp : Pendant Les Vacances ), Rồi Mai Đây ( Lo Mucho Que Te Quiero ), Yêu Nhau Đi ( Besame Mucho ), Thú Yêu Thương ( Speak Softly Love tức The Godfather ), Cám Ơn Người Yêu Dấu( Merci Chérie ), Mời Nàng Cười ( Fais La Rire ), Thương Nhớ Trong Mưa ( The End Of The World ), T́nh Yêu Mờ Khuất ( Love Is Blue ), Điện Thoại Tới Anh ( Téléphones – Moi ), Coi Chừng Gái Đẹp ( Belles! Belles! Belles! ), Bài Luân Vũ Mùa Mưa ( The Last Waltz ), vv... Khi c̣n ở trong nước, Jo Marcel, Thanh Lan, Duy Quang và Elvis Phương được coi là những tiếng hát gắn liền với những ca khúc ngoại quốc soạn lời việt khác của Trường Kỳ, như Julie, Thanh Mai, Minh Xuân Minh Phúc, vv..... Thật ra việc đặt lời Việt cho những nhạc phẩm ngoại quốc đă có từ sau Thế Chiến Thứ 2. Nổi bật hơn cả là một số nhạc phẩm cổ điển do nhạc sĩ Phạm Duy soạn lời Việt như Serenade hay The Blue Danube, Come Back To Sorrento, vv.... Từ giữa thập niên 50 trở đi, c̣n có sự xuất hiện của những nhạc phẩm ngoại quốc được dùng làm nhạc phẩm chủ đề cho một số tác phẩm điện ảnh như Bridge Over The River Kwai , Whatever Will Be Will Be ( Que Sera Sera ), The River Of No Return hay Three Coins In The Fountain, vv...cũng đă được chuyển sang lời Việt. Thời đó tên tác giả thường được ghi là “Cô Hằng” dưới những ca khúc gồm cả “notes” nhạc với lời Việt và lời ngoại quốc được in trên b́a sau của những tuần báo văn nghệ điện ảnh hoặc trên những tờ chương tŕnh chiếu bóng. Tuy không gây thành một phong trào, nhưng không ít nhạc phẩm trong số kể trên đă trở thành những ca khúc ngoại quốc soạn lời Việt bất hủ. Về phần nhạc sĩ Phạm Duy, vào thời kỳ Việt Hoá Nhạc Trẻ, ông được mệnh danh là một Hippy Già, cũng đă rất tích cực đóng góp vào phong trào này với những ca khúc soạn lời Việt được giới trẻ rất thích thú, điển h́nh như bài T́nh Cho Không ( L’Amour C’et Pour Rien ). Một nhạc phẩm Việt Hoá khác của Phạm Duy cũng gây được nhiều chú ư là Khi Xưa Ta Bé, soạn lời Việt từ ca khúc Bang Bang, một sáng tác của Sony Bono, do Cher tŕnh bày và sau đó với tiếng hát của Sheila bằng lời Pháp, đă trở nên rất quen thuộc trong giới trẻ Việt Nam. Sau khi được chuyển qua lời Việt, Khi Xưa Ta Bé đă được Thanh Lan tŕnh bày lần đầu tiên vào năm 1973. Và 30 năm sau một giọng ca trẻ nổi tiếng ở trong nước là Mỹ Tâm cũng đă thu thanh nhạc phẩm này trên một CD của cô, mặc dù những sáng tác của Phạm Duy vẫn chưa được phổ biến tại Việt Nam. Và cũng từ đó người ta đă khám phá ra việc một nhạc sĩ trong nước là Lê Quang nhận là người soạn lời Việt cho nhạc phẩm này. Ngoài ra chắc khó ai quên được một nhạc phẩm Việt Hoá khác của Phạm Duy do Thanh Lan tŕnh bầy, thường được hát trong những tiệc cưới trước năm 75 tại Sài G̣n, sau khi được tung ra 2,3 năm trước đó. Tựa đề nhạc phẩm là Ngày Tân Hôn ( The Wedding ). Thêm vào đó c̣n rất nhiều nhạc phẩm Việt Hoá khác của Phạm Duy như Cuộc T́nh Tàn ( Je Sais ), Tango Xanh ( Blue Tango ), Tiếng Âm Thầm ( The Sound Pof Silence ), Ṿng Tay Nữ Sinh ( To Sir With Love ), Gọi Tên Người Yêu ( Aline ), T́nh Ca Romeo Và Juliette ( A Time For Us ), Hỡi Người T́nh Lara ( Zhivago ), Chuyện T́nh ( Love Story ), vv...Một nhạc sĩ lăo thành khác mặc dù không có mặt trong thời gian đầu tiên của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ, nhưng sau một thời gian sống ở hải ngoại ông đă là một nhạc sĩ soạn lời Việt cho nhiều nhạc phẩm ngoại quốc cho các con ông là Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Lan Anh, Thúy Anh tŕnh bầy. Mọi người đều biết đó là nhạc sĩ Lữ Liên.
Trong số những người soạn lời Việt từ những nhạc phẩm ngoại quốc trong thời kỳ đầu tiên của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ, Vũ Xuân Hùng là một trong những tác giả gây được nhiều chú ư với những lời ca giản dị và trẻ trung – đôi khi anh viết cùng với Nguyễn Duy Biên - đă tỏ ra rất thích hợp với những tâm hồn trẻ yêu nhạc trong thập niên 70. Trong số hàng chục ca khúc soạn lời Việt từ nhạc ngoại quốc của Vũ Xuân Hùng, những nhạc phẩm sau được coi là thành công nhất của anh: Nói Sao Cho Em Hiểu ( How Can I Tell Her ), Bachelor Boy ), Chuyện Phim Buồn ( Sad Movies, tựa tiếng Pháp : Quand Le Film Est Triste ), Hôm Nay Không Sữa ( No Milk Today ), Lăng Du ( L’Avventura ), Em Đẹp Như Mơ ( Elle Était Si Jolie ), Anh Th́ Không ( Toi Jamais ), Gơ Cửa 3 Lần ( Knock Three Times ), Búp Bê Không T́nh Yêu (Poupée De Cire, Poupée De Son ), vv...Với nhạc phẩm sau, cũng nhạc sĩ trong nước Lê Quang lại bị phát giác là cố t́nh “cầm nhầm” phần soạn lời Việt của Vũ Xuân Hùng, hiện đă về cư ngụ tại Sài G̣n từ nhiều năm nay. Trong khi người thỉnh thoảng cùng viết lời chung với anh là Nguyễn Duy Biên hiện cư ngụ ở tiểu bang Texas, không c̣n hoạt động ǵ liên quan đến ca nhạc. C̣n Nam Lộc, ngay từ đầu đă soạn lời Việt cho một số nhạc phẩm ngoại quốc và nhanh chóng được biết đến với những nhạc phẩm Mây Lang Thang ( The Cowboy’s Work Is Never Done ), Chỉ Là Giấc Mơ Qua ( Yellow Bird ), Cho Quên Thú Đau Thương ( Main Dans La Main ), Ḍng Đời ( My Way ), Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu ( Tell Laura I Love Her ), vv.... Mặc dù dựa trên những âm điệu Mỹ, nhưng Nam Lộc đă dùng lời Việt một cách khéo léo, đến nỗi những người không am tường nhạc Mỹ đều cho rằng đó là những nhạc phẩm Việt Nam thuần túy. Đặc biệt là nhạc phẩm Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, được tŕnh bày lần đầu tiên qua tiếng hát Thanh Lan vào năm 1973, rất được các cựu nữ sinh Trưng Vương ưa thích. Về phần Kỳ Phát cũng đă có một số nhạc phẩm chuyển lời Việt, đáng chú ư nhất phải kể đến : Vắng nàng ( Sans Elle ), T́m Nhau ( You Want To See Me ), Chuyến tầu Vĩnh Biệt ( The Morning After ), vv... Một số nhạc sĩ trong ban nhạc Mây Trắng như Tuấn Dũng, Trung Hành và Cao Giảng cũng đă nhiệt liệt hưởng ứng phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ với sự đóng góp khá nhiều nhạc phẩm được chuyển qua lời Việt. Đặc biệt phải kể đến Tuấn Dũng với Thương Tiếc ( Donna Donna ), Bướm Hoa ( Black And White ), T́nh Thơ ( Puppy Love ), Lá Xanh Mùa Hè ( The Green Leaves Of Summer ), Không Bao Giờ Tôi Quên ( Without You ), vv... Nhạc sĩ Lê Hựu Hà của ban nhạc Phượng Hoàng cũng tham gia một cách đắc lực vào phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ với những nhạc phẩm như Tưởng Như Ngày Hôm Qua ( Yesterday ), Yêu Em Một Đời Chiêm Bao ( A A Groovy KindOf Love ), Hôm Nay Ta Về ( Yellow River ), Không Có Em ( Without You ), Đồng Xanh ( Greenfield ), vv...Nhưng Lê Hựu Hà không dừng lại ở đó trong sự đóng góp vào phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ qua việc chuyển lời Việt từ nhạc ngoại quốc. Anh c̣n đi xa hơn bằng cách sáng tác những ca khúc nhạc trẻ thuần túy Việt Nam, ngoài những ca khúc khác hợp soạn với Nguyễn Trung Cang. Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Can với sự thành lập ban nhạc Phượng Hoàng vào thời kỳ này thật sự đă nói lên tính chất đích thực của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Những sáng tác của “John Lennon và Paul Mac Cartney Việt Nam” là Hà và Cang sẽ măi măi được coi như những ca khúc nhạc trẻ tiêu biểu đưa đến sự sáng tác sau đó nơi những nhạc sĩ trẻ. Do ảnh hưởng lề lối tŕnh diễn của ban nhạc Phượng Hoàng, một vài ban nhạc ra đời sau đó đă cố gắng đạt được mục đích, khiến danh từ Việt Hoá Nhạc Trẻ mang nhiều ư nghĩa hơn trong khi thế đứng của việc đặt lời Việt cho những ca khúc ngoại quốc vẫn không hề suy suyển . Ư nghĩa của danh từ Việt Hoá ít nhất cũng được thể hiện qua những tên ban nhạc bằng tiếng Việt như Hồn Hoang và Mây Trắng. Ban nhạc trước do nhạc sĩ Quốc Dũng thành lập, thường tŕnh bày những sáng tác của anh, được hoà âm theo phong cách gọi là nhạc trẻ. Ban nhạc sau là Mây Trắng rất thu hút lớp khán giả trẻ với nghệ thuật tŕnh bày hợp ca của Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, vv..... Mặt khác, phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ cũng được thể hiện dưới một h́nh thức khác. Đó là giai đoạn khi hầu hết những ca sĩ xuất thân từ nhạc trẻ đă lần lượt chuyển qua hát nhạc Việt Nam và trở thành những giọng ca sáng chói của làng tân nhạc nói chung. Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Thanh Lan, Khánh Hà, Julie, Paolo, Carol Kim, Minh Xuân, Vy Vân, vv... là những tên tuổi tiêu biểu. Về phía nhạc sĩ sáng tác, Đức Huy tuy xuất thân từ nhạc trẻ, nhưng đă nhanh chóng trở thành một nhạc sĩ trẻ nhanh chóng tạo được tên tuổi với những ca khúc t́nh cảm trẻ trung và giản dị. Trở về với thời kỳ đầu tiên của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ, phần chuyển lời Việt từ nhạc ngoại quốc được thực hiện duới 3 chiều hướng rơ rệt. Với chiều hướng thứ nhất, người viết lời hoàn toàn dựa theo âm điệu của một nhạc phẩm nào đó được chọn lựa để soạn thành lời Việt mà không cần để ư đến nội dung của phần lời ca viết bằng Pháp hay Anh ngữơ. Đa số những nhạc phẩm Việt Hoá được viết theo chiều hướng này, điển h́nh như bài Bướm Hoa dựa trên âm điệu của nhạc phẩm nổi tiếng Black And White do Tuấn Dũng của ban nhạc Mây Trắng soạn lời Việt và tŕnh bày vào năm 1972. Trong chiều hướng thứ 2,ụ người viết phóng tác theo nội dung của nhạc phẩm nguyên thủy trong khi cố gắng giữ được ư chính càng nhiều càng tốt. Đó là trường hợp của nhạc phẩm Gọi Tên Người Yêu của Phạm Duy do Elvis Phương tŕnh bầy, phóng tác theo nhạc phẩm Aline. Hay nhạc phẩm Anh Ước Mong ( J’Ai Envie ) do Trường Kỳ viết lời Việt và do Jo Marcel tŕnh bày lần đầu tiên vào năm 73. Trong khi đó chiều hướng thứ 3 được coi như khó khăn hơn cả đối với những người soạn lời Việt. Đó là làm sao dịch ttương đối sát nghĩa từng câu của nhạc phẩm chính, cùng một lúc tôn trọng nội dung của tác giả của nhạc phẩm đó muốn gửi gấm. Lư do chính đến từ vấn đề độc âm của tiếng Việt cùng những dấu bằng trắc, không thể g̣ uốn theo âm điệu của nhạc phẩm chính như tiếng Anh hay Pháp. Chỉ có một số ít nhạc phẩm Việt Hoá được viết theo chiều hướng thứ 3 này, trong số có nhạc phẩm Gơ Cửa 3 Lần ( Knock Three Times ) hay Nói Sao Cho Em Hiểu ( How Can I Tell Her ) của Vũ Xuân Hùng hoặc Điện Thoại Tới Anh ( Téléphones – Moi ), Khi Nào Đây? ( Cuando, Cuando, Cuando ) của Trường Kỳ, vv...... Phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ ngoài phần lớn nhắm vào những nhạc phẩm Âu Mỹ thịnh hành, kể cả một số nhạc phẩm của Ư hay Tây Ban Nha. Trong thời kỳ đó, một số c̣n được soạn lời Việt từ những nhạc phẩm Á Đông như Trung Hoa và Nhật Bản. Chắc khó ai quên được nhạc phẩm Trung Hoa soạn thành lời Việt mang cùng tên với cuốn phim Mùa Thu Lá Bay hay nhạc phẩm Anata của Nhật được Phạm Duy chuyển lời Việt dưới tên Căn Nhà Xinh Nhận thấy sự thu hút mạnh mẽ của phong trào soạn lời Việt nơi giới trẻ, một nhà xuất bản có uy tín vào thời đó là Hiện Đại đă mạnh dạn đứng ra phát hành hành những tập nhạc với tựa đề T́nh Ca Nhạc Trẻ, với những nhạc phẩm ngoại quốc soạn lời Việt vào năm 1973. Đồng thời, giám đốc nhà xuất bản này là ông Nguyễn Văn Thành, hiện là giám đốc trung tâm World ở Orange County, đă khuyến khích nhiều người viết lời Việt đóng góp vào phong trào này và nhận được một sự hưởng ứng đáng kể. Sau sự thành công của tập T́nh Ca Nhạc Trẻ 1, đă có đến 6, 7 tập T́nh Ca Nhạc Trẻ khác liên tiếp ra đời với hàng trăm ca khúc ngoại quốc được Việt Hoá. Nhạc sĩ Ngọc Chánh, người điều hành nhà xuất bản Khai Sáng cũng cùng một lúc cho ra đời những bản nhạc rời với một sự thành công không ngờ. Hầu hết những ca khúc Việt Hoá trong thời kỳ này đă được thu thanh vào những băng nhạc trẻ được thực hiện dưới những tên như : Nhạc Hồng do Trường Kỳ và Nam Lộc thực hiện, Sinh Hoạt Nhạc Trẻ do Tùng Giang thực hiện, Thế Giới Nhạc Trẻ của Kỳ Phát, Nhạc Trẻ của nhạc sĩ Ngọc Chánh và những băng nhạc T́nh Ca Nhạc Trẻ do Vũ Xuân Hùng và một nhóm người viết lời Việt từ những nhạc phẩm ngoại quốc thực hiện. Sự phát triển mạnh mẽ của chương tŕnh Việt Hoá Nhạc Trẻ cũng đă được những nhà sản xuất điện ảnh chú ư để đưa vào những sản phẩm của họ, như Cô Hippy Lạc Loài, Hoa Mới Nở, Thế Giới Nhạc Trẻ, vv... Không những phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ đă đi vào các chương tŕnh Đại Hội Nhạc Trẻ tổ chức tại sân trường Taberd hay Thảo Cầm Viên Sài G̣n, mà c̣n hiện diện thường xuyên trong các chương tŕnh nhạc trẻ hàng tuần, điển h́nh là những chương tŕnh “Hippies À Gogo”, tổ chức tại nhiều pḥng trà và vũ trường. Những chương tŕnh ca nhạc tổ chức hàng đêm cũng bắt đầu xuất hiện những tiết mục nhạc ngoại quốc lời Việt tŕnh bày bởi những ban tam ca nổi tiếng như Ba Trái Táo tức The Apple Tree hay Ba Con Mèo tức The Cat’s Trio. Trong khi đó, Minh Xuân của ban tam ca 3 Con Mèo cũng được coi là một tiếng hát điển h́nh của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ qua phần tŕnh diễn đơn ca cũng như hợp ca cùng với Uyên Ly và Kim Anh... Người bạn đời của Minh Xuân là Minh Phúc cũng là một tronbg những giọng ca đóng góp không ít vào phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Nhất là trong thời gian anh cùng với Minh Xuân hợp thành cặp song ca Minh Xuân-Minh Phúc, chuyên tŕnh bày những nhạc phẩm ngoại quốc lờiViệt, ngoài phần tŕnh bày đơn ca.... Từ năm 1973, sự kiện nhạc trẻ đi vào pḥng trà và vũ trường Sài G̣n đă được ghi nhận một cách rơ ràng hơn, sau khi Jo Marcel được coi như người đầu tiên đứng ra chủ trương ngay từ những năm cuối thập niên 60. Vào thời đó Jo Marcel đă đưa phần tŕnh diễn của ban nhạc trẻ The Spotlights với Đức Huy, Billy Shane, Tiến Chỉnh, Martio Cruz và Hồng Hải lên sân khấu pḥng trà. Một thời gian sau phần tŕnh diễn của những nghệ sĩ nhạc trẻ như những cặp Đức Huy- Thanh Tuyền, Tuấn Ngọc-Đức Huy hay Minh Xuân-Minh Phúc đă dần dần chinh phục được cảm tính của lớp khán giả vủ trường và pḥng trà ca nhạc tại Sài G̣n. Riêng phần ḿnh, Jo Marcel vẫn thường xuyên tŕnh diễn những nhạc phẩm Việt Hoá trong những chương tŕnh do anh thực hiện... Một điều cần ghi nhận là không một nghệ sĩ nhạc trẻ nào vào thời đó không tŕnh bày những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt, song song với việc tŕnh bày những nhạc phẩm Việt Nam hay ngoại quốc thuần túy theo con đường đi riêng. Sự kiện này đă nói lên được sự thành công to lớn của phong trào Việt Hoá nhắm tới việc khuyến khích việc sáng tác những ca khúc nhạc trẻ một thời gian sau đó ở trong nước cũng như ở hải ngoại để có được một ḍng nhạc trẻ thuần túy Việt Nam... Nếu trở về với những ngày tháng đáng ghi nhớ đó, chắc khó ai quên được một số tiếng hát có mặt ngay từ những ngày đầu của phong trào Việt Hoá để rồi sau đó rất ít hoặc không c̣n hoạt động trong lănh vực ca hát. Chẳng hạn như Cathy Huệ, hiện cư ngụ tại Úc, hay Pauline Ngọc, thỉnh thoảng hoạt động ở Đức. Cũng khó ai có thể quên được Bích Trâm ( vợ Nguyễn Chánh Tín ) hiện ở Việt Nam, Vân Trung hiện ở Úc, hay Thanh Mai, cư ngụ ở Orange County. Đă 40 năm qua đi, nhưng những sự kiện được tŕnh bày trong bài viết này hẳn cần được ghi nhớ, khi đến nay ḍng nhạc trẻ thuần túy Việt Nam đă hoà nhập chung với ḍng tân nhạc Việt qua những sáng tác của những nhạc sĩ thuộc thế hệ sau... TRƯỜNG KỲ (kyvu@hotmail.com) PS: Cám ơn anh Lê Tiến Cường (68, Toronto) đă giới thiệu và anh Trường Kỳ đă cho phép chia sẻ lại trên ERCT nhân dịp Tết Ất Dậu |