|
|
Lời mở đầu
Cách đây ít lâu tôi có đến thuyết giảng
tại một trường đại học. Thuyết tŕnh viên trước tôi nói khoảng một
tiếng rưỡi đồng hồ, quá giờ quy định. Khoảng thời gian nghỉ ngơi
giữa hai buổi diễn thuyết của chúng tôi bị thu hẹp lại, và tôi bị
gọi lên bục giảng ngay sau đó. Để tỏ sự quan tâm đến những thính giả,
tôi mở đầu bằng câu hỏi: “Quư vị đă có th́ giờ đi tiểu hết chưa?”
Cử tọa rơ ràng là bị bất ngờ trước câu
hỏi của tôi. Lại càng ngạc nhiên hơn nữa, khi họ thấy người đang
đứng trước mặt họ, nói về chuyện tiểu tiện, lại là một vị sư. Mọi
người cười ầm lên.
Bắt đầu như vậy rồi, tôi lại tiếp tục
lái vào tiêu điểm. “Tiểu tiện không phải là một việc người khác làm
dùm bạn được. Chỉ có ḿnh mới tiểu cho chính ḿnh được thôi.” Câu
này thật sự đă phá vỡ khoảng cách, và họ cười c̣n tận t́nh hơn nữa.
Nhưng thực sự ta phải thấy rằng, “chỉ
có ḿnh mới đi tiểu cho chính ḿnh được thôi, không ai khác có thể
làm thế được”, là một nhận định hoàn toàn nghiêm túc.
Thời xa xưa bên Tầu, có một vị tăng
nhập chúng tu nhiều năm trong thiền viện của thiền sư Đại Huệ, nhưng
mặc dù đă hết sức tinh tấn, ông vẫn không giác ngộ được. Một hôm
thầy ra lệnh cho ông đem một lá thư đến một nơi xa xôi thuộc vùng
Trường Sa. Chuyến đi này, vừa đi vừa về, có thể mất đến nửa năm như
chơi. Vị tăng nghĩ: “Tôi làm ǵ có th́ giờ ở thiền viện này tu tập
măi măi được! Ai mà rảnh rỗi đi làm một công việc như thế này!” Tăng
bèn hỏi ư kiến của sư huynh về vấn đề này.
Sư huynh bật cười khi nghe vị tăng nói
đến vấn đề nan giải này. “Dù có đang đi du hành đệ cũng vẫn thiền
được cơ mà! Thôi được rồi, ta sẽ đi cùng với đệ.”, ông đề nghị như
vậy, và thế là hai người bắt đầu ra đi trong cuộc hành tŕnh.
Một hôm, khi họ đang đi trên đường, sư
đệ bỗng bật lên khóc. “Em đă tu bao nhiêu năm nay rồi, mà tới giờ
vẫn chưa thấy đạt được ǵ cả. Rồi bây giờ, lang thang đi khắp nơi
như thế này, làm sao mà em giác ngộ được chứ,” ông than thở.
Nghe vậy, sư huynh vận dụng hết sức lực
để nói một cách thật mạnh bạo phũ phàng như tát nước: “Ta sẽ làm tất
cả những ǵ có thể làm được cho đệ trong chuyến đi này,” “Nhưng có
năm điều mà ta không thể làm được thế cho đệ. Đó là:
Ta không thể mặc quần áo thế cho đệ
được. Ta không thể ăn thế cho đệ được. Ta không thể đại tiện cho đệ
được. Ta không thể tiểu tiện cho đệ được. Và ta không thể vác đệ lên
vai mà sống cuộc đời của đệ thế cho đệ được.”
Khi nghe những câu nói này, vị sư đệ
bỗng bừng tỉnh ra khỏi cơn mê và được đại ngộ.
Tôi hi vọng rằng, khi đọc những lời này,
bạn sẽ nhận ra rằng những ǵ tôi nói ở đây không phải chỉ là về tôi
hay về những điều xẩy ra ở đâu đâu. Không phải như thế, những điều
tôi nói đây chính là những vấn đề khẩn thiết của các bạn .
Phần một: SA DI
Viễn tượng cái chết
Nếu tôi có thể tóm tắt lại bốn mươi năm
cuộc đời của tôi, kể từ khi bắt đầu xuất gia, tôi phải nói rằng đó
là một sự tiếp diễn không ngừng những cái ngu dại. Khi nói về sự ngu
dại của ḿnh, tôi không có ư nói đến một cái ǵ sẵn có từ cha sanh
mẹ đẻ, mà phần lớn về những ấn tượng hư dối mà tôi đă huân tập, hết
lớp này qua lớp khác, trong trí tưởng tượng của tôi.
Bất cứ lúc nào đi du hành qua ngoại
quốc để thuyết giảng, bao giờ tôi cũng được yêu cầu phải nhắm vào
một vấn đề chủ yếu: Ngộ (satori trong tiếng Nhật) là ǵ, thế nào là
giác ngộ? Cái gọi là Ngộ này, tuy thế, là một trạng thái mà người ta
chỉ có thể hiểu được qua chứng nghiệm. Nó không thể được đem ra giải
thích hay nắm bắt chỉ bằng ngôn ngữ thuần túy.
Tỷ dụ, có một câu ngạn ngữ rằng, “Khi
nào có con mới biết được ḷng của cha mẹ.” Dù bậc cha mẹ có cố gắng
diễn đạt tâm tư của cha mẹ đối với con đến thế nào, đứa con ấy cũng
không thể nào hiểu được hoàn toàn. Chỉ khi chính đứa con ấy trở
thành cha mẹ, nó mới hiểu được đầy đủ tấm ḷng của mẹ cha. Sự thông
hiểu ấy có thể ví như giác ngộ vậy, tuy rằng giác ngộ là một cái ǵ
sâu xa hơn nhiều.
Bởi v́ không có ngôn ngữ nào có thể
diễn đạt được kinh nghiệm giác ngộ, ở đậy tôi sẽ chỉ bàn tới những
điều cốt yếu cho sự giác ngộ, những điều cốt yếu của sự tu tập Thiền.
Tu tập Thiền không phải là vấn đề nhớ
nằm ḷng những lời lẽ kỳ diệu trong kinh sách hay ngữ lục của các vị
tổ thời xưa. Thực sự ra, những lời lẽ này được xử dụng như một
phương tiện để phá vỡ những ấn tượng sai lầm trong trí tưởng tượng
của con người. Mục đích của sự tu tập không phải để làm tăng thêm
kiến thức, mà để cạo bỏ những lớp vẩy che lấp mắt, để vứt ra ngoài
những mũ chụp che tai.
Qua sự tu tập, người ta có thể thấy
được sự thực. Và tuy nói rằng không có một thứ thuốc nào có thể chữa
được chứng bệnh khờ dại, điều làm cho người ta nhận ra được rằng
“tôi đúng là một kẻ khờ dại” thực ra lại chính là phương thuốc ấy.
Cũng có câu nói rằng “thuốc đắng giă
tật”, và buồn thay, thứ thuốc làm cho người ta nhận ra được sự ngu
dại của ḿnh chắc chắn là rất cay đắng. Nhận thức ra được cái ngu
của ḿnh thường hay đi kèm với những thử thách và rồi phải trả giá,
bằng những trắc trở và buồn rầu. Tôi đă trải qua một nửa đời người
bị vật vă với những hậu quả cay đắng của phương thuốc này.
Tôi sinh ra ở thành phố Uozu, thuộc
quận Toyama. Trong lúc Thế Chiến Thứ Hai đang sôi sục, tôi đang học
chuyên ngành văn chương, dưới chế độ giáo dục cũ của Nhật, tại
trường trung học Toyama. Các học sinh trung học, theo luật, được
chính thức hoăn dịch cho đến khi tốt nghiệp xong đại học. Nhưng khi
chiến tranh leo thang, có lệnh ban xuống rằng những học sinh nào học
về văn chương sẽ phải đi ra chiến trường. Người ta thường giả dụ
rằng những sinh viên khoa học sẽ tiếp tục những môn học về y khoa
hay khoa học và như vậy sẽ cung cấp được những nhiệm vụ hậu cần
trong chiến tranh, trong khi những sinh viên văn khoa th́ chỉ đọc
sách, đấu khẩu, và thường hay kích động tinh thần quốc gia.
Dù sao, những học sinh văn khoa, bị đối
đăi như không phải là những học sinh, đă phải qua kỳ khám sức khỏe
để nhập ngũ vào lứa tuổi hai mươi và rồi bị đẩy vào quân đội, không
có ngoại lệ. Đă vậy, tuổi quân dịch lại bị hạ thêm một tuổi nữa, và
dường như v́ nhu cầu nóng bỏng, tôi với tuổi mười chín đă bị lôi vào
quân đội một cách phũ phàng.
Chúng ta ai cũng biết rằng sớm hay muộn
ǵ, ḿnh sẽ chết. Cái chết có thể đến ngay ngày mai, hay có thể đến
hai mươi năm, ba mươi năm nữa. Chỉ v́ không biết cái chết sẽ chờ đợi
ta lúc nào trên con đường dài sắp tới, ta mới có được một chút an
b́nh nơi tâm, mới có thể tiếp tục đời sống b́nh thường. Nhưng với
tôi, sau khi đă qua kỳ khám sức khỏe và chờ đợi lệnh nhập ngũ đến
bất cứ lúc nào, cái chết bỗng nhiên hiện ra thật bất ngờ trước mắt.
Tôi có cảm tưởng như ḿnh đang di động qua một khoảng trống không,
ngày này qua ngày khác. Thức hay ngủ, tôi đều vẽ ra trong trí óc
những cách chết khác nhau sẽ đến với tôi trong chiến trường. Nhưng
dù đang ở trong một cơn lốc mù mịt của những ư tưởng về cái chết,
tôi vẫn không có th́ giờ để t́m hiểu vấn đề một cách triết lư hay
t́m những phương tiện tu tập tôn giáo nào.
Những người đi vào quân đội thời ấy cắm
đầu nhào đến phía trước, hăng say tin tưởng rằng đây là một cuộc
chiến công bằng, một cuộc chiến thật quan trọng để họ có thể hi sinh
mạng sống không một chút luyến tiếc. Từ trong tinh thần ấy, chúng
tôi được trang bị với một biện giải tạm bợ cho viễn ảnh cái chết
trước mắt của ḿnh hay ít nhất đó cũng là trường hợp của tôi.
Giữa những con người, có những kẻ
chuyên bóc lột và những kẻ chuyên bị bóc lột. Điều đó cũng áp dụng
cho sự liên hệ giữa các quốc gia và các chủng tộc. Trong suốt lịch
sử, những quốc gia phát triển về kinh tế đă thống trị những nước kém
phát triển hơn. Cuối cùng th́ bây giờ, Nhật Bản đă vươn lên được và
thoát ra khỏi những xiềng xích của sự bóc lột đó! V́ thế, đây là một
cuộc chiến tranh chánh đáng, một cuộc chiến có ư nghĩa! Làm sao
chúng tôi có thể tiếc rẻ cái mạng sống nhỏ nhoi của ḿnh cho quốc
gia, dù cho mạng sống đó có bị nghiền ra thành từng mảnh đi nữa?
Kiểu lư luận hồ đồ này đă cho phép chúng tôi đóng chặt lại tâm trí
của ḿnh.
Và thế là những học sinh chúng tôi đi
lên phi cơ, vũ trang chỉ với một cái chết chắc chắn và nhiên liệu
cho một chuyến đi không về, để một vài quyển sách triết lư đắc ư
nhất hay một cuốn kinh Tịnh Độ bên cạnh tay lái, những quyển sách
chắc chắn sẽ không được đọc tới. Có nhiều người đă lao vào tầu chiến
của địch, cũng có nhiều người đă ngă xuống trong ngọn sóng biển cao
ngất hay máy bay bị bắn rơi trước khi thi hành được nhiệm vụ.
Thế rồi, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật
Bản đầu hàng vô điều kiện. Cuộc chiến tranh mà tất cả chúng tôi đă
tưởng như là công chính, cuộc chiến mà chúng tôi sẵn sàng vui vẻ hi
sinh mạng sống của ḿnh, bỗng phút chốc, chỉ trong một đêm, trở
thành một cuộc chiến xâm lược, một cuộc chiến ác độc và những kẻ
chịu trách nhiệm cho cuộc chiến đó phải bị xử tử.
Không có ǵ chắc chắn
Dù ǵ đi nữa, tôi cũng đă trở về sống
sót từ quân ngũ. Qua làn sóng ngắn phát thanh của cái radio, một thứ
cực kỳ hiếm hoi vào thời bấy giờ, tôi lắng nghe số phận của những vị
lănh đạo Đức Quốc Xă đă đầu hàng chỉ trước Nhật có một bước. Khi
nghe câu phán quyết được đọc to lên của ṭa án Quốc tế Nuremberg
rằng, “Xử tử bằng cách treo cổ”, chỉ một chữ -- treo cổ -- đă đập
mạnh vào tai tôi khiến tôi vẫn c̣n nghe được âm hưởng của nó. Và rồi
(có lẽ qua chính sách của Quân đội Mỹ đang chiếm đóng?) một cuốn
phim tài liệu được chiếu lên. Tôi xem cuốn phim này ở một nơi hiện
thời là một cửa hàng bách hóa, trên lầu năm của một ṭa nhà đổ nát
đă tránh được không bị tiêu hủy trong khu phố chính đầy vết tích
chiến tranh tàn phá của Toyama.
Có một cảnh, một vị tướng lănh người
Đức bị lôi lên đoạn đầu đài và rồi bị treo cổ trước một đám đông tụ
tập tại quảng trường. Trong một cảnh khác, vị lănh đạo Ư Mussolini
bị đám đông đập chết và rồi treo ngược lên trên hàng rào giây thép
gai cạnh xác người yêu của ông. Cuốn phim tiếp tục với cảnh những
xác người bị kéo lê trên đường phố trong khi đám đông kêu gào chửi
rủa và ném đá lên họ.
Trong những bộ đồng phục quân đội bị
phế bỏ , tôi và những bạn học lần lượt trở về trường. Chúng tôi trở
về, những thanh niên đă mất hết niềm tin và đầy khắc khoải với câu
hỏi về thế nào là trái và phải. Tuy rằng trên nguyên tắc lớp học đă
bắt đầu lại, nhưng thực tế không ai học hành ǵ cả. Nếu có một vị
giáo sư nào bước vào lớp, sách vở trong tay, ông ta sẽ được yêu cầu
ngồi vào một bên trong khi những thành viên của quân đội trở về thay
nhau lên nói trên diễn đàn.
“Dù may mắn hay không, chúng ta cũng đă
trở về nhà, và chúng ta đă đi học lại được. Nhưng điều chúng ta nghĩ
là “phải” chỉ trong phút chốc đă biến thành “trái”. Chúng ta có thể
c̣n sống bốn mươi, năm mươi năm nữa, nhưng có thể nào chúng ta c̣n
tin tưởng được điều ǵ nữa không…thế nào là một điều “phải”, một
điều “trái” mà không bị thay đổi, biến hóa đi? Nếu chúng ta không
giải quyết được vấn đề này, dù có học nhiều đến đâu cũng sẽ không
giúp chúng ta tin tưởng vào cái ǵ được nữa. Sao, các bạn nghĩ thế
nào?”
Cứ như thế, ngày này qua ngày khác.
Trong những ngày đó, chúng tôi có một
vị giáo sư triết lư tên là Tasuku Hara, sau này trở thành giáo sư
khoa triết của trường Đại Học Tokyo. Oâng là một giáo sư thật xuất
sắc, và tôi thường luyến tiếc cho ông đă chết thật trẻ. Một ngày nọ,
vị giáo sư Hara này, mà chúng tôi thường coi như một người anh, đă
đứng lên và nhất định yêu cầu cho ông được lên tiếng.
Khi lên diễn đàn, ông nói với chúng tôi,
“Kant, một triết gia người Đức mà tôi đă nghiên cứu, có nói rằng:
Những con người chúng ta có thể suy nghĩ cả đời về ư nghĩa của
“thiện” và “ác”; nhưng chúng ta sẽ không bao giờ nghĩ ra được. Điều
duy nhất mà người ta có thể làm được là dùng một cái thước để đo
thiện và ác mà thôi.”
“Hăy nghĩ như thế này,” ông tiếp tục,
“nếu chúng ta dùng thước đo của người Nhật, cuộc chiến này là một
cuộc thánh chiến, trong khi với tiêu chuẩn của người Mỹ, đó là một
cuộc chiến tranh xâm lược. V́ thế công việc của chúng ta trong đời
không phải là dán nhăn lên cái này là thiện, cái kia là ác, nhưng là
t́m kiếm một tiêu chuẩn nào có thể áp dụng được ở bất cứ nơi nào
trên thế giới này. Nhưng cái tiêu chuẩn đo lường này không phải là
cái ǵ có thể bắt gặp được chỉ trong một ngày. Mỗi người trong các
anh phải vượt qua thời gian và không gian để t́m một tiêu chuẩn có ư
nghĩa được đối với càng nhiều người càng tốt. Và để làm được điều
này, tôi đề nghị, trước hết là các anh hăy tiếp tục học chương tŕnh
trung học của các anh đi.”
Sau khi nghe lời khuyên đầy trung thực
và thiện chí này, chúng tôi học trở lại. Tuy nhiên, chúng tôi cũng
vẫn tiếp tục những cuộc thảo luận đầy tính cách lư thuyết. Và, riêng
tôi, vẫn c̣n bị bế tắc trong câu hỏi về thiện và ác này; vấn đề này
đă nằm sâu ở trong tiềm thức của tôi.
Tôi nghĩ, thật ra đây là một vấn đề nan
giải của thời cuộc Nhật Bản, không chỉ thường thấy trong giới thanh
niên như chúng tôi, mà c̣n với những vị trung niên và lăo niên.
Chúng tôi đă không c̣n biết được thế nào là đạo đức b́nh thường. Tôi
tin rằng Nhật Bản đă rơi vào một t́nh trạng trong đó người ta không
c̣n biết đem tiêu chuẩn nào để noi theo, kể cả trong việc nuôi dạy
con cái.
Không những thế, trong cuộc đời riêng
tư của tôi lại có những thay đổi lớn lao. Đầu tiên là, năm trước khi
chiến tranh chấm dứt, tôi mất cả cha lẫn mẹ cùng một lúc: trong khi
mẹ tôi đang hấp hối, cha tôi bị đứt mạch máu năo và mất ngay sáng
hôm sau, ngày 24 tháng 8, trong cơn mê man mà không một lần tỉnh dậy.
Tôi có ba người chị lớn, nhưng tất cả
đều đă lập gia đ́nh và ở xa. Họ sống ở Moji, Thượng Hải, và Măn
Châu. Trong t́nh trạng di chuyển bất tiện của thời ấy, không một chị
nào của tôi có thể về dự đám tang. Tôi trở thành người duy nhất c̣n
lại trong gia đ́nh, phải lo việc ma chay, và tôi đă hoàn tất mọi
việc trong hai ngày với sự giúp đỡ của họ hàng thân thuộc. Thế rồi,
trước khi tôi có thể sắp xếp được ǵ, lệnh nhập ngũ tới và tôi phải
ra đi vào quân đội.
Trở về nhà sau chiến tranh, tôi phải
đương đầu với hai vấn đề một lúc, vấn đề bất động sản và thuế đất.
Gia tộc tôi từ lâu đời vốn là những địa chủ, và số đất ít ỏi mà
chúng tôi có hiện giờ đang được cho thuê mướn lại. Cha tôi luôn luôn
dạy tôi là, “Không có ǵ bền vững hơn là đất. Dù cho có bị hỏa tai,
đất cũng không cháy được. Dù cho có bị lụt lội, đất cũng không trôi
mất. Nếu có kẻ trộm vào, nó cũng không đem đất đi đâu được. Dù con
có làm ǵ khác trong đời, cũng không nên để mất miếng đất này.”
Nhưng rồi, sự việc đă xẩy ra là, mặc dù
tôi không làm ǵ cả, mảnh đất của gia đ́nh tôi đă bị tịch thu trong
chương tŕnh cải cách đầy tham lam của chính phủ. Bây giờ, cả đất
cũng mất đi, tôi c̣n ǵ để tin tưởng vào nữa? Tất cả những điều tôi
cho là chắc chắn trước đây đă trở thành không c̣n chắc chắn nữa.
Cuộc chiến tranh tôi cho là thánh thiện
đă trở thành một cuộc chiến xấu xa. Tôi không nghĩ là cha mẹ tôi sẽ
chết đi đột ngột như vậy, nhưng rồi họ đă ra đi, người nọ theo người
kia ngay sau đó. Số tiền bảo hiểm mà cha tôi đă để riêng ra để pḥng
hờ cho các con trong trường hợp có điều bất trắc xẩy ra cho ông đă
bị phong tỏa lại, và không một xu nào được đưa cho tôi cả. Và miếng
đất vốn dĩ đă làm nền tảng cho gia đ́nh xưa nay bỗng chốc bị mất đi.
Đồng thời trong lúc đó, vật giá lên cao
liên tục. Cái mua với giá một yen ngày hôm nay tăng vọt lên thành
mười yen hôm sau, và trước khi người ta kịp biết, phải cần đến tờ
giấy bạc 100 mới mua được! Trong thời đó, thực tế là không hề có
chuyện đi làm bán thời gian đối với các sinh viên học sinh. Do đó,
tôi không có một chút kinh nghiệm ǵ trong việc đem hai bàn tay
trắng ra đi làm nuôi thân. Ngoài vấn đề tiêu chuẩn đạo đức, c̣n có
câu hỏi nan giải trước mắt là làm sao tôi có tiền để sinh sống được
đây.
Nh́n lại những ngày ấy, tôi nhận ra
rằng nếu lúc ấy tôi có gia nhập một đám băng đảng nào đó cũng không
phải là điều đáng ngạc nhiên. Và cũng không có ǵ lạ nếu tôi có nhẩy
vào đường rầy xe lửa mà tự tử. Mỗi buổi sáng tôi thức dậy cảm thấy
thật thống khổ, mỗi một ngày qua đi trong sự vô vọng. Đêm đến tôi
thiếp ngủ đi tinh thần xuống dốc hơn lúc nào hết, để rồi sáng hôm
sau thức dậy càng cảm thấy đen tối hơn.
Cái ṿng lẩn quẩn ác nghiệt này tiếp
tục ngày này qua ngày khác, nhưng rồi tôi vẫn tốt nghiệp được trung
học. Tuy nhiên, v́ không có một chút ư định nào muốn ghi tên vào một
trường đại học hay học một ngành ǵ cả, tôi chỉ vất vưởng qua ngày
một cách lười biếng. Rồi, giữa lúc tinh thần đang đau khổ cao độ như
thế, một ngày kia tôi nhận ra rằng: từ xưa tới giờ, tôi chẳng làm ǵ
cả ngoài việc chỉ biết đọc sách, thâu thập kiến thức và xoay quanh
những lư thuyết. Lư do khiến tôi không biết phải làm ǵ với tôi hiện
nay, hóa ra là, tôi chưa từng biết xử dụng thân ḿnh một cách có kỷ
luật bao giờ cả.
Cuộc gặp gỡ trong bước
đường cùng
Thế rồi, sự kết hợp kỳ bí của những
nhân duyên nào đó đă khiến tôi lê bước đến gơ cửa nơi các thiền viện.
Tôi vẫn c̣n cảm thấy thật biết ơn, là sau khi đến viếng thăm vài ba
ngôi chùa, tôi đă được giới thiệu đến chùa Daishuin ở Kyoto, mà ngày
nay tôi vẫn c̣n ở, dưới sự hướng dẫn của Đại Sư Zuigan Goto. Đại sư
Zuigan trước đây đă trụ tŕ chùa Myoshin-ji (Diệu Tâm Tự) và lúc bấy
giờ đang trụ tŕ chùa Daitoku-ji (Đại Đức Tự), là một con người vĩ
đại vô cùng.
Tôi xuất hiện nơi ngưỡng cửa của Đại sư,
mái tóc để dài bết lại, rối bời, một cái khăn vắt vẻo nơi bụng, chân
đi đôi guốc gỗ nặng nề . Câu đầu tiên con người vĩ đại này nói với
tôi là:”Tại sao anh đến đây?”
Để trả lời, tôi nói lan man trong một
tiếng rưỡi đồng hồ, kể lể hoàn cảnh của tôi từ trước tới giờ và t́nh
trạng hiện nay ra sao. Đại sư im lặng lắng nghe, không tỏ vẻ muốn
nói chen vào một tiếng nào.
Sau khi tôi đă nói xong, ngài nói:
“Nghe anh nói từ nẫy giờ, tôi có thể thấy được rằng anh đă tới t́nh
trạng không c̣n tin tưởng được ở điều ǵ nữa. Nhưng trong việc học
đạo, không thể nào làm được ǵ nếu không tin tuởng nơi người thầy
của ḿnh. Anh có tin được tôi không?
Nếu anh tin
được, tôi sẽ nhận anh ngay bây giờ, ngay trong t́nh trạng này. Nhưng
nếu anh không thể tin tưởng được tôi, th́ anh có ở đây cũng chỉ phí
th́ giờ, và tốt hơn là anh nên trở về chốn cũ của ḿnh.”
Zuigan đại sư, ngay từ đầu, đă khẳng
định một cách kiên quyết về điều luật phải tin tưởng hết ḷng nơi
thầy của ḿnh, nhưng tôi lúc đó chưa có đủ hiểu biết để có thể nói
một cách sẵn sàng và thành thực rằng: “Dạ được!”
Đại sư lúc đó đă bẩy mươi tuổi, và tôi
tự nhủ thầm. “Ông già lẩm cẩm! Ông ấy là ḥa thượng trụ tŕ chùa
Diệu Tâm hay chùa Đại Đức th́ đă sao. Thiếu ǵ “nhân vật quan trọng”
trên đời này cũng chẳng ra cái ǵ. Nếu tin tưởng dễ dàng, không điều
kiện như vậy được một người tôi mới chỉ gập lần đầu, th́ tôi đă tin
được vào một cái ǵ trước khi tôi đến đây rồi! Chẳng phải là tôi đến
đây chỉ v́ tôi không thể nào tin tưởng dễ dàng được cái ǵ sao?”
Tất cả những ư tưởng kia chạy băng
ngang qua trí óc tôi, nhưng ngay từ đầu tôi đă biết là nếu tôi nói
ra, tôi sẽ bị trả lời thẳng thừng là: “Nếu vậy th́ anh đến đây chỉ
mất th́ giờ vô ích. Hăy trở về đi.”
Tôi tự nghĩ, dù cho tôi có nói láo,
nhưng miễn là tôi có nói những lời ấy ra, vị thầy sẽ cho tôi được ở
lại, nên bèn nói: “Con tin tưởng nơi thầy. Xin thầy hoan hỉ nhận
con.”
Lúc ấy, tôi không hề biết chút ǵ về
sức nặng của chữ “Con tin tưởng”, nhưng đó là một bài học mà tôi
được dạy ngay sau đó, trước khi hết ngày.
Không có ǵ là rác
“Hăy đi theo ta,” đại sư ra lệnh, và
ngài giao cho tôi công việc đầu tiên, đó là quét dọn vườn. Đi cùng
với lăo sư bẩy mươi tuổi ra ngoài vườn, tôi bắt đầu làm việc quét
dọn với một cây chổi tre. Những vườn thiền trong khuôn viên các chùa
thường được bố trí cẩn thận với những loại cây cho lá rụng quanh năm.
Không những mùa thu những cây phong lá rụng đầy, mùa xuân đến những
cây sồi và cây khuynh diệp cũng thay lá luôn. Khi tôi vừa đến đó vào
tháng tư, mảnh vườn đă rải rác đầy lá rụng khắp nơi.
Con người (hay có lẽ là tâm tôi th́
đúng hơn) thật sự ra rất là xấu tính. Tôi đứng đây, trong tâm đang
rủa thầm “ông già lẩm cẩm” này và chống lại ngay cả cái ư tưởng là
có thể tin tưởng dễ dàng được một điều ǵ như vậy; nhưng cùng lúc đó,
tôi lại muốn ông già này chú ư tới tôi, nên tôi cầm chổi lên quét
lia quét lịa. Chẳng mấy chốc tôi đă vun đám lá rụng thành một đống
lớn. Hăng say tỏ ra vẻ chăm chỉ, tôi hỏi: “Đại sư, con vứt đống rác
này đi đâu?”
Lời nói vừa mới ra khỏi miệng tôi, ông
đă mắng ngay:
“Không có rác ǵ hết!”
“Không có rác à.. thế sao, thầy xem cái
đống này,” tôi gắng chỉ cho ông thấy đống lá trước mặt.
“Vậy là mi không tin ta hả! Có phải
không?”
“Không phải thế.. nhưng.. con phải vứt
mấy cái lá này đi đâu bây giờ?” Tôi chỉ c̣n biết nói như vậy.
“Mấy cái lá ấy không vứt đi đâu cả!”
Ông lại gầm lên.
“Vậy con phải làm ǵ?” Tôi hỏi.
“Đi ra nhà kho đàng kia lấy cho ta cái
túi đựng than”, thầy ra lệnh.
Khi tôi trở lại, thầy đang cắm cúi cào
cái núi lá kia, sàng cho những lá nhẹ lên trên mặt, và đất cát, sỏi
đá nặng hơn cho rơi xuống dưới. Sau đó ông bắt đầu nhồi lá vào trong
cái túi tôi đem ra từ nhà kho, lấy chân dậm cho chúng xẹp xuống. Sau
khi đă nhét chặt tới chiếc lá cuối cùng vào trong túi rồi, ông nói:
“Đem cái này ra nhà kho. Ḿnh sẽ dùng nó để đun nước tắm.”
Trong lúc đi ra nhà kho, tôi thầm công
nhận rằng cái túi lá tôi đang mang trên vai này có lẽ chẳng phải là
rác; tôi cũng nhủ thầm rằng cái đống c̣n lại ngoài vườn kia rơ ràng
chỉ là rác, và không có ǵ khác hơn là rác cả. Nhưng khi trở lại,
tôi thấy Thầy đang ngồi xổm trên cái đống c̣n lại, lượm ra từng
viên đá. Sau khi Thầy đă cẩn thận nhặt lên viên đá cuối cùng, ông
nói: “Lấy mấy đá sỏi này ra trải ở dưới ống máng nước mưa.”
Khi tôi trải những viên đá trộn lẫn với
sỏi đă có sẵn ở đó, và lấp đầy những chỗ bị xoáy bởi nước mưa, tôi
nhận thấy những lỗ này không những được lấp đầy, mà trông c̣n đẹp
hẳn lên. Tôi lại phải công nhận rằng những viên đá này cũng không
xếp loại là rác được. Nhưng chưa hết: vẫn c̣n những miếng đất, những
mảnh rêu sót lại từ cái đống hồi nẫy. Ai có thể làm ǵ được với
những thứ đó, tôi tự hỏi.
Tôi thấy Thầy đang lúi húi nhặt những
miếng này lên và để chúng vào trong ḷng bàn tay, từng cái một. Ông
đảo mắt t́m kiếm những cái khe, những chỗ lơm trên mặt đất, rồi trám
chúng vào đó và đập chân lên cho bằng. Rốt cuộc, chẳng c̣n lại một
chút ǵ từ đống lá hồi nẫy cả.
“Sao?” ông hỏi. “Mi có hiểu hơn được
một chút nào chưa? Từ nguyên thủy, dù là người hay vật, chẳng có cái
ǵ là rác cả.”
Đấy là bài pháp đầu tiên mà tôi được
nghe từ Đại sư Zuigan. Tuy bài pháp đó có gây cho tôi một ấn tượng,
nhưng tiếc thay, tôi không có đủ trí tuệ để đạt ngộ khi nghe những
lời lẽ đó.
“Từ nguyên thủy, dù là người hay vật,
không có cái ǵ là rác cả.” Những lời lẽ này chỉ thẳng tới chân lư
căn bản của Đạo Phật, một chân lư tôi chưa thể nhận ra được trong
những ngày tháng đó.
“Kỳ diệu thay! Mọi chúng sanh vốn là
đều là Phật, đều có sẵn trí huệ và đức hạnh nơi ḿnh. Chỉ v́ chấp
chặt nơi những vọng tưởng sai lầm mà chúng sanh mới không thể nhận
ra điều đó được.” Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă thốt lên điều đó trong
giây phút ngài được giác ngộ. Nói một cách khác, mọi chúng sanh
nguyên thủy vốn đă toàn hảo, nhưng bởi v́ bám víu vào những khái
niệm si mê, nên họ không thể nhận thức được Phật tánh có sẵn nơi
ḿnh.
Trong giây phút chớp nhoáng, màn sương
che phủ trước mắt ngài tan biến đi, và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă
thấy được chân lư hiện tiền. “Từ đó tới giờ, ta đă nghĩ rằng tất cả
chúng sanh trong thế giới này chỉ sống trong sự đau khổ và khốn cùng,
trong những bất hạnh sâu xa. Nhưng thực ra, chẳng phải là tất cả mọi
chúng sanh, ngay nơi hiện thân của họ, đều đang sống trong tánh Phật,
đều đang có sẵn sự toàn hảo tuyệt đối đó sao? Và chẳng phải là điều
này không chỉ áp dụng cho những người đang khỏe mạnh an vui nơi thân
và tâm, mà c̣n với những kẻ mù ḷa, những kẻ tật nguyền không có tay
chân, phải kéo lê thân xác ḿnh một cách khó khăn đó sao? Chẳng phải
là mỗi người trong chúng ta, ngay trong trạng thái hiện tại của ḿnh,
đều là một thực thể toàn hảo, không khiếm khuyết đó sao?” Ḷng đầy
cảm kích và kinh ngạc, Đức Phật đă thốt lên như vậy trong giây phút
giác ngộ của ngài.
Mỗi năm, tôi đều đi Hokkaido để thuyết
giảng, và có một năm, sau khi nghe tôi nói chuyện, một thiếu phụ xin
đến gặp tôi. Thiếu phụ này, vốn là người rất sùng mộ đạo Thiên chúa,
đă nói như sau: “Nghe thầy nói chuyện hôm nay, con thấy rằng tất cả
những điều Đạo Phật muốn khuyên người ta làm chỉ là buông bỏ hết đi
những dục vọng. Trong khi đó, đạo Thiên Chúa nói rằng: “Hăy hỏi xin,
ngươi sẽ được cho. Hăy t́m kiếm, ngươi sẽ được thấy. Hăy gơ cửa, cửa
sẽ mở ra cho ngươi. Những lời dạy đó đáp ứng được những kỳ vọng của
giới thanh niên trẻ tuổi như con đây. Thầy nghĩ sao về vấn đề này?”
Tôi trả lời cô ta bằng một câu hỏi khác.
“ Nói như thế có nghĩa là không cần biết cô gơ cửa như thế nào, t́m
kiếm ra sao, cô cũng sẽ được ban bố, cũng sẽ được mở cửa ư? Chẳng
phải là trừ khi người ta t́m kiếm và gơ cửa cách nào để có thể cảm
ứng được với Tâm của Thượng đế, cửa mới mở ra được, và điều ước
nguyện mới được ban cho sao?”
Tôi đă nghe nói đến câu nói của đạo
Thiên chúa rằng: “Ta làm ra con đường của ḿnh, nhưng Chúa sẽ định
hướng những bước đi trên đó.” Một cách tóm tắt, ta có quyền ước muốn
và lựa chọn, t́m kiếm tha hồ, nhưng Thượng đế mới định đoạt những
nguyện vọng của ta có thể thành tựu được hay không.
Cũng vậy, Đạo Phật không chỉ nói là
phải vứt bỏ hết mọi ước muốn, dẹp hết mọi t́m kiếm. Nhất là ở trong
sự tu tập Thiền, chúng ta gơ vào cánh cửa ấy qua sự hành tŕ thật
gắt gao, hầu như là có thể mài dũa tới tận xương tủy của ḿnh vậy.
Tuy nhiên, đạo Phật chỉ ra rằng, sau khi đă t́m kiếm hết tất cả,
điều chúng ta đạt được lại là sự nhận thức rằng những ǵ ta t́m kiếm
vốn đă luôn luôn có sẵn nơi ta, rằng sau tất cả những công phu miên
mật, chúng ta thức tỉnh thấy được rằng thật ra là cửa đă sẵn mở từ
trước khi chúng ta bắt đầu gơ vào đó.
Như vậy, các bạn thấy rằng, Đại sư
Zuigan đă chỉ ra sự thật căn bản nhất từ đầu khi ngài nói, “Từ
nguyên thủy, dù cho ở người hay vật, không có ǵ là rác cả.” Đáng
tiếc là tôi đă không hiểu được ngài. Tôi tiếp tục làm ra vẻ như ḿnh
là một đệ tử đang tin tưởng hết ḿnh vào Thầy, nhưng trong thâm tâm
tôi vẫn thường chê bai và chống đối lại. Nói trắng ra là, gần như
hầu hết những lời thầy nói đều làm cho tôi cảm thấy bực bội.
Chỉ c̣n biết lau chùi
Nhiều người thường khinh rẻ những hoạt
động cần thiết cho nhu cầu căn bản hàng ngày, nhưng đối với tôi,
những việc đó không được xem là lam lũ chân tay. Nếu bạn muốn nh́n
phong cảnh bao quát toàn diện ở ngoài, bạn phải trèo lên một địa
điểm cao mới thấy được rơ. Nhưng nếu bạn muốn thấy tâm con người,
bạn phải bước xuống mà nh́n từ một chỗ thấp.
Ngay sau khi vào thiền viện, tôi đă
phải làm điều đó qua công việc lau dọn hàng ngày. Từ sáng đến tối,
tâm trí tôi không c̣n có ǵ khác hơn là chỉ biết đến lau chùi. Điều
đó dẫn đến một kinh nghiệm oái ăm, phát hiện ra một khía cạnh gai
góc trong sự tu tập.
Nếu có người nào đó biết rằng họ sẽ
hiểu được phần nào chân lư qua việc quét dọn lau chùi, họ có thể bị
vướng mắc trong sự thực hành này và rồi nhận ra rằng thực ra họ đang
đi xa rời khỏi sự nhận thức chân lư ấy. Tâm của họ đă bị chướng
ngại bởi chính sự thực hành này.
Một buổi sáng, sau khi tôi đă dọn bữa
điểm tâm và mời ngài ra dùng, Zuigan đại sư chậm răi bước ra pḥng
ăn nói rằng: “Này, đi vào pḥng của ta, đứng ở chỗ cái bàn nh́n về
phía bệ thờ xem.”
Thường thường, tai của một sa di mới
nhập viện hay nghe thấy giọng nói của thầy ḿnh như là đang tức giận.
V́ thế, khi nghe Thầy nói vậy, tôi giật ḿnh nghĩ thầm: “Chết rồi,
ḿnh lại quét dọn hỏng ǵ nữa đây” và rồi lập tức chạy vào trong
pḥng thầy.
Pḥng của thầy rất nhỏ hẹp, chỉ độ bốn
chiếu rưỡi (diện tích chừng 3m x 4m). Khoảng cách giữa bàn của ông
với bệ thờ chưa đầy hai mét, nhưng mặc dù tôi đă xem xét cẩn thận
khu vực này, tôi cũng không t́m ra được một vết bụi hay một giọt
nước nào nhỏ xuống. Tôi ḅ ra sàn nhà t́m khắp nơi, nhưng chẳng thấy
chỗ nào có vẻ có vấn đề cả.
Tôi ngồi thừ người ở đấy, cố t́m hiểu
tại sao Thầy lại giận dữ với ḿnh, nhưng không thể nào nghĩ ra được.
Thôi cũng đành, lại phải ra chịu đựng sự mắng mỏ thôi, tôi vừa nghĩ
vừa đi trở lại pḥng ăn. “Con không hiểu con đă làm ǵ sai trong
việc quét dọn pḥng thầy,” tôi bứt rứt nói, “Xin thầy dạy cho con
biết.”
“Đồ ngu!” Ông quát lại. “Ai bảo là mi
làm ǵ sai trong việc quét dọn đâu? Sáng nay ta vừa cắm một bông
hồng Sharon ở trong cái lọ. Trông nó thật hài ḥa với tấm liễn ở
trên, thật là đẹp mắt, nên ta bảo mi đi vào đó xem. Mi có thấy cái
bông hồng chứ?”
Tôi chợt nhận ra rằng, sự thực là tôi
chẳng để ư thấy cái bông hồng nào cả. Tôi trở lại pḥng Thầy để nh́n.
Bệ thờ được đặt trước một bức tường xưa đă đứng đó từ hơn 250 năm
nay, mầu sắc đă sẫm lại. Trên bức tường mờ tối đó, một tấm liễn treo
dọc xuống, vẽ theo kiểu thư pháp một chữ “Lộ” (sương) duy nhất.
Khi một vị thiền tăng viết chữ “Lộ”,
ông không có ư muốn nói đến một hiện tượng thiên nhiên, mà ngụ ư
đến sự hiển lộ trực tiếp. Không có ǵ có thể che dấu ở đâu được.
Chân lư, hay Pháp, đều lộ ra ở khắp mọi nơi, khắp mọi vật. Phật tánh
đều lộ ra trong tất cả vạn pháp. Nếu ta để cho những lớp vẩy che mắt
chúng ta rơi xuống, ta sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ, trong tất cả
mọi nơi đều hàm chứa chân lư tràn đầy; mọi thứ mọi nơi đều tràn đầy
tính Phật, mọi thứ mọi nơi đều có chân giá trị của chúng. Đó là ư
nghĩa chữ “Lộ” của tấm liễn treo tường kia.
Bên dưới tấm liễn, một đóa hoa lớn mầu
trắng tinh khiết dường như đang nổi lên từ bức tường vôi cổ, chan
ḥa một vẻ đẹp huyền diệu trước mắt người xem.
Chỉ mấy phút trước đây thôi, tôi đă
không thấy được đóa hoa đó. Mắt của tôi đă đóng chặt lại không thấy
nó. Đó chính là cái khó khăn gặp phải trong sự tu tập.
Sự bỏ xót ấy của tôi trở thành một đề
tài cho những bài giảng dạy của thầy. Sau khi tôi đă phạm phải lỗi
lầm này, Zuigan đại sư thường hay nói trong những câu chuyện là:
“Nếu tâm ta bị vướng mắc, bị chướng ngại, ta sẽ không thể thấy được
ngay cả những vật mà mắt ta đang nh́n đến. Có biết không, hôm trước
đây, có một tên ngu muội ngồi kia...”
Lời răn dạy của Khổng Tử
Vị lăo sư bẩy mươi tuổi của tôi đă học
hành chuyên cần ở Trường Đại học Tokyo và đă tốt nghiệp thủ khoa
trong khóa; ông đă thấu tỏ con đường Thiền đang đi và rồi đă là viện
trưởng của hệ thống các thiền viện Đại Đức. Đó là tiểu sử thân thế
của ông, trong khi tôi đây … tuổi sấp xỉ đôi mươi, chẳng có ǵ để
phô trương ngoài học vấn trung học của thời xưa cũ, chẳng bao giờ
lên đại học … tôi đă là đệ tử của ông. Với vị trí thấp kém của ḿnh,
tôi ngưỡng vọng lên Thầy như một người ở dưới ngước lên nh́n núi Hi
Mă Lạp Sơn.
Và thế là tôi, trong những ngày mới vào
tu tập đó, chưa chi đă thấy tuyệt vọng khi nghĩ đến tương lai, cảm
thấy như là chẳng có ích lợi ǵ đểø tiếp tục, và tự hành hạ ḿnh với
ư tưởng là không thể nào ḿnh xứng đáng để có ngày bước thế vào bước
chân của Thầy được. Thỉnh thoảng, khi tiếp được một vài sự ngợi khen
của Thầy, tôi thấy ḿnh như bay vút lên trên mây cao, nhưng rồi sau
đó lại rơi ngay xuống vực sâu của tuyệt vọng.
Sự khó khăn của tôi không phải là riêng
biệt. Có lẽ gần như tất cả mọi người, từ thời xa xưa cho tới nay,
khi bắt đầu học đạo đều phải trải qua những t́nh huống như vậy. Một
thí dụ là Tử Lộ, học tṛ của Khổng Tử ở Trung Hoa ngày xưa. Tử Lộ
đă sống một cuộc đời phóng đăng cho đến khi ông t́nh cờ đâm bổ vào
một lớp học trong đó Đức Khổng Tử đang dạy Đạo cho đệ tử của ngài.
Bị thu hút bởi cá tính của vị Thầy, Tử Lộ đă trở thành học tṛ của
ngài. Tử Lộ vốn là một người rất tự tin nơi sức mạnh thể lực của
ḿnh, nhưng rồi ông sớm nhận ra rằng Khổng Tử không những là một
người dạy Đạo bằng sự ôn ḥa và đức hạnh của ḿnh, mà c̣n có một sức
mạnh mà Tử Lộ không thể nào sánh bằng. Khổng Tử thông hiểu sâu xa
tâm lư của tầng lớp dân chúng hạ lưu, khiến Tử Lộ phải tự hỏi không
biết trước đây Ngài đă có đời sống như thế nào. Kiến thức của Khổng
Tử sâu rộng đến nỗi các đệ tử của Ngài đều không ai hiểu được ngài
như thế nào cả. Tuy là một đệ tử rất chuyên cần, Tử Lộ cũng e ngại
rằng ḿnh sẽ không thể nào bắt kịp được Thầy.
Trong một dịp, Đức Khổng Tử buông lời
khen ngợi một trong những đệ tử của ngài là Nhan Hồi, nói rằng: “Hay
thay Hồi sinh! Chỉ sống với một cái bát tre, một ngụm nước, ở trong
một ngơ hẻm chật hẹp. Những người khác chắc sẽ thấy đời sống đó buồn
chán không chịu nổi, nhưng Hồi lúc nào cũng vẫn lạc quan, vẫn giữ
vững tinh thần như thường. Thật là đáng ca ngợi!”
Ư của Khổng Tử muốn nói là:,”A, thằng
đệ tử Hồi đó của ta, nó thật là một người phi thường. Nó ăn thức ăn
tồi tàn nhất, uống nước lạnh không thôi” -- ở bên Tầu v́ nước xấu,
cho nên uống trà là một sự thường t́nh, mà nếu trong cuộc sống chỉ
có uống nước lạnh không th́ quả là một điều đáng chú ư! -- “và ở
trong một căn nhà lụp xụp. Hầu hết mọi người sẽ thấy đó là một điều
khổ hạnh không chịu nổi và sẽ cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng Nhan Hồi
th́ không thế! Dù cho có cuộc sống như vậy, cũng không có ǵ ngăn
cản được anh ta hoan hỉ đi theo con đường Đạo. Thật là một con người
kỳ diệu thay!”
Lúc đó, Jan Yu, một đệ tử đang có mặt,
đă nêu lên rằng: “Không phải là con không tin vào Đạo mà thầy và các
vị sư huynh tiền bối như Nhan Hồi đă thực hành. Nhưng có điều là có
những người trong chúng con không đủ khả năng để làm được như vậy.”
Khổng Tử khi ấy, thật khác với lúc
thường, đă trách mắng Jan Yu một cách nặng nề về sự giải đăi này,
“Thiếu khả năng là một cái cớ cho những người ít nhất đă từng thử
một lần, đă đi được một phần nào đường. Nhưng ngươi! Ngay trước khi
ngươi bắt đầu thử cái ǵ đă tự giới hạn khả năng của ḿnh rồi!”
Khổng Tử đă răn dạy cho Jan Yu một bài
học đích đáng.
Tất cả mọi người chúng ta đều có những
lúc muốn thốt lên những lời như vậy, muốn trốn tránh trách nhiệm của
ḿnh. Ngay cả tôi, khi đang kể lại câu chuyện răn dạy Jan Yu này,
cũng đă từng cảm thấy y như ông ta khi c̣n là một đệ tử. “Không thể
nào được. Thầy làm được những điều ấy v́ ngài thông hiểu Phật pháp,
v́ ngài là một con người vĩ đại. Nhưng tôi, tôi chỉ là một con người
tầm thường ...” đây không phải là sự khiêm nhường, mà là sự bào
chữa v́ đă tự nuông chiều ḿnh!
Và bây giờ, tôi nhận ra rằng các đệ tử
của tôi sẽ có những h́nh ảnh thế nào về tôi. Có thể là họ không
ngưỡng vọng tôi như tôi đă ngưỡng vọng Zuigan đại sư, nhưng họ dường
như vẫn nghĩ rằng không thể nào họ có khả năng sánh bằng với tôi
được.
Nếu thực là như vậy, từ đó tới giờ tôi
đă hoàn thành được những ǵ? Tôi không có hứng khởi muốn vào học
trường Đại học Tokyo và tốt nghiệp ở đó ra như đại sư Zuigan. Tôi
cũng không trở thành Viện trưởng một thiền viện nào. Điều tôi làm
được chỉ là: khi đến lúc phải làm việc trong bếp, tôi đă dùng hết
sức ḿnh để làm việc trong bếp.
Trên đời này bạn không thể nỗ lực làm
ǵ mà không kể đến giá trị của chính sự nỗ lực đó. Trong mỗi thứ và
trong tất cả đều thể hiện tâm của ḿnh trong đó, đều là sự hiển lộ
của Phật, sự biểu thị của Pháp. Khi tôi mới bắt đầu bước vào tu
viện, đại sư Zuigan, đang đứng quét vườn bên cạnh tôi, đă chỉ ra cho
tôi điều đó khi ngài nói rằng: “Sao, mi đă hiểu chưa? Từ nguyên thủy,
dù ở người hay vật, cũng không có ǵ là rác cả.” Tuy vậy, tôi đă
phải mất thời gian đi một đường ṿng xa thực hành tu tập mới hiểu
được điều này.
“Khi cầm chổi lên, hăy trở thành cái
chổi ; khi bưng bát cơm, hăy trở thành bát cơm.” Đó là những câu nói
thông thường ở trong Thiền, nhưng vấn đề là: làm sao thực hành được
trong đời sống hàng ngày đây?
Việc phải lo
Trong những thiền tự, bữa điểm tâm bằng
cháo được tiếp theo với tuần trà trong pḥng của vị thiền sư. Thiền
sư duyệt qua công việc phải làm hàng ngày trong khi một ấm trà xanh
bột được khuấy kỹ rồi dâng lên cho ông đầu tiên, và những người khác
tiếp theo. Khi tôi mới đến học đạo với lăo sư Zuigan, có một nữ nhân,
tên là Okamoto, cũng đang sống ở trong chùa Daishuin. Người đàn bà
lớn tuổi này đă tốt nghiệp truờng nữ đại học Ochanomizu dưới triều
đại Taisho và đă làm việc trong ngành giáo dục nữ sinh trong nhiều
năm, cả ở Tokyo lẫn Kyushu. Khi đă ngoài 40 tuổi, cô trở thành một
đệ tử nghiêm túc của Thầy. Cô xin nghỉ việc và dọn đến ở gần với
Thầy, và, lúc nào cũng trong bộ quần áo lao động thùng th́nh, cô đă
chăm nom săn sóc Thầy cho đến khi ngài viên tịch. Vào lúc ấy, ở chùa
chỉ có ba chúng tôi, và trong khi dùng trà Đại sư thường nói chuyện
với cô Okamoto, nhưng ngài chẳng bao giờ thèm nói với tôi tiếng nào.
Một hôm cô Okamoto, có lẽ v́ thương hại,
đă đem tôi vào câu chuyện. “C̣n con nghĩ thế nào, Morinaga?”
“Không, không,” Lăo sư nói chen vào.
“Nó chưa đủ tư cách để nói trước mặt ai hết.”
Theo quan niệm của lăo sư, muốn nói
chuyện trước người khác, người ta phải tự biết ḿnh hoàn toàn mới
được. Sự nhận biết bản thể của chính ḿnh được gọi là Kiến Tánh
trong thiền môn. Những người chưa kiến tánh được coi như chưa đủ tư
cách để nói chuyện trước mặt người khác.
Sự việc này làm tôi tức tối, và một lần
nữa tôi lại rủa thầm trong bụng, “Ông già đáng ghét! Ông ấy nói
chẳng có người nào, vật nào là rác cả, nhưng ông ấy đối xử với ḿnh
có khác ǵ rác rến đâu?”
Tôi chỉ nghĩ thầm như vậy thôi. Nhưng
nếu tôi dám tỏ lộ thái độ ra ngoài, chắc mọi sự sẽ chấm dứt ngay!
Lăo sư chắc sẽ nói thẳng với tôi không ngần ngại rằng: “Thế à, vậy
th́ mi trở về nhà đi. Không ai có thể học đạo với một vị thầy mà
không tôn kính và tin tưởng vị thầy ấy được.”
Qua kinh nghiệm của tuần trà này, tôi
hiểu rằng sự tin tưởng thực sự tức là sự chấp nhận mà không có quyền
thắc mắc. Tôi phải đồng ư nhận bất cứ công việc ǵ, cho dù nó khó
khăn vượt bực đến đâu. Cho dù tôi có được bảo phải làm ba việc cùng
một lúc, cho dù tôi được bảo phải làm điều ǵ tôi chưa từng làm,
tôi cũng không bao giờ, dưới bất cứ hoàn cảnh nào, được nói rằng:
“Con không làm được. Điều đó không thể làm được.”
Nếu vậy, tôi phải làm sao bây giờ? Sống
chết, tôi cũng phải dồn hết mọi nỗ lực tập trung vào công việc … đó
là điều duy nhất tôi có thể làm được. Điều đầu tiên mà Đại sư đă
nhồi nhét vào trong tôi là phải tin tưởng nơi vị thầy. Điều đó có
nghĩa là tôi phải lo làm công việc của chính ḿnh, qua sự cố gắng
toàn diện, và không được than phiền chút nào.
“ Không thể làm được ”
Khi xưa lúc cha mẹ tôi c̣n sống và khỏe
mạnh, tôi thường cằn nhằn suốt ngày, và câu nói “Con không thể làm
được” lúc nào cũng sẵn sàng trên đầu môi chót lưỡi của tôi. Tuy vậy,
tôi để ư thấy rằng câu “Con không thể làm được” mà lúc nào tôi cũng
nói luôn mồm này, thực sự ra không phải là một lượng định vô tư về
sự thiếu khả năng một cách khách quan, mà sự thiếu khả năng đó là
dựa trên sự lượng định đầy chủ quan của tôi về năng lực của ḿnh vào
thời điểm đó.
Khi bạn nghĩ rằng bạn có khả năng, tỷ
như là, tới 10.0 chẳng hạn, tất cả những ǵ lên đến 9.9 là có thể
làm được; cái cảm tưởng “Không thể làm được” khởi lên đúng vào lúc
bạn được giao cho một công việc lên đến 10.1. Người nào mau chóng
cho rằng một công việc nào đó là không thể làm được sẽ không bao giờ
làm được một việc ǵ quá 10.0. Người đó sẽ chẳng bao giờ khá hơn
được. V́ vậy, bạn không bao giờ nên nghĩ rằng, “Tôi không làm được”.
Không cần biết thầy của ḿnh đ̣i hỏi
ḿnh tới mức nào, bạn phải luôn luôn làm tṛn nhiệm vụ. Bạn phải cố
gắng không ngừng để lo cho xong việc, và trong khi bạn leo thang …
từ 10.1, 10.2, 10.3 … bạn sẽ dần dần phát triển, lần đầu tiên, một
khả năng mà bạn không bao giờ ngờ là bạn có thể có được.
Giả tỷ như bây giờ Thầy tôi ra lệnh, “Giết!”
hay “Chết đi!” Tôi có sẽ phải giết, hay chết thực không? Tôi sẽ phải
làm ǵ bây giờ? Nếu nhận những lệnh như vậy, làm sao người ta có thể
tin tưởng được vị thầy đó?
Trước hết, chúng ta phải nhận biết rằng
người thầy mà chúng ta tin tưởng sẽ không bao giờ bảo chúng ta làm
một điều ǵ vô đạo đức. Do đó, khi vị thầy dùng đến chữ giết hay là
chết, những chữ này phải có một ẩn ư sâu xa, mà người đệ tử chưa thể
hiểu được.
Và rồi, chấp nhận rằng những ngôn từ
được dùng có một ư nghĩa khác sâu xa hơn, nhưng không hiểu ư nghĩa
ấy như thế nào, người đệ tử thấy ḿnh bị dằn vặt bởi một mối nghi
lớn. Đeo đẳng mối nghi này trong tâm, thường xuyên bị thúc đẩy với ư
nghĩ về nan đề trước mắt, người đệ tử dồn hết sức lực để lo tập
trung tu tập. Điều đó, theo nhà Thiền, gọi là “đại tín căn”.
Những câu như là “Giết Phật, giết Tổ”
và ngay cả “Giết cha, giết mẹ” xuất hiện nhan nhản trong những văn
bản của Thiền tông. “Đại tín căn” trong Thiền là làm tới nơi tới
chốn những ǵ được giao cho, đúng với ư nghĩa của chữ này. Bất kỳ
bạn có nghe nói ǵ, bất kỳ bạn có được giao cho việc ǵ, bạn cũng
làm việc đó một cách siêng năng, không một chút phàn nàn. Sự siêng
năng này là đặc điểm nổi bật trong thời gian đầu tiên học đạo của
tôi .
Điều đó, tuy nhiên, không có nghĩa là
tôi thi hành những việc được giao phó một cách đáng tin cậy hay là
thành thạo ǵ. Ví dụ như, có lúc trong ngày đầu tiên của tôi, khi
tôi được sai đi lau nhà, tôi quỳ gối xuống sàn nhà, cầm cái giẻ lau
trong một tay, lau qua lau lại từ phải sang trái. Tuy nhiên, những
sàn gỗ của một ngôi thiền tự thật bao la lớn rộng hơn nhà thường rất
nhiều.
“Đồ ngu! Mi tính ngồi đó lau nhà tới
bao nhiêu ngày mới xong hả? Phải lau như thế này này.” Khi tôi thấy
Thầy quỳ xuống cả hai tay lẫn hai chân, mông chổng lên, lấy hai tay
đè lên miếng giẻ trên sàn rồi kéo lê thoăn thoắt suốt dọc hành lang,
tôi cảm thấy như những lớp vẩy đang che lấp tầm mắt nh́n của tôi
đang rơi xuống đất.
Khi học khoa văn ở trường trung học,
những bạn đồng học và tôi thuờng đọc những sách triết và rồi thảo
luận với nhau suốt đêm. Toàn là những câu chuyện lư thuyết! Tôi đă
bỏ biết bao nhiêu th́ giờ trong những hoạt động đó rất lâu trước khi
tôi bước chân vào cổng Thiền. Nhưng tất cả chỉ là lư thuyết, và
trong thực tế, tôi c̣n chưa biết lau nhà cho đúng cách nữa! Tôi cảm
thấy thật xấu hổ với ḿnh khi nhận ra điều này, và tự quyết định
rằng từ đây tôi sẽ cố gắng làm hết sức ḿnh. Nhưng tôi vẫn chưa biết
hướng nguồn năng lượng của ḿnh đến đúng nơi đúng chỗ.
Ban ngày thường có một nhóm thanh niên
trẻ đến chùa làm công quả. Nếu một người trong số họ cầm cây chổi
lên và bắt đầu quét vườn, tôi sẽ nhẩy bổ nào nói: “Đưa đây, để tôi
làm!” … và giằng lấy cây chổi trên tay anh ta. Nếu có một người khác
đi lau nhà, tôi cũng sẽ nhào đến, dựt lấy cái giẻ lau, “Đưa đây, để
tôi làm!” Nếu có một ai đó đi nhóm lửa để đun nước tắm, tôi cũng sẽ
chạy bay vào dành lấy việc, tuyên bố “Ấy để tôi làm!”
Cuối cùng, tất cả bọn họ đều kêu lên
với tôi, “Bộ thầy không t́m được việc ǵ làm mà không phải dành lấy
việc của người khác hả?”
Lúc ấy, tôi quả t́nh không hiểu được
tôi đă làm ǵ sai. Có lẽ đó là bởi v́ tôi không thể tự xoay xở được
điều ǵ, bằng những nỗ lực riêng của chính ḿnh.
Bây giờ, khi các thiền sinh đến chùa
của tôi để tập tọa thiền, việc đầu tiên tôi giao cho họ làm là đun
nước tắm. Biết rằng đôi khi họ có thể nhóm lửa dưới một bồn tắm
trống không, tôi thường bắt đầu hỏi ḍ họ vài câu.
“Anh sắp phải sửa soạn đun nước tắm.
Việc đầu tiên anh làm là ǵ?”
Rất nhiều khi, câu trả lời là: “Nhóm
lửa.”
“Anh không định đốt tôi đấy chứ hả?”
Tôi hỏi.
“Ồ không, đầu tiên con phải cho nước
vào đầy bồn đă,” thiền sinh sẽ nói vậy.
“Anh chỉ cho nước vào bồn như vậy thôi
à?” Câu hỏi này làm họ bối rối v́ họ không hề có ư nghĩ là phải cọ
sạch bồn tắm trước. Sau khi duyệt qua với họ những cái căn bản … cọ
sạch bồn tắm, bơm nước vào đầy bồn, kiểm soát lại mực nước, đậy nắp
lên, rồi nhóm lửa … tôi trở lại để thấy họ đang loay hoay khó xử bên
cái lỗ nhóm mồi. Nh́n vào trong ḷ, tôi thấy vài khúc củi to nằm
chắn lên trên đống giấy báo đang cháy rụi.
“Làm thế này lửa sẽ không bắt được, có
phải không? Sao không dùng mấy que củi nhỏ hơn?” Tôi hỏi.
“Nhưng bạch thầy, không có que củi nào
nhỏ hơn cả.”
“Thế th́ chẻ nó ra cho nhỏ hơn được
không?”
“Con không biết cái ŕu ở đâu.”
“Nếu không biết, tại sao không hỏi?”
Cuối cùng sau đó, người thiền sinh trẻ
tuổi bắt đầu đi chẻ củi. Nhưng đó không có nghĩa là sẽ có ngay một
ngọn lửa bùng lên. Khói tuôn ra từ cái lỗ nhóm mồi, mà lửa vẫn nhất
định không chịu cháy. Khi tôi đến thanh tra mọi việc, tôi thấy đám
tro tàn từ ngọn lửa trước vẫn chưa được bốc đi. Tôi bèn hỏi, “Này,
cái gọi là lửa thực ra là ǵ nhỉ?”
“Th́, đó là một hỗn hợp của oxygen và
vật .”
“Oxygen ở đâu?”
“Ở trong không khí.”
“Nếu vậy, sao anh không hốt cái đống
tro này đi để cho không khí có thể vào được dễ dàng? Và nếu ống khói
bị nghẽn, anh cũng phải thông cái đó cho sạch luôn nữa.”
Nếu tôi nói như vậy, người thiền sinh
sẽ trèo lên trên mái nhà để thông ống khói, nhưng khi trở xuống thế
nào họ cũng đạp chân lên làm vỡ mất vài miếng ngói.
Nhưng tôi không thể cười những người
trẻ tuổi này, bởi v́ tôi cũng đă có thời giống y như họ!
Giữa thầy và tṛ
Một buổi sáng trong thời kỳ tôi c̣n mới
vào tu, cô Okamoto hỏi đại sư Zuigan trong khi dùng trà: “Bạch thầy,
nếu so sánh đại sư Kosen và Soen, ai giỏi hơn?”
Có lẽ tôi cần phải giới thiệu một chút
về tông phái của tôi qua đồ biểu dưới đây để tŕnh bầy được rơ ràng
hơn:
Hakuin (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1685-1768)
|
Kosen (Hồng Xuyên Tông Ôn, 1816-1892)
|
Soen (Hồng Nhạc Ṭng Diễn, 1859-1919)
____ |____
| |
Sokatsu Josho
|
(Chuyết Ông Tông Hoạt)
1870-1954
|
Zuigan
(Thuỵ Nham Tông Hoạt, 1879-1965)
|
Sesso
|
Soko
Tôi là “Soko” ở dưới cùng của bảng này,
và Sesso là sư huynh của tôi trong hệ phái. Cả hai chúng tôi cùng là
đệ tử của đại sư Zuigan, và sư phụ của thầy chúng tôi là đại sư
Sokatsu. Nếu bạn đi ngược ḍng cho tới tận nguồn gốc cuối cùng, bạn
sẽ đến ngay Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trong Thiền tông, sự truyền thừa của
các bậc đại sư đă đạt được giác ngộ qua quá tŕnh tu tập rất là minh
bạch. Kinh nghiệm tâm linh này phải được người thầy xác nhận, và chỉ
những ai được ấn chứng mới chính thức gia nhập vào tông phái. Tất
cả mọi người đều biết rơ ràng ai là người đă được thầy truyền tâm ấn,
và sự kế thừa này được giữ ǵn rất cẩn trọng. Trong tông Lâm Tế,
danh hiệu “lăo sư” (Roshi) được dùng để tôn xưng những người được
kế thừa trong hệ phái.
Kosen Roshi, người đứng đầu trong hệ
phái ở trên, tức là Kosen Imakita, một bậc đại sư xuất chúng đă từng
trụ tŕ chùa Viên Giác (Engakuji) ở Kamakura suốt từ những ngày cuối
cùng của thời đại Đức Xuyên trải dài cho đến thời Minh Trị trong thế
kỷ thứ 19. Trong những ngày đen tối Phật giáo bị đàn áp, ngài đă
vượt lên trên những phân chia phe phái và nỗ lực bằng mọi cách để
phục hưng lại đạo Phật. D.T. Suzuki, một cư sĩ nổi tiếng, đă rất
ngưỡng mộ ngài và viết một quyển sách nói về ngài.
Người truyền thừa sau Kosen Roshi là
Soen Shaku Roshi, người đầu tiên phổ biến đạo Phật ở Mỹ Quốc, và
cũng đă trụ tŕ chùa Viên Giác (Engakuji) ở Kamakura. Soseki Natsume
là một trong vô số người đă học Thiền dưới vị đại sư này.
Chính hai vị này là người cô Okamoto đă
nói đến khi cô hỏi Thầy ai là người giỏi hơn.
Lăo sư Zuigan, trông rất khắc khổ và
không hay nói đùa, đă trả lời với bộ mặt thật nghiêm nghị, “Đại sư
Kosen giỏi hơn.”
“Nếu vậy, giữa đại sư Soen và đại sư
Sokatsu, ai là người giỏi hơn?” cô Okamoto tiếp tục.
Đại sư Sokatsu mà cô đang nói đến là
người đă từ chối không sống trong một tự viện danh tiếng sau khi đă
được truyền thừa, mà đi về sống ẩn dật tại một cái am nhỏ xíu gọi là
Ryoboan, ở trong khu vực Yanaka của thành phố Tokyo; ở đó ngài đă
dạy Thiền cho những cư sĩ . Những phụ nữ đầu tiên nổi danh với lập
trường đ̣i hỏi nữ quyền ở Nhật Bản đăø ở trong số rất nhiều các đệ
tử của ngài. Vị lăo sư Sokatsu này là nhân vật mà cô Okamoto đă hỏi
tới, nhưng lăo sư Zuigan vẫn trả lời rằng: “Lăo sư Soen giỏi hơn.”
“Ồ, thầy ơi! Thế th́ tệ quá! Chẳng lẽ
tông phái này càng ngày càng xuống dốc tới mức không c̣n ǵ sao? Thế
th́ bây giờ, thầy nghĩ sao, ai giỏi hơn, Sokatsu đại sư hay Zuigan
đại sư?” Cô Okamoto nhất định hỏi.
Lăo sư Zuigan, đáp lại sự quan tâm của
cô về tông phái càng ngày càng xuống dốc, đă trả lời mau mắn, “Ta
giỏi hơn.”
Suốt từ đầu cho tới lúc ấy, luôn luôn
vẫn là người thầy giỏi hơn, nhưng khi được hỏi về vị trí của chính
ḿnh trong tông phái, ông lại bảo rằng, “Tôi giỏi hơn thầy của tôi.”
Điều này làm cô Okamoto vô cùng hoan hỉ,
sau đó cô lại hỏi tiếp, “À, nếu vậy th́, Lăo sư ơi, thầy với đệ tử
của thầy, Sesso, ai là người giỏi hơn?”
Nghe vậy, tôi muốn bật cười lớn lên.
Lăo sư Zuigan, người đă từng trụ tŕ các thiền viện Diệu Tâm và Đại
Đức, là một đỉnh cao trong thế giới Thiền tông. Trong khi đệ tử của
ngài, Sesso, c̣n chưa có chùa để trụ tŕ, c̣n đang sống như người
quản tự giữ một ngôi chùa nhỏ trong hệ thống thiền viện Diệu Tâm, mà
việc làm chỉ là giữ ǵn vườn tược cho sạch sẽ. Bởi v́ tôi chưa thể
nh́n thấu được những giá trị ẩn tàng trong con người mà chỉ phán xét
dựa trên vị thế xă hội, tôi đă nghĩ rằng so sánh lăo sư Zuigan với
thầy Sesso giống như là so sánh mặt trăng trên cao với con rùa vậy.
Không thể nào nói đến chuyện đọ sức giữa hai nguời ở đây được, và
tôi gần như muốn phá lên cười.
Lăo sư Zuigan, không cần ngừng lại một
giây nào để suy nghĩ, nói ngay: “Cái đó c̣n phải xem.”
Khi những lời nói này đập vào tai tôi,
bộ mặt tôi, lúc đó đang sẵn sàng để cười phá lên, lập tức nghiêm
chỉnh lại, và bây giờ dù là ngoài ư muốn, tôi cũng vẫn cảm thấy rưng
rưng như muốn khóc. Tôi thật có phước mới được một vị thầy như thế
này. Ngài có thể mắng tôi thật phũ phàng, gọi tôi là đồ vô dụng, và
nói rằng tôi không xứng đáng để nói trước mặt ai cả, nhưng ngài vẫn
luôn luôn để mắt đến tương lai các đệ tử của ḿnh. Tôi nhận ra rằng,
dù bây giờ phải đương đầu với sự non kém của tôi, ngài cũng đă tin
tưởng tôi sẽ trở thành người như thế nào trong một năm, hai năm,
mười năm, hay hai chục năm nữa. Từ bấy lâu nay làm việc với tôi,
ngài vẫn luôn luôn mang trong tâm h́nh bóng tiềm năng của tôi trong
tương lai cũng như trong hiện tại. Tôi cảm nhận mănh liệt được điều
đó khi ngài nói: “Cái đó c̣n để xem.”
Và rồi sự việc xẩy ra là, vài năm sau
đó, thầy Sesso đă tỏ ra xứng đáng với câu nói ấy, đă trở thành người
truyền thừa của đại sư Zuigan và rồi trở thành viện trưởng thiền
viện Đại Đức. Theo những lời dậy dỗ của đại sư Zuigan, tôi đă ở bên
cạnh sư huynh Sesso trong nhiều năm và sau này trở thành người
truyền thừa của ngài. Trong giây phút thị tịch, Đại sư Sesso đă đạt
được một trạng thái siêu xuất của tâm, không kém ǵ người thầy của
ngài.
Và thế là, câu chuyện trong tuần trà
của một buổi sáng ấy, cuối cùng, đă làm cho tôi tin tưởng được Thầy
của ḿnh tự đáy ḷng.
Nhưng mặc dù vậy, tôi cũng vẫn chưa đi
đến đâu trong đường tu của ḿnh.
Chuyện của nó và tôi
Có một câu chuyện nữa cũng miêu tả được
tương quan tin cậy mật thiết giữa thầy và tṛ. Đại sư Soen có một
người đệ tử tên là Josho Ota. Người đệ tử này sau đó đă trở thành
viện trưởng thiền viện Viên Giác và rồi viện trưởng thiền viện Đại
Đức, nhưng câu chuyện tôi kể ra sau đây xẩy ra khi ông vẫn c̣n tu
tập dưới trướng của lăo sư Soen.
Một ngày mùa hè, có một đạo hữu đến
chùa Viên Giác ngỏ lời mời đại sư Soen rằng, “Đại sư, thường ngày
ngài vẫn dùng những thức ăn do các vị sư ở đây nấu, nhưng hôm nay
nóng nực như thế này, con muốn mời ngài đi ăn tối, một cúng dường
nho nhỏ để giúp ngài quên cái nóng đi phần nào.”
Vốn là người rất phóng khoáng, Đại sư
Soen trả lời, “Thế à, ngươi sắp cho ta ăn tiệc hả?” Ngài bèn gọi đệ
tử Josho theo hầu cận, và rồi đi đến tiệm ăn.
V́ lúc đó là mùa hè, nên những liếp cửa
bằng tre chắn ngang những pḥng riêng lót chiếu tatami được kéo qua
một bên, khiến các thực khách từ pḥng này có thể nh́n qua các pḥng
khác được. Lăo sư Soen ăn uống rất tận t́nh và trở nên hoàn toàn cao
hứng. Oâng gắp mấy miếng cá sống lên nói, “A, mấy cái rau này quư
hiếm quá! Sao mấy ông sư không trồng rau này trong vườn của chùa nhỉ?”
và rồi cứ tiếp tục đùa dỡn như vậy cho đến khi, y phục trên người
bung ra gần hết, gần như trần truồng, ông nhẩy múa um sùm.
Vị lăo sư là người rất nổi tiếng, tên
ngài được biết đến kể cả ở nước ngoài nữa. Chẳng mấy chốc các thực
khách ở những pḥng kế bên bắt đầu xôn xao, “Có phải thầy viện
trưởng chùa Viên Giác đang nhẩy múa trần truồng ở đó không nhỉ?”
Josho liền đi ra kéo cánh cửa tre ngăn lại.
Bất ngờ, đại sư nắm lấy cổ áo Josho,
mắng ngay: “Ê! Bộ mi chê bai hành vi của ta hả? Mi đóng cánh cửa đó
có phải v́ mi nghĩ là ta đă làm sai không hả?”
Josho, trong một lúc lung lay niềm tin
nơi thầy, tự nhiên đă thấy ḿnh bị đấm đá tơi bời.
Các vị thiền tăng thường qua một quá
tŕnh tu tập dựa trên cơ sở hành động nhiều hơn lời nói. Nhưng mặc
dù vậy, trong t́nh trạng ma men như thế này, và không thấy có cơ ǵ
chấm dứt sau năm sáu cú đấm đá, Josho, từ đó tới giờ vẫn im lặng và
ngoan ngoăn chịu đ̣n, bây giờ không muốn chịu đựng thêm nữa. Nắm
chặt lấy tay thầy, ông nói:” Dù có là đại sư hay không đại sư, thầy
cũng không được tiếp tục như thế này.”
Soen đại sư dằng tay ra và trở về chỗ
ngồi. Làm như không có ǵ đă xẩy ra, ông tiếp tục uống rượu cho đến
khi trở về chùa Viên Giác, vẫn trong t́nh trạng cao hứng tột độ.
Mặc dù câu chuyện đă chấm dứt ở đó,
người đạo hữu đă mời họ đi ăn tối đó cảm thấy rất ái ngại. Biết rằng
quan hệ giữa thầy tṛ nơi thiền viện rất là nghiêm khắc, ông lo lắng
không biết lăo sư có đuổi Josho đi sau khi họ trở về chùa không. Cảm
thấy không thể nào yên tâm được với t́nh trạng này, ông vội vàng đi
đến chùa Enkakuji để làm người trung gian ḥa giải.
“Xin cám ơn thầy đă hoan hỉ nhận bữa
cơm cúng dường nhỏ nhoi của con và đă cho con được hân hạnh dùng bữa
với thầy,” ông nói với lăo sư, “Nhưng con cũng muốn nói thêm rằng,
mặc dù Josho đă không được lễ độ với thầy trong bữa ăn, nhưng con
tin chắc rằng thầy ấy không có ư xấu ǵ đâu. Cúi xin thầy, v́ nể
t́nh con, mà bỏ qua mọi sự và tha thứ cho thầy ấy.”
“Cái đó là việc của tôi với nó,” lăo sư
trả lời cộc lốc.
Xin đừng hiểu câu nói đó rằng đây là
vấn đề giữa thầy và đệ tử và người ngoài không nên xen vào. Thực sự
ra ư của ông là thầy tṛ ông có thể đấm đá lẫn nhau, nhưng giữa hai
người họ không bao giờ có một khoảng cách nào dù nhỏ như sợi tóc.
Đối với một người tu thiền, được nghe thầy ḿnh nói như vậy quả là
một điều đáng mừng, nhưng đối với một vị thầy, có được một người đệ
tử xứng đáng để nói điều ấy ra cũng thật là một điều hạnh phúc lớn
lao. Tôi đă nghe kể lại rằng, sau đó, người đạo hữu đang tính xen
vào trong quan hệ thầy tṛ kia đă đỏ mặt ngượng ngùng và rút lui
ngay khi nghe câu trả lời cộc lốc đó.
Câu chuyện này nhắc nhở tôi đến quan hệ
giữa những vơ sĩ sumo và cái ṿng đai. Lư do khiến hai người vơ sĩ
to béo khổng lồ, mà hợp với nhau lại có thể cân đến trên năm trăm
pounds Anh, đă đến đấu chiến với nhau, dùng hết sức lực để đánh bại
người kia, là v́ có một ṿng đai ở dưới họ; ṿng đai ấy, như sợi dây
nối liền thầy và đệ tử, tuyệt đối sẽ không được phá vỡ. Nếu một vơ
sĩ, dù có khéo léo đến đâu, mà phải đi đấu trong một ṿng đai vẽ
trên băng đá, chắc hẳn ông ta sẽ cố hết sức ḿnh để làm cho băng đá
ấy không bị tan vỡ mất, phải vậy không?
Ba loại đệ tử
Trong tu thiền, có một điều cần làm là
phải “phá vỡ bản ngă” … không có cách nào có thể né tránh điều đó
được. Hơn nữa, nếu rụt rè không dám phá vỡ bản ngă của ḿnh … cái
thường hay chống trả lại dữ dội khi có nguy cơ bị phá vỡ … th́ coi
như sẽ chẳng có hi vọng đạt tới Đạo được. Những người không biết
nghiến răng chịu đựng, nhất quyết không sờn ḷng dù là bị đá đấm bầm
dập, bị đánh đuổi tàn nhẫn, sẽ không thể tồn tại được trong cái gọi
là tu thiền này. V́ lư do đó, có thể nói rằng những đệ tử học thiền
được chia làm ba loại, tùy vào sự liên hệ của họ với thầy của họ:
“Những người xuất sắc nhất ràng buộc với thầy họ trong sự căm ghét,
người tầm thường trung b́nh trong ḷng thương xót, và những người
yếu kém nhất là trong sự khuất phục quyền lực.”
Những người xuất sắc nhất là những đệ
tử hạng nhất, hay là người có đức hạnh lớn. Nếu nh́n bề ngoài, những
đệ tử này trông c̣n có vẻ hằn học nữa. Thầy càng đối xử với họ
nghiêm khắc chừng nào, họ càng cố gắng tiến sâu hơn, thề quyết phải
vượt qua cho bằng được, để tỏ cho thầy họ thấy khả năng của họ đạt
được như thế nào. Không có điều ǵ làm những đệ tử này có thể buông
lơi ra được.
Những đệ tử tầm thường trung b́nh là
những người thực sự gặp khó khăn trong sự tu tập và muốn rút lui,
nhưng cảm thấy họ không thể bỏ cuộc được, khi thấy Thầy đă hết sức
tử tế và yểm trợ cho họ. Những đệ tử loại này được lôi kéo nhờ t́nh
thương của người Thầy.
Sau hết, loại đệ tử yếu kém nhất, khi
cảm nhận thấy quyền lực độc tôn của người Thầy, họ muốn nương dựa
vào “bóng mát cây cổ thụ” ấy. Điều đó có nghĩa là, đối với họ nếu
phải nương dựa vào một người nào, th́ tốt nhất là người ấy phải có
nhiều quyền lực. Câu nói, “Những kẻ thấp kém hay bị hấp dẫn bởi
quyền lực” không chỉ dừng lại ở trong cánh cổng của một thiền viện,
mà c̣n đúng với xă hội nói chung.
Tất cả những điều trên nhắc tôi nhớ lại
một trong những lỗi lầm mà tôi đă phạm phải khi tôi đă vào tu được
một thời gian. Trong một dịp, có một người đă nêu ra một trong những
khuyết điểm của tôi, và tôi nổi đóa lên: “Anh biết ǵ mà nói!” rồi
mắng cho anh ta một trận. Tôi đă biểu lộ sự ngă mạn mà người ta đôi
khi gặp phải trong bước đường tu, một loại “đầu óc đă bị rỉ sét
trong sự tu.”
Khi câu chuyện này đến tai Thầy tôi,
người gọi tôi vào trong pḥng ngay lập tức, để nói rằng tôi bị đuổi
ra khỏi chùa. Người nói bằng cách là: “Thu dọn hành lư đi.”
Ap trán xuống đất, trong ba mươi phút
tôi khẩn khoản xin lỗi hết lời, nhưng những lời van xin tha thứ của
tôi chẳng có công hiệu ǵ.
“Con làm điều đó v́ con đă không suy
nghĩ kỹ càng. Cái đó xẩy ra chỉ v́ con chót lỡ, trong một phút sơ
xuất của con thôi.” Tôi nại cớ ra bào chữa như vậy.
“Nếu đó là một điều mi làm sau khi đă
suy nghĩ kỹ càng, và rồi sau đó thấy sự sai lầm của ḿnh, th́ điều
đó sẽ không xẩy ra lại,” thầy đáp lại, “nhưng nếu nó “xẩy ra v́ chót
lỡ” trong một phút sơ xuất của mi, th́ tức là nó đă khởi lên từ một
cái ǵ thâm căn trong tâm của mi, trong tánh khí của mi. Nếu thật
như vậy th́ lại càng không đáng để được tha thứ!”
Tôi đă dùng hết cách để xin lỗi mà vẫn
không được. Cuối cùng, tôi ngẩng người lên, cái thân h́nh mà từ nẫy
giờ đă quỳ mọp xuống như một con nhện đang bám lấy sàn, và rồi tôi
nh́n thẳng vào mặt lăo sư. Mắt của người vốn đă to, mà khi ngài nh́n
trừng trừng vào tôi lúc đó, trông như là cả bộ mặt của ngài chỉ c̣n
là hai con mắt khổng lồ. Tôi trừng mắt lại, không chịu thua chút nào.
“Không có chỗ nào cho con đi cả, chỉ có
chỗ ở với thầy thôi. Thầy có ném con ra ngoài một ngàn lần hay mười
ngàn lần, con cũng tuyệt đối không bao giờ rời thầy ra đâu!” Tôi hét
lại.
Đáng ngạc nhiên thay, nước mắt bỗng
dâng lên trong mắt thầy, và tôi tưởng chừng như những giọt lệ to
long lanh sắp rơi xuống má người. Rồi tôi nghe thầy nói, “Ta tha cho
mi đó. Đi ra ngoài lo công việc đi.”
Khi nhớ lại câu chuyện này, tới lúc này,
tôi vẫn c̣n rưng rưng nước mắt.
Người thầy đem sự khắc nghiệt ra đối
với đệ tử để làm khơi động ư chí chống trả, kể cả sự căm ghét, nghĩ
rằng làm như vậy người đệ tử sẽ bằng cách nào đó vượt qua được tới
đích cuối cùng. Nhưng thật sự không phải thế, khi áp dụng sự đối xử
nghiêm khắc với đệ tử, người thầy luôn luôn cầu nguyện cho đệ tử của
ḿnh sẽ có thể vượt qua hết được mọi sự. Nếu ngày nay có một đệ tử
nào đến nói với tôi rằng:”Dù cho có giết con, con cũng không bao giờ
rời xa thầy,” chắc chắn rằng tôi cũng sẽ khóc.
V́ vậy, bạn có thể thấy được tại sao
tôi cảm thấy biết ơn khi nghĩ đến cung cách vị Thầy mà hiện nay đă
ra người thiên cổ đối xử với tôi. Từ đầu đến cuối, ngài đă hành xử
như ø thể là tôi, một kẻ không ra ǵ, là một loại đệ tử xuất sắc
nhất vậy. Nếu Lăo sư lượng định về tôi một cách khác, nếu người đă
nghĩ rằng, “Nếu ḿnh không nương tay, th́ chắc người này sẽ bỏ cuộc”,
th́ có lẽ ngài đă đối xử với tôi nhẹ nhàng hơn.
Cho tiền mai táng
Tôi đă kể lại câu chuyện làm sao tôi,
một kẻ vụng về chẳng biết làm ǵ cho đúng cách, đă được huấn luyện
trở thành một người ít nhất có thể nấu cơm trên bếp lửa, đun nước
tắm, cọ nhà vệ sinh, và làm việc trong vườn được. Và rồi, theo đúng
thời đúng lúc, tôi cũng được dạy những điều khác, như là đọc kinh
điển và cử hành những lễ nghi thích hợp đối với một vị tăng sĩ.
Rồi một ngày kia, sau khi tôi đă ở chùa
Daishuin hơn một năm, lăo sư nói với tôi, “Một người, nhất là một
người đă xuất gia làm tăng sĩ, cần phải có những giao tiếp với người
khác. Mi không thể sống cô lập được. Mi phải có những liên hệ đến
nhiều người khác. Tuy rằng một đệ tử học đạo chỉ với một người thầy
thôi cũng có thể gọi là đủ, nhưng v́ mục đích phải có những liên hệ
xă hội khác, mi cần phải đi đến một thiền đường để tu tập ở đó.”
Có hai loại thiền tự. Thường thường các
vị sư khi mới xuất gia ở trong một loại chùa cho đến khi tốt nghiệp
đại học. Ra trường rồi, những vị tăng trẻ này gia nhập một thiền
viện để chuyên tu tọa thiền một cách triệt để. Tôi đă được thầy định
đoạt cho gia nhập vào thiền viện Đại Đức để tu tŕ như loại sau này.
Một tăng sĩ trên đường đến thiền viện
chuyên tu đem theo trong ḿnh một cái hộp nhỏ đựng quần áo. Cái hộp
đó, theo truyền thống, làm bằng giấy dầy được phết lên một lớp sơn
mài cho cứng, lớn hơn cái hộp đựng sách một chút. Bát ăn cơm, đũa,
dao cạo và đá mài để cạo đầu, kinh sách, đồ lót, và áo mưa được gói
làm hai gói và cột lại bằng một sợi dây để vị sư đó có thể quẩy hết
những đồ dùng đó lên trên lưng. Ông ta vén áo lên giắt vào lưng quần,
nai nịt hai bắp vế, cột chặt lại đôi giầy rơm, đội nón tre lên đầu,
rồi lên đường đến thiền viện.
Tôi đang sắp xếp lại cái hộp quần áo
của tôi th́ lăo sư đi vào hỏi, “Thế nào? Mi đă cột cái hộp lại chưa?”
“Chưa, con đang sắp làm đây.”
“Thế th́ đúng lúc quá. Đem cái nắp hộp
đi vào pḥng của thầy.” Thầy ra lệnh.
Cái hộp này, trông giống như một cái
rương nhỏ đựng thuốc, được đóng chặt lại bằng một cái nắp. Không
hiểu lăo sư có ư định ǵ, tôi đem cái nắp vào trong pḥng của người.
Lăo sư cầm lấy nắp hộp và để vào dưới đáy ba tờ giấy một ngàn yen. (vào
thời buổi đó, tờ giấy một ngàn yen vẫn c̣n có giá lắm)
“Mi có hiểu ư nghĩa của cái này không?”
lăo sư hỏi sau khi người đă bỏ tiền vào.
“Có phải tiền cho con tiêu không?” tôi
định hỏi, nhưng đă kịp ngăn lại trước khi thốt ra lời nói, biết rằng
tôi sẽ bị mắng ngay lập tức nếu nói điều ǵ ngu dại.
Lăo sư đă quá bẩy mươi tuổi khi tôi đến
đó xin làm đệ tử của ngài. Lúc đó ngài đă cảnh cáo tôi là, “Ta không
biết ta c̣n sống bao nhiêu lâu nữa. Nếu thầy của mi chết nửa chừng,
mi sẽ bị đứt gánh nửa đường tu. Nếu không có ai để nương dựa vào để
sống, mi sẽ gập rất nhiều khó khăn. Tốt hơn là nên đi t́m một vị
thầy khác trẻ hơn.”
“Con vẫn c̣n ít tiền cha con để lại.
Con sẽ không là gánh nặng tài chánh cho thầy đâu,” tôi năn nỉ.
Với lời hứa đó, tôi đă được Lăo sư thâu
nhận vào làm đệ tử dưới trướng. Theo sự thỏa thuận trước này, ông đă
chưa bao giờ cho tôi một xu nào để tiêu.
Bây giờ, khi tôi sắp rời chốn này đi
đến thiền viện, tôi nghĩ chắc Lăo sư, dù luôn luôn có vẻ chắc nịch,
cũng có thể cho tôi một ít tiền để tiễn đưa. Tuy nhiên, trái ngược
với sự trông đợi của tôi, ngài cho biết là, “Đây là tiền Niết Bàn.”
H́nh ảnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nằm
nghiêng một bên khi ngài nhập diệt được biết đến như là “h́nh ảnh
Niết Bàn.”
“Mi sắp đến thiền viện đem thân mạng
phó thác ở đó. Nếu không may mắn, mi sẽ bị thất bại và rồi sẽ chết
giữa chừng trong lúc tu. Để cho mi không là một gánh nặng với bất cứ
ai, ta cho tiền này để mai táng cái thân.”
Lăo sư b́nh thường rất nghiêm khắc và
không hay nói đùa. Nghe người nói, với bộ mặt nghiêm trọng, “tiền
này là để mai táng ngươi đó,” làm cho tôi ớn lạnh xương sống. Với
một quyết tâm mới, tôi tự thề với ḿnh, “Ta sẽ làm được điều đó”!
Tôi đă từng nghĩ về cái chết trước đây,
khi c̣n là một học sinh phải đi ra trận tuyến, tuy nhiên cái chết mà
Lăo sư đă ám chỉ trong câu … “Tiền này để mai táng cho ngươi” … có
một ư nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Cái chết mà ngài nói đến đó không
phải là cái chết của thể xác, mà là cái chết của bản ngă tôi.
Không cần biết chúng ta có khéo léo
biện hộ đến thế nào, khi đi thẳng đến gốc của vấn đề, động cơ chính
của mọi sự vẫn là để nâng niu cái bản ngă quư giá của chúng ta. Trừ
khi chúng ta tu tập để vượt qua được sự vướng mắc ngoan cố vào cái
ngă của ḿnh, chúng ta sẽ không mở mắt ra được. Những lời lẽ của Lăo
sư đă đánh thức tôi như vậy. Tôi cảm thấy những lời người nói về sự
mai táng thân tôi như là cái thúc ở bên sườn vậy. Ngày nay, tôi cũng
gởi các đệ tử của tôi đến thiền viện với một tờ giấy bạc mười ngàn
yen, để mai táng thân của họ.
Ngày hôm sau, khi trời vẫn c̣n đen như
mực, tôi đến pḥng Lăo sư từ biệt, và rồi rút lui ra cửa sau, bước
xuống nền đất ở trên lối ra vào. Một vị tân sa di không được phép
dùng cửa trước. Khi với tay lấy đôi giầy rơm, tôi nghe tiếng Lăo sư
bước ra đàng sau. Bởi v́ Lăo sư luôn luôn là người giữ cung cách uy
nghiêm, không phải là loại có thể đi ra tiễn đưa đệ tử, tôi ngạc
nhiên thấy người đi ra qua cửa bếp phía sau. Hơn thế nữa, người lại
c̣n bước xuống thềm đất, ngồi xổm dưới chân tôi, và lấy dây cột đôi
giầy rơm của tôi lại.
Ngượng ngùng, tôi vội vàng rụt chân lại
và phản đối, “Ấy, thầy đừng làm như vậy. Con làm lấy được mà.”
“Đây, đưa chân đây cho thầy,” thầy dục,
kéo chân tôi về phía người. Sau khi đă cột mấy sợi dây gọn gàng lên
đôi giầy, người gơ tay vào mấy cái nút và nói, “Đừng có cẩu thả mà
làm lỏng mấy sợi dây này.”
Dĩ nhiên, khi tôi đến thiền viện và
được nhận vào đấy, tôi cũng sẽ tháo dây của những đôi giầy rơm này
ra. Điều thầy muốn nói, tôi hiểu là, đừng bao giờ sơ xuất làm lơi
lỏng sợi dây của lời nguyện trong đường tu. Một lần nữa, tôi run
người trong ư chí quyết tâm của chính ḿnh, cúi rạp xuống chào Lăo
sư rồi cất bước ra đi trong bóng tối của buổi sáng sớm tinh mơ đến
thiền đường của thiền viện Đại Đức ở Kyoto.
Ư nghĩa của sự can đảm
Khi một vị tăng xin đăng nạp vào trong
một thiền viện để tu tập, lúc đến tiền điện của thiền viện ấy, vị
tăng bỏ nón ra cất đi trong một góc nhà, trèo lên bực thang, và lên
tiếng gọi. Trong một đại thiền viện, thường có tiền điện lớn mênh
mông và một bực thang dẫn lên một giải hành lang rộng lớn ngoài xa.
Tuy rằng có thể có đến khoảng mấy tá tăng sĩ đang tu tập ở trung tâm
của thiền viện, chung quanh bốn bề đều không một tiếng người, không
khí im lặng như một cái nhà mồ. Vị tăng gọi lớn, giọng ngân dài,
“Quư thầy ơi! Xin mở cửa cho tôi!”, một thủ tục đă được lập ra từ
thời xa xưa đến giờ.
Vị tăng xin đăng nạp cảm thấy như giọng
nói của ḿnh bị hút vào trong khoảng không gian sâu thẳm của thiền
viện. Bấy giờ, có tiếng trả lời từ đàng xa. “Ai đấy?” Một vị sư xuất
hiện, mặc y áo bằng vải thô và trông có vẻ rất kinh nghiệm. “Anh đến
từ đâu?” Ông tra hỏi.
Vị tăng trẻ đứng trên bực thềm đưa tay
ra trước mặt lễ phép tŕnh giấy tờ mang theo. Trong những giấy tờ đó
có đăng lục của tiểu sử cá nhân, một thơ giới thiệu vào thiền viện,
và một thỉnh nguyện thư trong đó ông nguyện sẽ hi sinh cuộc đời ḿnh
cho đạo pháp, tất cả đều viết tay với bút lông và cho vào một phong
b́.
Một cách thật trịnh trọng, người mới
đến xưng danh tính và nói rơ xuất xứ của ḿnh đến từ quận huyện nào,
thành phố nào, ở chùa nào, và đă học với vị thầy nào. Vị tăng nói
rằng ông muốn đến đây để gia nhập chúng và có thể treo y bát, gậy
của ḿnh ở trong thiền đường nơi đây. Sau đó ông xin cho lời thỉnh
nguyện ấy được chấp nhận.
Vị sư bảo thí sinh đợi ở đấy rồi biến
mất vào phía trong. Một lúc lâu sau trở lại, theo đúng nguyên tắc,
vị sư sẽ không nói rằng:”Xin đón chào anh đến đây. Mời đi vào trong.”
Thay vào đó, thế nào vị sư cũng đưa lệnh ra là lời thỉnh nguyện của
thí sinh đă bị từ chối. Ví dụ như, vị sư có thể nói rằng thiền viện
đă đủ chỗ rồi, hay lúc này phương tiện rất eo hẹp, không thể nào
kham nổi thêm một người nữa.
Trường hợp của tôi là, bây giờ tôi cân
tới 150 cân Anh, nhưng hồi ấy tôi chỉ nặng chưa đến 90 cân và trông
toàn là da bọc xương khi đến đó xin vào thiền viện. Tôi bị từ chối
với lư do là, “Trông anh có vẻ yếu ớt quá. Sẽ không thể nào đủ sức
để theo kịp sự tu tập gắt gao ở đây. Xin hăy đến thiền viện khác mà
nạp đơn.”
Có khoảng chừng bốn mươi thiền viện
chuyên tu trong cả nước, nhưng bất cứ đến chỗ nào, vị tăng cũng sẽ
bị từ chối ở đó. Bị bác rồi, vị tăng cầm lấy cái phong b́ bị ném vào
mặt lúc nẫy, rồi rút lui vào một xó để không cản trở người qua lại.
Oâng trụ vào một chỗ trên bực thềm, phủ phục xuống, trán áp xuống
đất trong tư thế khẩn cầu cho tới khi nào được chấp nhận gia nhập
thiền viện.
Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ của Thiền tông
Trung Hoa, là một tăng sĩ xuất thân từ An độ trong thế kỷ thứ 6,
cũng là vị tổ chân truyền đời thứ hai mươi tám kể từ Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni. Tục truyền rằng Huệ Khả (tiếng Nhật gọi là Eka), người
sau này kế thừa Bồ Đề Đạt Ma làm vị tổ thứ hai của thiền tông Trung
Hoa, khi đến đó xin học đạo, Tổ Đạt Ma đă hoàn toàn không thèm biết
đến ông. Huệ Khả đứng ở cổng và nhất định không chịu di chuyển cho
đến khi được Tổ Đạt Ma nh́n tới.
Mấy ngày liền, Huệ Khả đứng yên vị ở
một chỗ. Đến ngày 9 tháng 12, tuyết bắt đầu rơi phủ kín đến đầu gối
của ngài, nhưng ngài vẫn đứng yên không nhúc nhích. Cuối cùng, Tổ Bồ
Đề Đạt Ma quay ra nh́n Huệ Khả và hỏi: “Ngươi làm ǵ ở đây?”
Khi nghe được tiếng của thầy sau bao
nhiêu ngày chờ đợi lâu dài, Huệ Khả, những giọt lệ biết ơn tuôn trào
trên má, tŕnh bầy ư nguyện muốn đến để cầu đạo giải thoát. Bồ Đề
Đạt Ma trả lời một cách phũ phàng, “Đạo vi diệu, đạo vô thượng của
Phật chỉ có thể đạt được qua những nỗ lực vô tận, qua sự hành tŕ
cái không thể hành được, chịu đựng điều không thể chịu đựng được.
Nay ngươi chỉ có một chút đạo hạnh, một ít trí tuệ nhỏ nhoi, với một
tâm nông cạn và đầy ngă mạn, làm sao có thể mong đạt tới chân pháp
được?”
Như vậy, Huệ Khả đă bị nói thẳng ra
rằng chỉ với một ít trí tuệ, một ít khả năng và một tâm si mê đầy
giao động, sẽ không thể nào mong đạt sự giác ngộ chân lư và an lạc
được. Để trả lời sự khích bác của Tổ Bồ Đề Đạt Ma và chứng minh rằng
ư chí quyết tâm cầu đạo của ḿnh là hoàn toàn chân thật, tương
truyền rằng ngài đă rút dao phay ra chặt mất cánh tay của ḿnh. Chỉ
khi ngài dâng lên cánh tay bị chặt đẫm máu ấy, Bồ Đề Đạt Ma mới chịu
chấp nhận cho ngài vào học đạo.
Bắt nguồn từ truyền thống này, những
nghi thức để nhập thiền viện tu tập thật cực kỳ cam go, ngay cả bây
giờ vẫn áp dụng sau một ngàn năm trăm năm. Tôi đă biết ngay từ đầu
là tôi cũng sẽ phải tuân theo những luật lệ của truyền thống này. Do
đó, đầu tiên tôi đă ḅ qua cổng, sửa soạn tinh thần để chịu đựng cái
thủ tục không thể tránh khỏi này.
Mặc dù vậy, dù chỉ là thủ tục, điều tôi
phải chịu đựng cũng thật là khó khăn. Chẳng bao lâu sau khi đơn xin
của tôi đă bị từ chối, một vị sư khác xuất hiện, cầm theo một cây
gậy bằng gỗ. “Mặc dù người đă bị từ chối không cho nhập viện, ngươi
vẫn ngoan cố chường mặt ở đây làm phiền người khác, làm cản trở lối
ra vào của thiền viện,” ông nói, “yêu cầu ngươi phải đi ra khỏi đây
ngay lập tức.”
Từ trước cho tới lúc đó, tôi vẫn c̣n
được nghe những lời nhă nhặn, nhưng bây giờ th́ những câu mắng chửi
bắt đầu, mặc dù vậy, tôi vẫn không chịu rút lui. Tôi cứ tiếp tục ở
yên chỗ của ḿnh, không động đậy chút nào.
“Ê! Tên kia! Bộ ngươi điếc hay sao?”
Vị sư tiếp theo câu chửi mắng kia với
những cú đấm, cú đá, và nguyền rủa hết lời, và chỉ một lúc sau tôi
đă thấy ḿnh bị đá văng ra khỏi cổng. Khi tôi ngẩng lên thấy vị sư
đă đi vào trong rồi và lối vào đă trống trải, tôi lại len lén đi vào,
như một con mèo đang ŕnh mồi, và lại tiếp tục tư thế phủ phục trên
bậc thềm. Sau đó, cảnh trên lại tiếp tục xẩy ra nhiều lần.
Sự nhẫn nhục của tôi khởi đầu c̣n tồn
tại là v́ tôi biết rằng đây là một thủ tục mà tôi phải chịu đựng
qua, nhưng dần dần, khi nó cứ kéo dài, tôi bắt đầu thấy bực dọc. “Họ
không thấy là họ đă quá đáng một cách không cần thiết sao, khi ḿnh
không hề có một chút chống trả lại?” Tuy nhiên, đến tối, những ư
tưởng này cũng chẳng c̣n, và tôi chỉ c̣n cảm thấy khốn khổ và tủi
nhục. Rồi tôi càng lúc càng thương xót cho ḿnh. “Tại sao ḿnh lại
để cho họ đối xử như một cái giẻ rách vậy?” Tại sao tôi phải ở trong
tư thế khốn nạn này trước cánh cổng đáng ghét này? Cha mẹ của tôi
chết rồi, nhưng dù sao tôi cũng vẫn c̣n trở về Toyama được mà. Tôi
vẫn c̣n họ hàng ở đó, tôi vẫn có thể sống được mà không phải bị đối
xử tàn nhẫn như thế này.”
Tất cả những điều đó và nhiều điều nữa
đă băng ngang tâm trí tôi lúc đó.
Khi được thọ giới xuất gia, tôi đă phần
nào mang một quyết tâm muốn tu hết sức ḿnh. Sau đó, khi Lăo sư nói
với tôi, “Đây là món tiền Niết Bàn, để mai táng thân ngươi,” tôi đă
lại lạnh ḿnh trong một quyết tâm mới. Rồi, khi Lăo sư cột lại dây
giầy rơm cho tôi và khuyến cáo rằng, “Đừng có lơ là mà làm lỏng
những dây này,” chẳng phải là lúc đó tôi đă càng thêm quyết chí,
nhất định phải đi đến cùng đó sao? Nhưng bây giờ tôi ở đây, chỉ chưa
đầy một ngày sau đó, tâm đă đầy dao động, tự hỏi ḿnh tại sao lại ở
đây, sao lại phải chịu cảnh khốn cùng như thế này.
Tôi nghĩ rằng con người ta rất là yếu
đuối. Nếu không biết tự kỷ luật ḿnh, người ta sẽ không thể tin vào
ư chí của ḿnh được. Rất dễ dàng để bị lung lạc. Khi tôi thấy ḿnh
đang bị lung lạc, lần đầu tiên tôi đă hiểu được sự hệ trọng của việc
tiếp tục ḅ lại vào trong chỗ tiền đường. Sự tiếp tục ḅ lại chỗ cũ
này được gọi là “bị giữ đứng ở ngoài vườn.” Trong t́nh trạng bị giữ
ở ngoài vườn và đứng đó, vị tăng bị bắt buộc phải làm mới lại quyết
tâm ban đầu, phải tăng cường cho quyết tâm đó, phải quyết tâm trở
lại, và củng cố sự quyết tâm đó càng xa hơn nữa. Chính v́ lư do này
mà vị tăng bị bắt phải ở ngoài cửa ra vào tiền đường của thiền viện.
Tất cả răng của tôi … vốn chẳng mạnh
khỏe ǵ … bắt đầu cảm thấy như đang long ra, máu nóng trào lên mặt.
Tôi nghĩ chắc đôi mắt của tôi như muốn nổ ra khỏi xương sọ, và lưng
tôi, với vị thế phủ phục lâu dài như vậy, cũng muốn sụm xuống. Trời
vẫn c̣n lạnh khi tôi đến tiền đường vào đầu tháng ba, v́ năm đó tiết
mùa đông đă thật khắc nghiệt ở Kyoto. Cái lạnh bắt đầu từ mấy ngón
chân, thấm qua chân tôi trong đôi giầy rơm ướt đẫm, và dâng lên đến
đầu gối, khiến đôi chân tôi tê dại, không c̣n một cảm giác ǵ nữa.
Trực diện với con người bất an của ḿnh,
trong bất cứ điều kiện nào, và rồi trở về với cái tâm của lúc ban
đầu, tự ḿnh đứng dậy sau khi tâm đă thay đổi, suy yếu, và sụp đổ,
để rồi củng cố trở lại cái quyết tâm muốn hoàn thành tới nơi lời
nguyện ban đầu … phải chăng đây chính là ư nghĩa của sự can đảm?
Tôi đang làm ǵ ở đây?
Trong lúc chờ đợi ngoài cổng chùa, tôi
bắt buộc phải định nghĩa lại thế nào là sự dũng cảm. Khi c̣n nhỏ,
tôi thường hay phô trương sự dũng cảm của ḿnh bằng cách tấn công
người khác, nhưng đó không phải là dũng cảm. Sự hung hăng đó có thể
ví như một con chó nhỏ mà hay sủa thật to. Sự dũng cảm đích thực là
chấn chỉnh lại cái tinh thần đă sa sút và kiên tâm theo đuổi mục
tiêu ban đầu của ḿnh. Để có thể giữ vững được như vậy, phải tự đặt
câu hỏi với ḿnh là: “Tôi đang làm ǵ ở đây?”
Trong khi bị giữ ở ngoài vườn, nhiều tư
tưởng khác nhau đă trôi qua trong tâm trí tôi. Tôi nghiệm ra rằng
mỗi con người được vào tu trong thiền viện này đều bẩm sinh ra khác
nhau. Mỗi con người đi vào trong cuộc đời này đều có những khả năng
khác nhau, những kinh nghiệm và học vấn khác nhau, suy nghĩ những tư
tưởng khác nhau; không ai giống ai cả. Trong tất cả những sắc thái
dị biệt ấy, nếu ai nấy ở trong thiền viện đều muốn làm theo ư của
ḿnh, đều khăng khăng rằng, “Tôi nghĩ như thế, tôi làm như thế đấy,”
th́ việc tu hành rồi sẽ ra làm sao?
Có câu ngạn ngữ rằng, “Rượu mới đổ vào
b́nh mới”. Nếu muốn chuyển hóa bản thân ḿnh bằng cách đem thân đến
thiền viện để tu tập, th́ đó cũng có thể được ví như cái b́nh mới,
và như thế cần phải xả bỏ hết những kinh nghiệm quá khứ, những kiến
thức, và địa vị xă hội của ḿnh. Người thiền sinh phải trở nên trống
rỗng hoàn toàn và đi vào trong thiền viện với một tâm khiêm tốn,
nhẫn nhục. Ở trong cái xó góc trước cổng chùa này, người sa di thiền
sinh bị bắt buộc phải nghĩ cho thấu suốt tất cả những điều ấy và dọn
ḿnh để hành động cho thích hợp.
Trong buổi tối ngày thứ ba bị giữ ở
ngoài vườn chờ đợi, một vị sư đi ra thông báo với tôi rằng: “Xét
rằng kể từ hôm kia tới nay, ngươi vẫn giữ nguyên vị trí ở trước cổng
ra vào mặc dù đă bị mắng chửi, đánh đập; nay ra quyết định rằng:
ngươi có vẻ cũng có ư chí muốn tu tập, v́ thế, ngươi được phép bước
vào trong. Tuy nhiên, v́ chưa được chấp nhận chính thức vào tu tập ở
đây, nên ngươi phải luôn luôn cẩn trọng.” Với những lời nói đó, cuối
cùng tôi đă được bước chân vào thiền viện.
Căn pḥng tôi được phép vào gồm có một
bên là tường và ba bên là liếp cửa bằng giấy mở toang. Tôi đặt cái
hộp đồ vẫn đeo trên lưng vào cạnh tường, rồi ngồi xuống đối diện
vách tường và bắt đầu tọa thiền. Không có cách ǵ biết ai đang nḥm
ngó ḿnh từ ba vách trống trải kia. Lúc này là lúc tôi không thể nào
lơ đễnh được.
Ban ngày tôi được cho ăn ba lần và ban
đêm được phát chăn chiếu ngủ, nhưng vẫn phải ở năm ngày nữa trong
pḥng này; như thế, tôi đă bị đặt ḿnh trong sự tự vấn thật căng
thẳng suốt trong tám ngày liền. Tôi đă tự hỏi ḿnh biết bao nhiêu
lần, “Tôi đang làm ǵ ở đây? Tôi sẽ làm ǵ bây giờ?” Dưới áp lực của
sự tự vấn này, buộc ḿnh tôi luôn luôn phải quay trở về cái khởi
điểm, về cái tâm ban đầu trong sự tu tập của tôi.
Đă bao lần tôi đă trở lại cái khởi điểm
ấy, đă bao lần tôi khẳng định lại quyết tâm của ḿnh. Tôi tin rằng
sự dũng cảm là kiên tŕ theo điều ḿnh đă quyết định làm và chịu
đựng tất cả những khó khăn gặp phải trên đường. Giữ vững và làm được
cái ư định ban đầu ấy -- chỉ một điều ấy thôi -- cũng đă là dũng cảm
thực sự rồi.
Niềm tin vạn năng
Và thế là tôi đă nhập thiền viện Đại
Đức và ở đó suốt trong mười lăm năm. Trong thời gian đó, tôi thực
tập tọa thiền, rồi dần dà sau đó đă được thầy ấn chứng và tôi cũng
đă mắc phải biết bao nhiêu sai lầm. Nhưng dù với tất cả những thất
bại ấy, tôi vẫn kiên tŕ tu tập được, và đó không phải là nhờ những
lư lẽ biện luận, mà nhờ những kinh nghiệm cá nhân sống thực. Chính
nhờ tôi đă sống trong niềm tin, nên đă vượt qua được những cửa ải
khó khăn trong sự nỗ lực tập trung tận cùng, không một lời than van.
Thay v́ ngă gục khi thấy ḿnh bị dồn vào phía chân tường, dù có vẻ
đáng sợ đến đâu, tôi cũng vẫn tự quán xét lại, thẩm định lại, để rồi
tiếp tục bước tới. Tôi nghĩ rằng sở dĩ tôi có được sự can trường như
vậy là nhờ ở bài học đầu tiên tôi đă nhận lănh được khi đang cố xin
gia nhập vào thiền viện này.
Hakuin Zenji (Bạch Ẩn thiền sư), người
được coi như đỉnh cao của tông Lâm Tế, đă khẳng định rằng ba yếu tố
cần thiết để đưa tới sự đạt ngộ trong đường tu cũng như trong bất cứ
nỗ lực nào là: đại tín căn, đại nghi đoàn, và đại phấn chí.
“Niềm tin” (đại tín căn) có nghĩa là
tin tưởng nơi thầy ḿnh và nơi chân lư mà thầy của ḿnh là biểu
tượng. Nếu phân tích một cách rốt ráo, đó là niềm tin nơi năng lực
vô tận của Phật tính mà chúng ta đều vốn đă có sẵn.
Trong khi cái yếu tố thứ hai, đại nghi
đoàn (mối nghi lớn), xem có vẻ như là đối nghịch với sự tin tưởng,
nhưng thực ra nó lại khiến ta thường xuyên ư thức đến sự non kém của
ḿnh, cũng như ư thức đến vấn đề mà ta vẫn hằng ôm ấp trong tâm. Từ
cái lực nội tại của con người, Phật tính, đă sinh ra một truyền
thống trí tuệ thật kỳ diệu, và ta tin tưởng vững chắc nơi trí tuệ
này. Nhưng khi tự xét đến sự non yếu của chính ḿnh và thấy không
thể chấp nhận được, ta sẽ thường mang một vấn đề thắc mắc trong tâm,
một sự xung đột nội tại.
Từ đó ta phải tiến tới trong sự phẫn
chí, có nghĩa là kiên tŕ tu tập trong sự dũng cảm. Trong tiếng Nhật,
chữ “phẫn chí” được ghép bằng hai chữ mang ư nghĩa riêng là “phẫn nộ”
và “kỳ vọng”. Sự phẫn nộ này không phải hướng đến ai khác mà đến sự
yếu kém của chính ḿnh, và v́ thế ta vung lên ngọn roi mạnh mẽ của
sự kỳ vọng, đó là sự phẫn chí.
Chẳng phải qua sách vở hay kinh kệ mà
tôi đă học được ba yếu tố cần thiết mà ngài Bạch Ẩn đă đề ra cho sự
hoàn thành bất cứ mục tiêu ǵ trong đời. Chính ở trong cuộc sống
hàng ngày mà tôi đă luôn luôn phải dùng đến ba yếu tố này. V́ lẽ đó
tôi cảm thấy rất trân trọng và biết ơn. Trong hai mươi năm đầu của
cuộc đời tôi chỉ hiện hữu một cách nửa vời, và nếu tôi không bị bắt
buộc phải sống thực với ba yếu tố này -- niềm tin, sự nghi hoặc, và
quyết tâm -- tôi sẽ không bao giờ có được sự kiên tŕ để vượt qua
được những khó khăn tên đường tu Thiền.
Tin tưởng vào thầy của ḿnh, vào những
sư huynh tiền bối của ḿnh, theo truyền thống, nói khác đi có nghĩa
là tin tưởng nơi chính ḿnh. Ta phải tự gỡ rối những khuyết điểm của
chính ḿnh. Hơn thế nữa, ta c̣n phải tiếp tục tiến bước, và đứng
vững trong mọi thử thách. Dù ở lúc nào, chốn nào, nếu không có ba
yếu tố này, ta sẽ không thể hoàn thành được điều ǵ. Tôi tin chắc
rằng dù thế gian này có biến đổi đến thế nào chăng nữa, đây cũng vẫn
là ba cột trụ nâng đỡ cho bất cứ những ǵ chúng ta mong ước thực
hiện được.
Những thầy cô giáo thường xem bổn phận
của họ là phải làm sao cho học sinh thích thú để học. Những bậc cha
mẹ thường tin rằng làm cha mẹ là phải nuôi nấng những đứa trẻ sao
cho chúng càng ít khóc càng tốt, càng ít bị va chạm càng tốt.
Tôi xin các bạn hăy xét lại những điều
này thật cẩn thận. Xă hội chúng ta, mà những đứa trẻ này rồi sẽ gia
nhập, có phải là một xă hội có sự thông cảm không? Đó là một xă hội
mà trong đó tâm trí mỗi người đều đầy ắp những vấn đề riêng tư của
ḿnh; đó không phải là một thế giới trong đó người ta đối xử với
nhau trong sự thông cảm và quan tâm. Ngược lại, đó là một xă hội đầy
rẫy những người cảm thấy thích thú khi thấy người khác thất bại,
thưởng thức sự nghèo nàn của người hàng xóm như thưởng thức một
miếng thịt thơm ngon. Thật đáng tiếc là, xă hội của chúng ta không
hề là một xă hội lư tưởng chút nào. Khi trẻ con được dạy dỗ bởi
những giáo viên luôn luôn t́m cách làm vui ḷng, chiều đăi chúng, để
cho chúng muốn làm ǵ th́ làm, và những cha mẹ luôn luôn t́m đủ mọi
cách để không cho chúng nếm mùi đau khổ, chịu sự bất tiện, th́ điều
ǵ sẽ xẩy ra cho chúng khi chúng bị ném ra ngoài đời trong một thế
giới như vậy? Phải chăng đây là trường hợp của nhiều người hiện đang
đắm ch́m, không nhiều th́ ít, trong sự hoang mang, bực bội và thất
vọng hàng ngày?
Tôi tự hỏi tại sao những cha mẹ, thầy
cô giáo, và những người lớn khác không sớm sủa t́m cách cung ứng cơ
hội và tập cho những con trẻ có thể tự xử dụng được tiềm năng có sẵn
nơi chúng, cái tiềm năng mà chúng ta đều có, nhờ vào đấy ta có thể
đứng lên tự giải quyết được những vấn đề của ḿnh trong những lúc
khó khăn. Chỉ khi chúng ta nếm mùi bất măn và bực bội, tinh thần vô
uư, ư chí quyết tâm muốn vượt qua mọi trở ngại mới dấy lên từ năng
lực nội tại, từ năng lực tiềm tàng ấy của chúng ta.
Và đây chính là điều mà sự tu luyện của
một vị thiền tăng đă đem lại.
Phần hai: TU LUYỆN
Tâm Bất Động
Cách đây nhiều năm ở Luân Đôn, một
người đàn ông đến gặp tôi, tự nhận là đă hành thiền được sáu bẩy năm
nay và hỏi như sau: “Tôi tập thiền v́ muốn có được một tâm bất động,
nhưng có vẻ như tôi chẳng thể nào có được tâm ấy. Chính ngay ngày
hôm nay, khi đang trên đường đến gặp thầy, có một người đă dẫm lên
chân tôi ở trong xe điện ngầm. Người ấy chẳng buồn nói “Xin lỗi” ǵ
cả, mà cứ tiếp tục đi như là không có ǵ xẩy ra. Tôi cố kềm chế ḿnh,
cố giữ cho tâm thản nhiên, nhưng không thể nào mà không bực ḿnh
được. Xin thầy chỉ cho tôi cách tọa thiền thế nào để cho có được một
tâm bất động.”
Tôi trả lời ông ta, “Ông đă có một tâm
bất động rồi đó! Mặc dù từ lúc ông bị dẫm chân lên tới giờ cũng cách
đây khá lâu rồi, suốt từ khi đó, tâm ông vẫn giữ nguyên ở chỗ ông đă
bị làm cho bực ḿnh ấy. Nếu ông nghĩ rằng tâm bất động là một tâm
không lay động ǵ dù có gặp điều ǵ chăng nữa, và nếu ông thực sự
muốn như vậy, th́ ông chẳng cần phải đem nó ra nữa.”
“Nếu vậy th́, thế nào là một tâm bất
động thực sự?” ông ta ngạc nhiên hỏi.
“Tâm bất động thực sự mà ông đă có từ
khi mới sinh ra đời là tâm vận chuyển với sự tự do tự tại. Tâm ấy
không có điều ǵ là không biết và phản ứng một cách hết ḿnh với
những điều đang tới, nhưng không dính mắc vào một cái ǵ hết, mà
luôn luôn sẵn sàng ứng phó với những ǵ đến sau đó. Một tâm bất động
là một tâm không bao giờ bỏ mất tính tự do của nó, và lúc nào cũng
luân lưu không ngừng .”
Ông bạn này đă hoàn toàn bị thuyết phục
với câu trả lời của tôi, và đă giă từ tôi sau khi nguyện là sẽ càng
thêm tinh tấn tọa thiền. Tôi đoán là tới ngày nay ông ta cũng vẫn
đang tiếp tục nỗ lực chuyên cần để ngộ được cái “tâm bất động” ấy,
cái tâm thường luân lưu trong sự tự do tự tại.
Ông này là một trường hợp điển h́nh của
sự dính mắc vào điều mà chúng ta đang cố gắng tập trung toàn lực để
đạt được. Cho dù chúng ta có hăng hái nhiệt tâm đến thế nào chăng
nữa, nếu ta không biết luân lưu theo sự biến đổi của nước triều, ta
sẽ không có được một tâm nhất quán, sẽ không đạt được Định.
Chữ Định (samadhi) bao hàm hai ư nghĩa
cực kỳ tương phản nhau: “sự hoàn toàn tiếp nhận” và “sự hoàn toàn
không tiếp nhận”. Để có thể “hoàn toàn tiếp nhận” một điều ǵ đang
tới, cần phải “hoàn toàn không tiếp nhận” những ǵ đă tới trong giây
phút trước đó và những ǵ sẽ tới sau đó. Một tấm gương dù có phản
chiếu thật rơ ràng chi tiết tới đâu cảnh trước mắt trong giây phút
trước, nhưng nếu xoay nó đi, cảnh ấy sẽ biến đi hoàn toàn và tấm
gương lại phản ảnh trung thực cảnh mới đang hiện ra. Cũng vậy, với
năng lực có thể hoàn toàn tiếp nhận những ǵ đang có và hoàn toàn
không tiếp nhận những ǵ đang không có, tâm chúng ta làm việc trong
hai chiều đối nhau. V́ lư do đó, từ thuở xa xưa, tâm đă được ví như
một tấm gương. Cái năng lực đưa đến trạng thái tiếp nhận hoàn toàn
mọi sự đang đến trong thực tướng Như Như của chúng - có nghĩa là,
một tâm hoàn toàn không thụ nhận và không dính mắc được gọi là “tâm
bất động” hay chỉ đơn giản là Thiền.
Cái tâm không có điều ǵ là không biết
đến nhưng cũng không dính mắc vào bất cứ điều ǵ không phải là cái
có thể đạt được nhờ tu luyện. Đó là cái “năng lực” mà chúng ta đều
đă sẵn có khi sinh ra. Những người được gọi là Thiền tăng như chúng
tôi vào thiền viện là để dùng sự tu tập làm phương tiện đánh thức
cái năng lực sẵn có ấy, để có thể biểu hiện nó ra một cách tự do, và
đưa nó vào cuộc sống.
Biết đến cái ngu của ḿnh
Tôi đă từng nghe một nhận xét châm biếm
về t́nh yêu và hôn nhân như thế này: “Hôn nhân là chuyển đổi từ một
sự hiểu lầm đẹp đẽ sang một sự thông hiểu thê thảm.” Câu nói này
cũng có thể áp dụng sơ qua đối với một số chặng đường trong tiến
tŕnh tu tập thiền. Tôi xin nói lại một lần nữa là, tôi đă không nói
quá khi xem cuộc đời của ḿnh chỉ là một chuỗi của sự nh́n nhận
những điều tôi đă hiểu lầm (mà không phải là sự hiểu lầm đẹp đẽ ǵ)
và là một tiến tŕnh nhận biết ra được cái ngu của ḿnh.
Đối với người đang có nhiều ham muốn,
họ luôn luôn bám víu vào kinh nghiệm và kiến thức của họ trên hết;
trong thế kẹt giữa hai áp lực của những cảm giác tự tôn và tự ti,
giữa ư muốn xây đắp và hủy diệt h́nh ảnh của một cái ngă lư tưởng …
việc nhận ra sự sai lầm trong những quan niệm của ḿnh là điều dễ
nói hơn là dễ làm được.
Xưa ở Trung Hoa có một đại thiền sư tên
là Triệu Châu. Khi Triệu Châu được năm mươi tuổi, thầy của ngài là
Nam Tuyền mất đi. Sau ba năm để tang, Triệu Châu, lúc bấy giờ vào
tuổi sáu mươi, khởi sự hành khước khắp nước Trung Hoa. Đến tám mươi
tuổi, vị thiền sư xuất chúng này tới trụ tại một ngôi chùa tên là
chùa Quan âm, ở đó ngài đă hướng dẫn đạo pháp cho tăng chúng và các
cư sĩ cho đến khi ngài viên tịch vào năm một trăm hai mươi tuổi.
Một hôm có một học tăng đến chùa Triệu
Châu và hỏi ngài, “Cái ǵ là kiên cố nhất, không thể nào phá vỡ nổi
trên thế gian này?”
Triệu Châu trả lời, “Nếu ngươi muốn sỉ
nhục ta, cứ tha hồ mà làm như ư muốn. Nếu cho là làm như vậy không
đủ, cứ việc sỉ nhục thêm nữa. Nếu ngươi muốn nhổ vào người ta, cứ
tha hồ mà làm đi. Nếu nhổ không chưa đủ, cứ việc đi lấy đất bùn mà
ném vào người ta.”
Thoạt tiên, câu trả lời này có vẻ như
chẳng ăn nhập ǵ với câu hỏi. Nhưng ư của Triệu Châu muốn nói là, dù
có dùng đủ mọi cách lăng mạ đến thế nào, Phật tánh, vốn bất sinh và
có sẵn nơi chúng ta, vẫn không suy suyển ǵ, và là kiên cố nhất
trong tất cả. Nh́n bề ngoài th́ thấy tâm của một số người có vẻ như
dễ dàng bị thương tổn. Nhưng thực sự, đó chỉ là những cái giả tạo và
vẩn đục che phủ tâm ta, không phải cái tâm thanh tịnh trong sáng vốn
có sẵn từ khi sinh ra là bị thương tổn.
Hầu hết mọi người đều hay phân biệt
thật sắc bén giữa cái tốt và cái xấu, mà không nhận ra rằng những
phân biệt đó chỉ là những cái giả tạo vô ư nghĩa. Họ ra sức tu tập
trong quan niệm sai lầm rằng tu là vứt bỏ đi cái xấu và t́m kiếm cái
tốt. Làm như vậy, họ đă công phu không đúng chỗ và phí phạm năng lực
của họ. Ôm ấp những h́nh ảnh lư tưởng trong tâm, họ cố làm sao trở
thành con người lư tưởng như hằng mơ ước, mà không nhận ra giá trị
của cái họ đang có sẵn. Thật vậy, không phải dễ dàng mà hướng dẫn
một nhóm người như vậy cho họ có thể ngộ ra được cái gốc rễ trang
nghiêm căn bản của con người!
V́ lư do đó, trước khi gia nhập một
thiền viện, người sa di sống cuộc đời của một học tăng trẻ, trong
thời gian đó ông phải trải qua biết bao lần phải chối bỏ cái ngă của
ḿnh. Ư tôi muốn nói không phải làø dẹp bỏ con người nguyên thủy của
ḿnh, mà đúng hơn là đương đầu và cay đắng nh́n nhận sự non kém và
giả tạo của cái ngă của ḿnh trong t́nh cảnh hiện tại: chối bỏ cái
ngă trong t́nh trạng đương thời và nhận thức được sự trang nghiêm
của con người nguyên thủy của ḿnh.
Lục tổ Huệ Năng của thiền tông, sống từ
năm 618-713, đă xuất thân từ Tân Châu thuộc Lĩnh Nam, miền nam Trung
Quốc, nơi bị coi là phần đất man rợ trong thời ấy. Huệ Năng, vốn mồ
côi cha từ thuở nhỏ, đă nuôi mẹ bằng cách đi lượm củi trong rừng và
đem về bán trong thành phố. Một ngày kia khi đang bán dạo, Huệ Năng
đi qua một căn nhà và nghe thấy tiếng người đang tụng kinh Kim Cương.
Khi nghe kinh, tâm Huệ Năng bỗng mở ra, ước nguyện muốn được giác
ngộ bùng lên, và thế là ngài ra đi vượt đèo lên núi Hoàng Mai đến
t́m vị tổ thứ năm là Hoằng Nhẫn.
Hoằng Nhẫn thoáng nh́n đă biết vị khách
Huệ Năng này là một người phi thường từ trời đưa xuống. Nhưng khi
nghe Huệ Năng nói đă đến từ tỉnh Tân Châu ở miền Nam, ngài đă cố ư
sỉ nhục mà hỏi rằng, “ Làm sao con người man rợ từ Lĩnh Nam lại đ̣i
tu mà thành Phật được?”
Huệ Năng không hề đổi sắc mà trả lời
mạnh dạn rằng: “Con người ở miền Bắc và miền Nam tuy có đời sống
khác nhau, nhưng Phật tánh không có phân biệt nam hay bắc.”
Khi Hoằng Nhẫn nghe thấy câu trả lời
này, ngài biết ngay rằng Huệ Năng sẽ là người kế thừa ngài trong
ngôi vị Tổ.
Nói về tâm linh, chúng tôi những thiền
tăng đúng là hậu duệ của con người man di vùng Lĩnh Nam. Tuy chúng
tôi mặc áo nâu sồng và sống trong những tu viện, chúng tôi vẫn chưa
sẵn sàng cởi bỏ hết những cái hào nhoáng bên ngoài và vượt qua được
lớp vỏ trần cấu dễ bị thương tổn của ḿnh.
Bây giờ, ta hăy nói về cuộc sống của
những học tăng trẻ ra sao, và những ǵ họ làm trong thiền viện.
Đời sống trong thiền viện
Một ngày b́nh thường bắt đầu từ lúc 3
giờ sáng với tiếng chuông khua tay và tiếng gọi lớn “Kaijo!” (Thức
dậy!) Các vị sư nhẩy ra khỏi giường, lấy một cái b́nh bằng tre đổ ba
ngụm nước vào tay để xúc miệng và rửa mặt. Họ đi vệ sinh, mặc áo
tràng lên, rồi vân tập đến thiền đường trong chánh điện.
Tất cả hành động của mỗi người đều được
làm chung với nhau như một nhóm. Khi tiếng chuông đại hồng trong
chánh điện đánh lên gọi các vị tăng vân tập, người trưởng nhóm của
thiền đường, nơi mà các vị tăng thực sự sống ở đó, rung chuông tay
lên và mọi người lần lượt im lặng bước vào. Thời kinh sáng bắt đầu
trong chánh điện, kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ.
Buổi chiều lúc bốn giờ, trong ngày cuối
cùng của năm, các vị sư đi một ṿng quanh chùa tụng niệm, bắt đầu từ
chánh điện và chấm dứt ở nhà bếp, nơi thờ Idaten I daten có thần
thông bay ṿng quanh trái đất như cái chớp, và v́ thế được phong là
vị thần đem lại thực phẩm cho những người tu. Nhiều năm trước, khi
mới bắt đầu học kinh, tôi lần đầu tiên đă đi ṿng cuối năm tụng niệm
quanh chùa này. Khi vừa mới xong, Zuigan Roshi bỗng bất ngờ hỏi tôi
rằng: “Ngươi dùng tâm ǵ để tụng kinh?”
Tôi hoàn toàn sững sờ, không biết phải
nói ǵ có thể làm vui ḷng đại sư. Rồi, khi tôi vội vă trả lời một
câu có vẻ rất Thiền rằng, “Con tụng kinh mà không dùng tâm nào cả,”
tôi đă bị mắng ngay.
“Đồ ngu. Tại sao ngươi không tụng kinh
trong sự biết ơn là: “Xin cảm tạ đă cho tôi một năm tu tập an lành?”
Cũng có những lúc khác Lăo sư đă quát
với tôi là, “Giọng của ngươi run lên là v́ ngươi cố làm sao tụng cho
thật hay. Ngươi chỉ cần tụng kinh với hết sức ḿnh là đủ rồi.”
Tụng kinh là một hoạt động đă đưa đến
cho tôi vô số lần đụng độ với những quan niệm sai lầm của ḿnh.
Sau thời kinh buổi sáng, các vị sư trở
về thiền đường và khóa tọa thiền bắt đầu. Khi một tiếng chuông đặc
biệt được đánh lên, họ bắt đầu đi vào “tham thiền”, tức là đến gặp
gỡ riêng tư với thầy. Từng người một, họ lần lượt đi vào đối mặt với
lăo sư. Những ǵ xẩy ra ở đó không phải là một cuộc gặp mặt thân
thiện giữa hai con người b́nh đẳng với nhau mà là một cuộc vấn đáp.
Mỗi vị sư đều nhận một công án từ thầy của ḿnh, và phải trả lời cho
công án đó trong cuộc gặp mặt này. (Một công án là một “vấn đề” rút
ra từ pháp ngữ cũng như những hành động của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật
và những vị Tổ, có thể làm khai mở sự giác ngộ.) Vị sư phải quán
triệt được ư nghĩa thực sự của công án qua công phu tọa thiền, chứ
không chỉ qua suy nghĩ lư luận.
Khi thời tham thiền chấm dứt là đến bữa
ăn điểm tâm. Trong suốt bốn năm tôi ở thiền viện, thức ăn chúng tôi
dùng chẳng có vẻ ǵ là thức ăn cả; dần dần những bữa ăn đó mới đổi
thành có vẻ truyền thống hơn. Nhưng dù thế bữa cháo của chúng tôi
cũng chỉ toàn là bằng những hạt lúa mạch lức tṛn, chưa được chà vỏ,
không phải là loại lúa mạch đă được hấp và xấy khô thường dùng trong
các bữa ăn ở ngoài. Cháo là tiêu biểu cho bữa ăn điểm tâm trong
thiền viện, đến nỗi chính chữ điểm tâm được đặt ra từ tên của món
thực phẩm này.
Không cần biết hạt lúa mạch lức này
được đun lâu tới đâu, nước cháo cũng chẳng đặc được tí nào, thế nên
cuối cùng là món cháo này chỉ lơng bơng toàn là nước muối với những
hạt lúa mạch lặn ở dưới đáy. Ngoài món cháo này ra, trong suốt ba
năm, chúng tôi không được ăn ǵ khác ngoài hai miếng dưa mặn chát mà
chúng tôi gọi là “dưa bất tận”. Chúng tôi sẽ cẩn thận mút cái mặn ra
khỏi hai miếng dưa ấy khi ăn, hay có thể gọi là uống, ba bát cháo ấy.
Người ta thường nói rằng những vị thiền
tăng ăn dưa muối mà không phát ra tiếng nào, nhưng thực sự là những
miếng dưa chúng tôi ăn đó chẳng ḍn ǵ cả. Cho dù có cố cẩn thận và
dè dặt liếm miếng dưa đó thật lâu đến thế nào, miếng dưa cũng sẵn
sàng tan ngay ra và trôi xuống cổ họng.
Thật sự như vậy, không chỉ trong vấn đề
ăn dưa muối, mà trong tất cả những hoạt động ở pḥng ăn … dơ đũa lên
xuống, cầm bát lên và đặt bát xuống, húp miếng cháo nóng bỏng …
không có cái ǵ là gây ra tiếng động. Không thể nào có sự th́ thầm
nói chuyện, tất cả các hành động đều được làm trong những cử chỉ đă
được định sẵn và theo tiếng đập của chiếc mơ gỗ. Pḥng ăn, cùng với
pḥng tắm và cầu tiêu, được coi như là ba nơi im lặng, ở đó bắt buộc
phải giữ yên lặng thật nghiêm nghặt. Dĩ nhiên, không cần phải nói là,
thiền đường cũng luôn luôn thật là im lặng.
Tất cả những học tăng mới chung sống
với nhau hai mươi bốn tiếng mỗi ngày, mỗi người có chỗ chỉ định chỉ
rộng khoảng một chiếu tatami, trong gian thiền đường rộng lớn trống
trơn, không có một vách ngăn, cho nên không có chỗ nào hay lúc nào
có thể riêng tư được. Do đó, cơ hội duy nhất để có thể hoàn toàn
riêng tư một ḿnh là ở trong cầu tiêu, và v́ thế bắt các vị sư phải
giữ im lặng ngay cả ở nơi chốn đó, cũng là một cách để thúc cho họ
tiếp tục giữ chánh niệm không ngưng nghỉ.
Ngày tắm rửa trong thiền viện là những
ngày có số 4, hay 9 trong tháng. Các vị sư không chỉ tắm rửa mà c̣n
giặt đồ, vá quần áo, và đi lo những công chuyện cần giải quyết. Tóm
lại là họ chỉ tắm một lần mỗi năm ngày thôi.
Dù có là ai đi chăng nữa, nếu một người
phải dậy sớm tinh mơ và đi ngủ trễ, tọa thiền rồi đi lao tác mỗi
ngày, th́ bước vào trong bồn tắm là một cái thú thần tiên giống như
là lên thiên đàng vậy. Tinh thần của ông ta sẽ lên cao độ mặc dù ông
không muốn như vậy. V́ lư do đó, pḥng tắm cũng là một trong ba nơi
chốn phải im lặng.
Nhưng chúng ta hăy trở lại với pḥng ăn.
Điều quan trọng phải giữ giới luật im lặng trong lúc ăn là bởi v́ dù
thức ăn có dở đến thế nào chăng nữa, tâm của một vị tăng cũng dễ đi
lan man trong lúc đó. Thật vậy, tôi c̣n dám nói là thức ăn càng dở
bao nhiêu, tâm lại càng dễ đi lang thang bấy nhiêu.
Sau bữa điểm tâm, các vị sư lau dọn bên
trong và bên ngoài thiền đường trước khi đi ra ngoài khất thực vào
lúc quá bẩy giờ. Những ngày khất thực xen kẽ với những ngày giảng
pháp của thầy, nên nếu thầy giảng vào ngày thứ hai, thứ năm, thứ bẩy
và thứ mười trong tháng, th́ ngày khất thực sẽ là ngày thứ nhất, thứ
ba, thứ sáu và thứ tám. V́ ở Kyoto có đến bẩy thiền viện, nên chương
tŕnh được sắp xếp để các vị sư trong khu vực gần nhau không đi khất
thực trùng một ngày.
Quanh năm, các vị sư lê gót đi khất
thực qua những nẻo đường của thành phố, đôi chân trần trụi bao trong
những đôi dép rơm. Họ không được phép đứng ở ngưỡng cửa các nhà họ
đi ngang qua, nhưng họ thường đi thành từng nhóm ba người và đi theo
hàng một, cách nhau khoảng ba mươi mét, vừa đi vừa hô to lên “HO”.
Những căn nhà ở Kyoto thường nhỏ hẹp,
sâu vào trong và sát với nhau, trông giống như một hàng lươn. Tôi
được một vị sư lớn tuổi hơn dạy là phải đi cách xa nhau đủ để bà chủ
nhà nếu đang ở ngoài sân sau phơi quần áo có nghe tiếng “Ho!” đầu
tiên của vị sư đi đầu sẽ có th́ giờ để mà lau tay, đi kiếm ít tiền
lẻ hay bới ít cơm ra cửa trước kịp lúc vị sư thứ ba đi sau cùng vừa
mới tới nơi.
Hiện tại chúng ta đang sống trong một
thời đại dư thừa, một thời đại mà không có ǵ khó khăn khi nhận được
tiền và đồ cúng dường của thí chủ. Nhưng trong thời kỳ vừa sau cuộc
thua trận Thế Chiến của chúng tôi, hầu như tất cả các vị sư đều rất
ngại ngùng khi phải làm việc này. Ngay chính tôi cũng cảm thấy thật
khó khăn khi phải thản nhiên mà cúi đầu xuống nhận một ít tiền lẻ
của thí chủ.
Khu vực đèn đỏ -- c̣n được gọi một cách
văn hoa là xóm hoa -- vẫn c̣n tồn tại trong những ngày ấy, và có một
hôm, khi chúng tôi đang đi khất thực qua khu ấy, từ trên lầu hai,
một cô gái làng chơi với khách của cô ta đă ném xuống vài đồng xu
cho chúng tôi. Một vị sư trẻ vừa tốt nghiệp đại học và nhập chúng
trong thiền viện đă bắt lấy mấy đồng xu ấy không suy nghĩ và dợm ném
trả lại. Khi trở về chùa, ông ta bị sư huynh mắng một trận nên thân,
và được nhắc nhở thật rành mạch về ư nghĩa hai mặt của sự đi khất
thực. Một mặt, đó là sự tập luyện hạnh nhẫn nhục; một mặt khác, đi
khất thực là để gieo duyên cho người khác xả đi cái tâm tham của họ.
Thực hành khất thực đem lại lợi ích cho bản thân cũng như cho người
khác, tự lợi và lợi tha, như hai bánh xe trong một cái xe, và vị sư
trẻ đó đă được dạy cho rằng ông ta đă hoàn toàn hành động một cách
không cẩn trọng.
Tôi đă nghe được lúc vị sư này bị mắng,
và những lời răn dạy ấy đă làm tôi xúc động sâu xa. Tôi chợt nghĩ ra
rằng cái chữ “Ho!” mà chúng tôi kêu to lên ấy có nghĩa là “Pháp” và
khi chúng tôi khất thực là đang đi trên một con đường truyền bá Pháp
Phật cho khắp thế gian. Từ đó tôi sửa soạn đi khất thực trong tâm
niệm là tôi đang làm khu vực đó được thanh tịnh với tiếng “Ho” của
tôi vang xa, y như là tôi đang là một cái máy hút bụi khổng lồ vậy.
Một ngày kia khi đến thăm thầy tôi, Đại sư Zuigan, tôi chợt nói ra ư
tưởng này, và nhận lănh một trận quát tháo như sấm sét.
“Đồ ngu!” Ngài hét. “Đừng có tự mê hoặc
ḿnh. Chữ “Ho!” mà người hô lên đó là tượng trưng cho b́nh bát ngươi
mang để nhận đồ bố thí đó. Đừng có thắc mắc ai đang làm ǵ, v́ lư do
ǵ hay là ai đang nhận ǵ, hay bất cứ một cái ǵ khác. Chỉ cứ đi ra
khất thực mà không t́m kiếm ǵ cả, cũng như nước trôi đi vậy, hay là
như đám mây bay theo gió vậy thôi.”
Thế là lại thêm một ư tưởng ngu si của
tôi đă bị dập tắt. Trong quăng đời tu tập đôi khi người ta dễ bị lạc
hướng qua muôn ngơ ngách quanh co của những ấn tượng méo mó chủ quan.
Khi những vị sư đi khất thực trở về rồi,
khoảng sau 10 giờ sáng, là đến giờ ăn trưa. Bữa ăn trưa này gồm có
cơm lúa mạch, súp miso với rau, và hai củ cải muối. Có thể nói một
phần cơm là để độn vào với chín phần hạt lúa mạch lức. Sau khi hỗn
hợp này được đun lên cho tới mức nhừ nhất có thể được, nó lại được
nghiền thêm bằng một cái môi múc cơm để cho hột lúa mạch dẻo ra thêm
một chút. Nếu không nghiền ra, lúa mạch sẽ vẫn cứng và rất khó ăn.
Đến bữa tối, đồ ăn dư từ bữa trưa c̣n lại được pha trộn vào nhau
thành một món hổ lốn. Nếu các vị sư ăn cơm độn lúa mạch nhiều quá
trong bữa trưa, nước sẽ được đổ thêm vào trong món hổ lốn này, làm
thành một món hỗn hợp thật là lơng bơng.
Sau bữa ăn trưa là phần lao động, được
gọi là samu. Công việc phải làm là làm vườn rau, tỉa cây cảnh, nhổ
cỏ dại, và chẻ củi. Công việc lao động được nhấn mạnh đặc biệt trong
đời sống thiền viện, và những vị sư thường xuyên được cảnh cáo là
không nên phán xét công việc đó trong những giá trị tương đối của
chúng mà chỉ là buông bỏ hết mọi phân tích lư luận và lo làm công
việc đó hết ḿnh.
Thiền sư Bá Trượng, thời xưa ở Trung
Hoa từ năm 720-814, là người đă có công thiết lập tiêu chuẩn luật lệ
phải theo trong những thiền viện. Đại sư Bá Trượng vẫn tiếp tục làm
việc dù cho ngài đă đến tuổi tám mươi. Khi các đệ tử của ngài, v́
quan tâm đến sức khỏe của thầy, đă dấu những dụng cụ của ngài đi, Bá
Trượng bắt buộc phải thôi làm việc. Nhưng cùng lúc ấy, ngài cũng
thôi không ăn. Khi các đệ tử van xin ngài hăy ăn uống, ngài đă trả
lời họ với những lời nói vẫn c̣n nổi tiếng cho đến ngày nay: “Ngày
nào không làm là ngày ấy không ăn.”
Có một lần, khi tôi kể lại chuyện này
cho một đệ tử, anh ta đă nhận xét rằng, “À ra thế đấy. Người nào
không làm việc th́ không được ăn, có phải vậy không thầy?”
Nếu xét hai câu nói này của Bá Trượng
và của người đệ tử kia, thoạt nh́n th́ có vẻ giống nhau, nhưng thực
ra là khác hoàn toàn. Cái khác biệt giữa sự đối mặt với một người và
ra lệnh rằng, “Người nào không làm là không được ăn,” với câu tự nói
với chính ḿnh, “Nếu tôi không làm, tôi sẽ không có ăn,” là khác
biệt với nhau một trời một vực. Câu nói trước mang một vẻ khiêu
khích và có tính cách tranh căi, trong khi câu nói sau là một nhận
định thật sâu sắc từ trong nội tâm mà ra.
Sau thời lao tác và bữa ăn tối “có dược
tính” của món hổ lốn (chữ bữa ăn chính đúng ra được viết theo chữ
Nhật là “dược thạch”), các vị sư đi vào trong thiền đường và tọa
thiền ở đó cho đến chín giờ tối. Trong khoảng thời gian này, họ cũng
có một buổi tham thiền chính thức với thầy nữa. Đến chín giờ tối,
lại có một thời tụng kinh đặc biệt trước khi đến “giờ đi ngủ”, một
chữ dùng có ư nghĩa là “hết áp dụng luật lệ (cho ngày hôm đó)”. Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa là khi thời tụng kinh đă chấm dứt và
đèn đuốc đă tắt hết, mọi người đều đi ngủ ngay. Khi tiếng tụng kinh
vừa xong, vị sư trưởng rung chuông lên rồi, các học tăng nhanh chóng
cởi áo tràng ra, lấy chăn gối từ kệ xuống, rồi chui vào giường ngủ
một cách trật tự, đó là, tạm thời th́ có vẻ như vậy.
Chắc bạn chưa bao giờ có dịp được thấy
bên trong một thiền đường ra sao, nhưng bạn có thể tưởng tượng đó
như là một trại lính vậy. Tôi đă từng nghe nói khi phái Thiền tông
muốn xây dựng một thiền đường, họ trông vào trại lính làm gương mẫu.
Dọc mỗi bên thiền đường là một hàng dài chiếu tatami, mỗi học tăng
được chỉ định một chiếu để tọa thiền, ngủ, và sống ở trong đó. Ở
giữa hai hàng chiếu là một lối đi lát gạch theo kiểu Trung Hoa.
Chăn chiếu chỉ gồm có một cái nệm
futon, được xếp làm hai và dùng vừa để nằm, vừa để đắp, c̣n được gọi
là “nệm futon lá sồi”, v́ vị tăng nằm gọn trong cái futon đó giống
như một chiếc bánh nếp nhân đậu gói gọn lỏn trong một chiếc lá sồi.
Vị tăng nào quen nằm với tấm nệm như vậy sẽ quấn ḿnh trong đó thật
khéo như một miếng cơm quấn rong biển, và sẽ thấy ấm áp vô cùng. Bất
cứ lúc nào, dù mùa hè hay mùa đông, tấm nệm duy nhất này cũng được
dùng làm chăn chiếu cho người học tăng.
Vừa khi vị sư trưởng phụ trách thiền
đường, với cây gậy trong tay gọi là keisaku đă đi kiểm soát xong
xuôi những hàng người quấn mền như quấn rong biển, đèn sẽ tắt và vị
sư trưởng sẽ rời khỏi thiền đường. Ngay lúc đó, mọi người đồng loạt
chui ra khỏi giường và lại mặc áo tràng vào, tọa cụ ôm trong tay, đi
ra ngoài t́m một chỗ trống dưới mái hiên chính điện hay trên bia một
ngôi mộ nào đó, ai có chỗ nấy, và bắt đầu tọa thiền ban đêm.
Tôi thường hay chọn một mộ bia nào có
nền cao nhất để ngồi thiền ban đêm. Tôi đă thật sự tin tưởng một
cách trẻ con rằng ngồi ngất ngưởng trên một tảng đá cao-- rơ ràng là
một chỗ nguy hiểm nếu lỡ ngủ gục sẽ khiến cho tôi không dám ngủ gục.
Cho đến chín giờ tối, tất cả mọi người
đều ngồi thiền chung với nhau trong thiền đường. Rồi sau đó, khi
luật lệ trong ngày chấm dứt, mọi người đều tự nguyện ngồi thiền
riêng. Đối với một học tăng mới đến trong thiền viện, những thông lệ
này thật là quá cam go . Tuy nhiên, sau một thời gian, tôi bắt đầu
nhận thấy rằng hành thiền ban đêm như vậy là thực sự có lợi ích.
Cũng tựa như mỗi người đều có một nét
mặt riêng biệt, hoàn cảnh của mỗi người cũng hoàn toàn đặc thù cho
người ấy, cho nên trong thế gian này có vô lượng hoàn cảnh riêng
biệt khác nhau. Cái tâm nguyên thủy mà mỗi người chúng ta đều sẵn có
từ khi sinh ra là một điều vi diệu vô cùng, nhưng những ấn tượng
huân tập từ các kinh nghiệm trong đời và kiến thức thâu thập đều
khác nhau với mỗi người. V́ thế, sau khi những ngọn đèn đă tắt, để
ra một thời gian cho mỗi người ngồi thiền riêng là sự cần thiết.
Theo thứ tự thâm niên, những vị sư trở
lại thiền đường đi ngủ, và điều đó có nghĩa là người nào mới nhất
trong các vị sư thường chỉ đi ngủ khi đă tới nửa đêm. Và như thế,
ngay cả trong những ngày b́nh thường, họ cũng chỉ có được ba tiếng
đồng hồ để ngủ. Vốn sẵn yếu đuối, tôi luôn luôn cảm thấy như ḿnh
ngất đi hơn là ngủ đi. Hơn thế nữa, trong thời gian một tuần chuyên
tu gọi là tiếp tâm (sesshin), giờ ngủ lại c̣n bị cắt xén thêm nữa.
Miêu tả những thông lệ này trong thiền
đường có lẽ sẽ vẽ lên một lối sống cực kỳ khắc khổ, nhưng trong thời
kỳ mà con người c̣n đang tràn trề sức sống và năng lực, sẽ không thể
nào đạt được sự định tâm trong tọa thiền nếu ta ngủ bất cứ lúc nào
muốn ngủ và ăn bất cứ lúc nào muốn ăn. Cũng trong ư nghĩa đó, những
thực phẩm chay lạt cũng giúp cho tâm được yên tịnh phần nào, và tôi
tin rằng đó cũng là điều cần thiết.
Trong đời sống thiền viện, sự sở hữu
riêng tư được giới hạn nghiêm ngặt. Những vị sư sống trong sự giản
tiện tối đa những đồ dùng cần thiết: chỉ có một tấm khố, áo trong
bằng vải bông, khăn buộc bụng, và áo kimono một lớp.
Ngay cả trong mùa đông, cũng không có
áo kimono dầy hoặc hai lớp để mặc. Chính tôi cũng không bao giờ có
được một cái áo lót cho đến khi tới trên ba mươi tuổi. Về mùa đông,
áo ngoài mặc dầy hơn một chút, nhưng áo trong cũng vẫn mỏng, áo
kimono cũng chỉ có một lớp, và rồi đến áo tràng, v́ vậy chỗ duy nhất
trên thân ḿnh mà không bị gió trực tiếp thổi vào là khu vực ở giữa
bụng được quấn khăn chặt . Chúng tôi gần như là trần trụi, với hầu
hết thân thể tiếp xúc trực tiếp với không khí ở ngoài. Lúc cảm thấy
buốt giá nhất là về buổi sáng tinh mơ khi bị dựng dậy khỏi giường,
trong bóng đêm tê tái của mùa đông, khi đó người tăng sĩ vội vàng
ướp lạnh thân ḿnh … bởi v́ khi toàn bộ thân ḿnh đă lạnh hết rồi,
th́ không c̣n cảm thấy lạnh nữa. Tôi thấy rằng, tọa thiền trong mùa
đông là thật sự biết đến cái không khí lạnh, cảm thấy nó đi vào qua
cửa tay áo để được thân sưởi ấm một chút, xong lại truyền lên ngực,
dâng lên tới cầm như một gịng lưu chuyển ấm áp dần.
Bất kỳ mùa nào cũng vậy, những vị sư
chỉ đi vớ trong những dịp lễ đặc biệt. Cái quai của đôi guốc gỗ làm
bằng lát tre đan lại, cũng như những dây của đôi dép rơm mà họ đi đă
cọ xát và làm cho da chân của họ dầy lên, v́ thế da chân của một vị
sư c̣n dầy hơn là gót chân của một người thường.
Sống một cuộc đời thiếu thốn như vậy,
buồn ngủ là một căn bệnh kinh niên, và dạ dầy cũng đói quanh năm
suốt tháng. Ngay cả một người có ḷng ham muốn thật nhiều cũng chỉ
c̣n đơn giản một ước muốn thèm được ăn, và ngủ nhiều hơn.
Những bà già thường đặc biệt cúi chào
kính cẩn khi thấy chúng tôi chân trần đi những đôi dép rơm ra ngoài
khất thực trong đường phố lạnh giá mùa đông. Tuy nhiên, phải nói
rằng, sau thời gian chừng hơn một năm, hầu hết các vị tăng cũng quen
với đời sống thiền viện, và những cực khổ vật chất không c̣n có ảnh
hưởng mấy nữa. Thật ra phương diện khổ tâm nhất trong sự tu tập
không phải là sự cực khổ thân xác mà là cái khổ tinh thần trong
những lần đối đầu riêng tư với thầy. Cái khổ này chắc chắn là sau
một năm cũng không biến đi đâu được.
Trọng tâm của mỗi lần gập gỡ riêng với
thầy là sự tŕnh bầy kiến giải của người đệ tử về công án. Để thí dụ,
tôi xin dùng một trong những công án nổi tiếng nhất, “Hăy chỉ cho
tôi thấy bộ mặt bản lai trước khi cha mẹ anh sinh ra,” Nói cách khác,
công án này hỏi là, “Cái ǵ là bản thể chân thật của anh trước khi
được cha mẹ sinh ra?”
Một vài người trong số các bạn sẽ cho
những câu hỏi loại này là vô nghĩa, nhưng vị sư được giao cho công
án này -- biết là thế nào ông ta cũng phải đưa ra một câu trả lời
cho thầy sáng ngày hôm sau -- sẽ bắt buộc phải làm việc với công án
đó như là chuyện sống chết vậy. Sự tham khán đến cùng cực công án ấy
khiến điều đầu tiên ông ta nhận ra là, trong khi thân vật chất này
được sinh ra từ cha mẹ, sự sống đang được tiếp tục một cách vô hạn
định. Không đứa trẻ nào được sinh ra sau khi cha mẹ nó đă chết rồi.
Bị mê hoặc với cái chết của thân xác, chúng ta phân biệt ra -- đời
sống của cha mẹ, đời sống của đứa con, đời sống của tôi, đời sống
của anh -- nhưng trên thực tế, dù cho chúng ta có đi trở ngược lại
quá khứ không ngừng, đời sống mà chúng ta đang sống hiện tại là một
sự tiếp diễn vô hạn, không thể định rơ được đâu là điểm khởi đầu của
nó. Bằng sự lư luận, chúng ta cũng có thể hiểu được điều này.
Nhưng hơn thế nữa, chức năng lớn của
đời sống chính là chức năng của tâm. Nếu dùng lư trí thuần túy để
nghĩ đến điều này, ta sẽ tự hỏi rằng: “đi vượt ra khỏi cái mà ta gọi
là “cái ta”, cái ǵ là bản chất làm nên sự sống vô hạn định? Đi vượt
ra khỏi cái ta mà chúng ta phân biệt dựa trên những sự khác nhau nhỏ
nhặt như: khác nhau về nét mặt, về cá tính, khả năng … cái ǵ là cái
ta nguyên thủy, thực sự thường hằng? Dần dần rồi tất cả mọi người,
ít nhất, cũng nhận ra được đây chính là câu hỏi của công án.
Nhưng dù người thiền sinh có biết được
tới đó, ông ta vẫn c̣n phải gặp rất nhiều khó khăn trước khi có thể
nói với lăo sư rằng, “Đây chính là bộ mặt bản lai của tôi.” Gần như
bao giờ cũng vậy, ông ta sẽ bắt đầu bằng cách đưa ra đủ mọi lư luận
trống rỗng. Vị thầy, lúc đầu, sẽ yên lặng lắng nghe xong rồi rung
chuông lên, ám chỉ cuộc tham thiền đă chấm dứt và người kế tiếp phải
đi vào.
Dần dần, qua một thời gian, vị thầy sẽ
quát lớn lên, “Ta không cần nghe giải thích ǵ cả! Bỏ hết những lư
thuyết đó đi và chỉ cho ta bộ mặt bản lai của ngươi như thế nào!”
Người học tăng rốt cuộc sẽ cảm thấy như muốn phát khùng.
Những vị sư không tụ tập một chỗ đợi
chờ đến phiên ḿnh để trả lời câu hỏi về Thiền theo thứ tự nối tiếp
nhau, “Rồi, bây giờ đến người kế tiếp”. Thực tế là, khi đến giờ tham
thiền, vị tăng phụ trách sẽ đem một cái chuông nhỏ ra một nơi giữa
chừng của thiền đường và pḥng tham thiền của thầy rồi để ở đấy. Lăo
sư, cầm một cây gậy dầy gọi là “trúc bề” (shippei), đă chờ đợi sẵn
sàng trong pḥng. Khi chuông rung, những vị tăng đang ngồi tọa thiền
sẽ phải bước ra ngoài thiền đường, sắp hàng trước cái chuông, và chờ
đợi đến phiên của họ. Khi lăo sư ra hiệu, những vị sư, lần lượt từng
người một, sẽ đến rung chuông để báo trước họ sẽ bước vào pḥng tham
thiền.
Một khi vào trong pḥng lăo sư rồi,
thầy với tṛ hoàn toàn một ḿnh trong đó, sẽ trao đổi một cuộc đối
thoại Thiền. Không ai có thể nghe được cuộc đối thoại này. Khi lăo
sư quyết định chấm dứt buổi họp, ngài sẽ rung chuông tay lên và học
tăng cúi đầu vái chào rồi lui ra, chạm trán trên đường đi với người
kế tiếp đang vào gặp thầy.
Sự gặp gỡ riêng tư nay với thầy diễn ra
hai lần trong ngày, buổi sáng và buổi tối trong những ngày thường,
và ba lần một ngày trong tuần lễ chuyên tu. Ngoài ra, có một khoảng
thời gian tu tập đặc biệt gắt gao gọi là “tiếp tâm lạp bát” (Rohatsu
O-sesshin), diễn ra một lần trong năm, từ ngày mồng một tháng chạp
suốt cho đến rạng ngày 8 tháng chạp, khi gà bắt đầu gáy sáng mới
chấm dứt. Tuần lễ huân tu ráo riết này để kỷ niệm ngày thành đạo của
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc ngôi sao mai xuất hiện trong rạng sáng
ngày mùng 8 tháng chạp. Trong tuần lễ này, không ai được nằm xuống
ngủ, và thời tham thiền với thầy tăng lên bốn lần trong ngày.
Bao nhiêu lư luận cũng không thể giúp
người học tăng có thể thông qua công án được. Và khi không c̣n lư
luận nào đem ra nữa, nghe tiếng chuông rung vào gặp thầy, ông ta sẽ
cảm thấy không muốn rời khỏi thiền đường chút nào. Trong những ngày
thường, học tăng có thể được phép bỏ bữa tham thiền đó và chí tâm
tiếp tục tọa thiền. Nhưng trong tuần lễ chuyên tu, hai hay ba vị sư
huynh tiền bối sẽ xuất hiện như những hung thần, lôi cổ người học
tăng đó ra khỏi gối thiền và bắt phải đi gặp thầy. Học tăng không
thể nào tránh vào gặp thầy chỉ bởi v́ ông ta không có câu trả lời
cho công án được.
Nếu nh́n vào những cột nhà giữa thiền
đường và pḥng tham thiền, ta sẽ thấy vô số những vết trầy. Đó là
những dấu vết ấn chứng sự tuyệt vọng của những vị tăng không có câu
trả lời cho công án đă cố bám vào cột khi họ bị những sư huynh lôi
đi vào pḥng tham thiền. Có nhiều khi, vị tăng nào kiên quyết bám
dính vào cột sẽ bị gậy đánh vào tay. Sự đau đớn sẽ làm ông ta phải
buông tay ra và bị kéo đi đến gặp thầy.
Vị tăng nào đến gập thầy mà im lặng,
không có câu trả lời, thế nào cũng nghe thầy quát lớn, “Ngươi làm ǵ
ở đây nếu không có ǵ để nói?” và rồi sẽ bị đánh với cây gậy dầy của
thầy. Bị tấn công từ mọi mặt, vị tăng biết rằng nếu ông có thoát
được kỳ này, cũng sẽ có kỳ khác chỉ trong vài tiếng nữa thôi, vào
buổi tối, hay buổi sáng tinh mơ hôm sau. Dù có lười biếng hay khôn
lanh đến đâu, vị tăng cũng sẽ bị dồn vào thế kẹt mà ông sẽ không thể
t́m cách thoát ra được bằng những cách vá víu tạm thời. (Sự tu luyện
kiểu này đặc biệt được dùng trong các thiền viện Lâm Tế, đối nghịch
với cách tu của thiền viện Tào Động.)
Kết quả của sự tu luyện này là, tôi
thường mơ thấy ḿnh được giác ngộ khi ở trong thiền đường. Tỉnh dậy,
phần nhiều tôi hay thấy là kinh nghiệm giấc mơ ấy chẳng có ǵ đáng
kể và không có ích lợi ǵ. Tuy nhiên, có những lần, kinh nghiệm giác
ngộ trong mơ kéo dài ngay cả khi tôi đă tỉnh dậy. Có vài ba lần khi
xẩy ra như vậy, tôi đă đi gặp thầy trong sự hứng khởi, và được thông
qua công án.
Hàng đêm, khi cuối cùng được quấn ḿnh
trong tấm mền lá sồi, thay v́ ngủ, tôi thiếp đi trong một cơn mê mệt,
để rồi một lúc sau đă bị đánh thức cho một ngày mới. Nhưng mỗi lần
rơi vào trạng thái mê mệt này, công án vẫn là cái sau cùng c̣n lại
trong ư thức của tôi. Tuy thân tôi ngủ, nhưng trong tiềm thức vẫn
chờn vờn cái viễn tượng phải đối diện với thầy vào sáng sớm hôm sau,
cảm giác bị tra hỏi vẫn tiếp tục tồn tại, và câu “Bộ mặt bản lai...
bộ mặt bản lai...” vẫn vang vọng ngay cả trong giấc mơ.
Rồi, mỗi buổi sáng khi vị tăng có nhiệm
vụ đánh thức chạy ngang qua thiền đường, rung chuông lên và hô lớn,
“Thức dậy! Thức dậy!”; nghe tiếng gọi đó, ngay cả khi c̣n chưa ra
khỏi cơn ngái ngủ, cái cảm giác bị tra hỏi, “Bộ mặt bản lai” đă sẵn
sàng ở đó rồi. Ư thức về câu hỏi nan giải trong tâm sẽ thức dậy
trước, rồi mới đến ư thức chung. Nghe th́ có vẻ khó tin, nhưng đó là
kinh nghiệm tu tập của tôi ở chùa Đại Đức.
Không bao giờ hết tu
Ngay cả đối với những người đang theo
một nếp sống khắc khổ như trong tu viện, sự buông bỏ những thói quen
huân tập từ lâu đời lâu kiếp cũng không bao giờ dễ dàng được. Chúng
ta hành xử dựa theo những phán đoán trong những giá trị mà chúng ta
đă chọn sẵn, phân biệt những h́nh tướng mà mắt chúng ta nh́n thấy,
phân biệt những âm thanh mà tai chúng ta nghe, phân biệt những mùi
mà mũi chúng ta ngửi. Chúng ta phân biệt những vị mà lưỡi chúng ta
nếm, tưởng tượng đủ thứ qua xúc giác cảm thấy ngoài da, lập thành
những định kiến trong ư thức. Chúng ta so sánh và đối chiếu tất cả
mọi thứ mà chúng ta gặp. Đối với tôi, không phải là điều đơn giản để
thoát ra khỏi thói quen làm việc như thế của tâm trí vàø kinh nghiệm
được một cách thuần túy và trực tiếp sự đồng nhất thể giữa cái ta và
ngoài ta.
Để có thể nắm trọn tức thời mọi t́nh
thế xẩy ra, một hiện tượng được gọi một cách triết lư hơn là sự
“kinh nghiệm thuần túy”, tôi phải vượt qua được nỗi sợ hăi cái chết.
Tôi phải thú nhận rằng từ trước cho đến khi có được kinh nghiệm này
trong tu viện, đời sống của tôi chỉ toàn là một sự nối tiếp không
ngừng của những nỗi khổ thể xác và tinh thần.
Tôi xin kể lại đây một sự việc ngu xuẩn
đă xẩy ra khi đi khất thực, ở trong thời kỳ mà dù ngủ hay thức, công
án cũng tràn ngập trong đầu óc của tôi và ư nghĩ duy nhất của tôi
lúc đó chỉ là “Tôi muốn được giác ngộ... tôi muốn được giác ngộ...”
Không để ư đến cái ǵ đang ở trước mặt hay sau lưng, tôi đă đâm sầm
vào một vật ǵ; nh́n lại th́ hóa ra tôi đă đâm bổ vào mông của một
con ḅ! Ngay lúc vừa nhận ra tôi đă đâm vào mông con ḅ, ngoài sự
ngạc nhiên ra, điều đầu tiên tôi biết được trong tâm là “Ồ, giác ngộ
chính là đây!”
Trong nội tâm chúng ta có những khán
giả kiên cố nhất, luôn luôn phê b́nh và phán đoán t́nh trạng của
ḿnh. Ngay cả khi người ta đă đến t́nh trạng hoàn toàn kiệt lực,
trong tâm trí thường có một người bảo vệ vốn hay phân biệt và không
bao giờ quên được cái “ta”, vẫn luôn luôn bận rộn ở đó, th́ thầm bỏ
nhỏ đủ mọi thứ linh tinh tầm phào. Trường hợp của tôi, bị chi phối
bởi chút kiến thức và kinh nghiệm nhỏ nhoi mà tôi đă huân tập, cái
giọng nói bảo vệ kia cũng th́ thầm một điều vô căn cứ nhất như sau:
“Nếu ta cứ tiếp tục như thế này, ta sẽ chết mất. Phải ngừng ngay đi
thôi.”
Tọa thiền rồi lại tọa thiền, tôi chẳng
gặt hái được ǵ ngoài sự buồn nản và mệt mỏi; cả đầu óc lẫn thân thể
tôi bắt đầu không hoạt động được b́nh thường. Ư nghĩ tôi sẽ chắc
chắn phải chết nếu cứ tiếp tục như thế này cứ lởn vởn biết bao nhiêu
lần, làm gián đoạn sự tu tập của tôi. Nhưng để cho bạn được biết kết
cuộc trước khi diễn giải lại, tôi có thể nói là mọi sự đă không hề
đi đến cái ngơ rẽ mà tôi đă lo sợ ấy. Sự kiệt lực và những nỗi khổ
tận cùng không làm cho chết đi được, mà trái lại, đă biến thái theo
một đường ṿng và đi trở về ngay chỗ khởi điểm mà tôi đă bắt đầu.
Một đêm nọ, vào lúc nửa đêm, tôi đang ngồi với cả một khối mệt mỏi
đè nặng trên cái gối tọa thiền, đầu óc và tâm trí như mê muội đi
trong một t́nh trạng mơ hồ, không c̣n cả sức lực để khơi dậy cái ước
muốn được giác ngộ nữa; th́ đột nhiên, màn sương mù dầy dặc bao phủ
bỗng tan ra và cả một thế giới sáng tỏ chợt hiển hiện. Thấy rơ ràng,
nghe rơ ràng, nhưng đó là một thế giới trong đó không c̣n thấy có
cái “tôi”! Tôi không thể nào cắt nghĩa cho đầy đủ trạng thái ấy như
thế nào. Nếu cố t́m cách giảng giải sẽ bị lạc qua một hướng khác. Có
một điều tôi chắc chắn là trong giây phút ấy, tôi đă nhận thức được
tính thanh tịnh hoàn toàn của tâm thể tôi đă có ngay khi vừa sinh ra
đời. Tôi không thể nào đè nén được sự hoan lạc dâng trào. Không muốn
về pḥng đợi đến tiếng chuông đánh thức sáng mai, tôi đă đột xuất đi
gặp thầy và được ngài cho phép rời chùa trong ṿng hai tiếng đồng hồ
để đi báo tin về kinh nghiệm này cho lăo sư Zuigan.
Tôi đi bộ qua bóng đêm tối đen, về chùa
Daishuin trong ṿng chưa đầy một tiếng đồng hồ. Khi tôi tới nơi, Lăo
sư vẫn c̣n nằm trong giường ngủ. Tôi ḅ đến gần gối của ngài, nói
gọn, “Rốt cuộc, con đă thấy rồi.”
Lăo sư ngồi bật dậy, chăm chú nh́n tôi
một lúc thật soi mói, rồi nói, “Bây giờ mới là bắt đầu . Mới là bắt
đầu thôi. Hăy an trụ cho vững chăi.”
Đó là tất cả những ǵ ngài đă nói với
tôi. Từ lúc đó cho đến mười sáu năm về sau, cho đến khi tôi bước vào
tuổi bốn mươi và Lăo sư Zuigan qua đời vào tuổi tám mươi bẩy, dù ở
trong thiền viện hay nơi tự viện, tôi cũng vẫn tiếp tục tham công
án. Không, tôi phải nói rằng tới bây giờ tôi vẫn c̣n tiếp tục. Ở đây
không phải chỉ là vấn đề của công án Thiền, mà là vấn đề công án
sống thực của cuộc đời con người, vẫn tiếp tục măi măi vô hạn định.
Thức tỉnh thấy được bộ mặt bản lai của
ḿnh -- “giác ngộ” -- không có nghĩa là khả năng có thể giải thích
con người của ḿnh hay biết được nguồn gốc của ḿnh. Giác ngộ là sự
giải thoát khỏi những vướng mắc của kiến thức và kinh nghiệm riêng
tư đă tích lũy và bám chặt từ lâu đời lâu kiếp mà chúng ta không hề
hay biết, như những chất cặn đóng lại hay chất cholesterol bám chặt
trong mạch máu của chúng ta vậy. Đó là sự biểu hiện linh động, sống
thực của cái tâm nguyên thủy đă có sẵn khi chúng ta sinh ra … cái
tâm không h́nh tướng, không trí óc, không trụ vào đâu cả, cũng không
bám theo sắc trần hay tư tưởng, nhưng lúc nào cũng chuyển vận thật
năng động. Nói cho cùng, giác ngộ không phải là điểm chung cuộc, mà
là điểm khởi đầu nhiều hơn.
Tôi đă nói rất dài ḍng về cuộc đời
trong một thiền viện, một vấn đề có vẻ như hoàn toàn không dính dáng
ǵ đến cuộc đời riêng tư của bạn đọc. Tuy nhiên, tất cả mọi người,
không cần biết họ sống cuộc đời như thế nào, đều xem bản thân ḿnh
là quư hơn hết thẩy. Tất cả mọi người đều muốn được hạnh phúc. Và
giác ngộ là điểm khởi đầu của nguồn hạnh phúc. Chúng ta có thể dùng
chữ “niềm tin nơi con người thực “ thay cho chữ “giác ngộ”. Niềm tin
nơi con người thực sự của ḿnh là một điều cần yếu để đưa đến hạnh
phúc.
Năng lực của niềm tin nơi chính ḿnh
không đạt được nhờ sự tu luyện. Năng lực rộng lớn ấy vượt trên sắc
thân của chúng ta, chính nó đă đem sự sống vào con người chúng ta.
Mục đích của sự tu Thiền là đánh thức năng lực sẵn có ấy mà chúng ta
đă quên mất đi, chứ không phải để lấy vào một năng lực mới nào. Khi
bạn đă t́m kiếm và t́m kiếm đến tận cùng, bạn sẽ nhận ra cái mà bạn
đă sẵn có từ lúc ban đầu -- ngay cả từ trước khi bạn bắt đầu t́m
kiếm -- là tràn đầy nhiệm mầu như thế nào. Sau khi bạn đă gơ cửa
không ngừng và liên tục, bạn mới nhận ra là thật ra cửa đă mở rộng
ngay cả từ trước khi bạn bắt đầu đập tay vào. Tu chính là để đem
điều đó lại cho chúng ta.
Không chỉ ở những nơi chốn được đặc
biệt lập ra cho sự tu tập, mà bất cứ lúc nào và ở đâu, một con người
nỗ lực trong sự trang nghiêm, không lo lắng ǵ đến kết quả và không
lùi bước trước những sự thất vọng, là một người chân tu, một người
thực sự đi theo con đường Đạo. Tôi tin tưởng rằng chỉ một điều đó
cũng là một h́nh thức đem lại sự an vui lợi lạc cho con người.
Phần ba: THIỀN SƯ
Điều ǵ đây?
Kể cho quư bạn nghe những kinh nghiệm
trong những ngày đầu tu tập rồi, bây giờ tôi xin chia xẻ vài kinh
nghiệm mới đây hơn, khi vai tṛ đă đảo ngược và tôi đă trở thành một
vị thầy. Chia xẻ những câu chuyện này, điều quan trọng đối với tôi
không phải là cho đạo Phật được hưng thịnh hay Thiền tông được phổ
biến toàn thế giới này, mà nhiều hơn là cho mỗi người trong chúng ta
có thể sống cuộc đời này một cách toàn vẹn, trong một ư nghĩa chân
thật nhất, cho đến ngày nhắm mắt ĺa đời, trong sự măn nguyện và an
b́nh nơi tâm. Chính trong niềm hi vọng này mà tôi đă đi thuyết
giảng.
Một thanh niên trẻ có họ với tôi, c̣n
trong lứa tuổi đôi mươi, một hôm đă đến thăm tôi với một điều thắc
mắc. Làm việc trong một hăng mậu dịch, anh thường có cơ hội tiếp đón
khách hàng từ các nước khác, và qua những câu chuyện trao đổi thân
mật, những người khách này thường hỏi về tôn giáo của anh. Anh bảo
khi trả lời họ là anh không có tôn giáo ǵ cả, những vị khách ấy có
vẻ phản ứng một cách ngờ vực.
“Có vẻ như những người ngoại quốc ấy
xem tôn giáo là rất quan trọng,” anh nhận xét, “trong khi những
người Nhật chúng ta lại chẳng biết ǵ cả. Thật sự là những người trẻ
tuổi như chúng con đây chỉ tiếp xúc với tôn giáo qua những tang lễ,
ngoài ra con không cảm thấy nó cần thiết ǵ cả. Thầy nghĩ sao, với
cảm nghĩ như vậy đó, tôn giáo có c̣n là quan trọng không?”
Điều anh ta hỏi cơ bản là như thế này:
tôn giáo là về cái ǵ đây?
Trong tiếng Nhật, chữ tôn giáo gồm có
hai nghĩa “chính” (hay là “gốc”) và “dạy dỗ”. V́ vậy, tôi nói với
anh ta, “tôn giáo là ở ngay gốc của cái mà chúng ta gọi là đời sống.
Ta có thể nói rằng có vô số những điều dạy chúng ta trong đời và tôn
giáo là cái chính thống và cơ bản nhất trong những điều dạy này.”
Khi anh chàng trẻ tuổi này nghe giải
thích như vậy, anh nói,” Như vậy có nghĩa là tôn giáo là một cách
căn bản nhất để nghĩ về cuộc đời, phải không? Nói cách khác, ḿnh có
thể diễn dịch nó như là một “nhân sinh quan” được không?”
Tôi nói với anh rằng có thể nói như
vậy, nhưng tôi cũng hỏi anh về nhân sinh quan của anh như thế nào.
“À, con nghĩ rằng mục đích cuộc đời con
người là xây dựng một cái ǵ đó bằng nỗ lực của chính ḿnh,” anh trả
lời.
Đó cũng là một quan điểm về cuộc đời.
Trước đây, chính tôi cũng đă từng có lúc nghĩ như vậy. Trong những
ngày c̣n son trẻ, tôi đă tin tưởng rằng làm con người tức là có khả
năng lấy được hay thụ đắc được điều ǵ đó.
Có những người có thể chạy đua đến hơn
bốn mươi cây số. Người ta biết rằng nếu luyện tập thân thể th́ sẽ có
được sức mạnh thể lực; sự phát triển thể lực có thể được thực hiện
trong một hạn tuổi nào đó . Bằng sự học tập, bạn có thể học được bất
cứ cái ǵ bạn muốn. Bạn có thể tích lũy những kinh nghiệm của ḿnh.
Nếu đủ nỗ lực, bạn có thể có thêm nhiều bạn bè, kiếm được người yêu.
Bạn có thể lập gia đ́nh, tạo măi tài sản, xây nhà để ở. Trong cuộc
đời, có một thời kỳø bạn cảm thấy thế giới như ở trong tay bạn, một
thời kỳ trong đó quan điểm hay mục đích của cuộc đời là “xây dựng
một điều ǵ đó qua nỗ lực của chính ḿnh” có thể thích hợp.
Thế rồi sau đó, khi bạn già đi, bạn cần
phải có kính đeo mắt để đọc sách, tai bạn bắt đầu ù đi, răng lung
lay dần. Khi một đứa bé ở tuổi mẫu giáo mất một cái răng, nó sẽ có
một cái răng khác tốt hơn nữa mọc ra, nhưng khi một người lớn mất
răng, th́ cái răng đó sẽ mất măi măi! Tử thần sẽ đến, cướp đi những
người bạn thân thiết nhất của bạn. Những đứa con mà bạn đă hi sinh
nhường cơm xẻ áo sẽ ra đi rời tổ ấm của gia đ́nh. Rồi tuổi về hưu xế
chiều đến, công việc mà bạn đă từng bỏ bao nhiêu công sức vào đó
cũng phải bỏ đi. Bạn bắt đầu quên đi những điều bạn tưởng đă học
được. Bạn sẽ mất đi những bắp thịt rắn chắc mà bạn đă cố công xây
đắp, và chúng cũng ra đi không bao giờ trở lại. Dù cho một người có
nh́n cuộc đời như thế nào chăng nữa, họ cũng sẽ cảm thấy thật thấm
thía rằng cuộc đời con người không phải là một điều ǵ có thể thêm
vào, mà chỉ là mất đi.
“Khi thời kỳ đó đến, quan điểm về cuộc
đời ấy của anh có c̣n giúp ǵ được anh không?” Tôi hỏi người bà con
trẻ tuổi của tôi.
Anh chàng trông có vẻ hơi ngượng ngịu
khi cúi đầu xuống, thú nhận rằng có lẽ anh đă hơi tự kiêu quá, và có
lẽ cũng nên ít nhất t́m hiểu xem tôn giáo nói cái ǵ. Anh c̣n xin
tôi hướng dẫn cho anh nữa.
Tất cả mọi người chúng ta đều hay dựng
nên những quan điểm của riêng ḿnh tùy theo tuổi tác và hoàn cảnh
đến trong đời sống, từ đó có những lối sống biến đổi và phức tạp
khác nhau. Tôn giáo, tuy vậy, không phải là một nhân sinh quan có
giá trị chỉ trong một thời gian nào đó. Đó là một giáo pháp luôn
luôn dùng được trong mọi thời, luôn luôn đúng thực, không phân biệt
tuổi tác và hoàn cảnh.
Mọi hiện tượng trên thế gian này đều
thường xuyên thay đổi; tất cả đều trải qua một thời đểø trưởng dưỡng
(thành), một thời để bảo tŕ (trụ), và rồi trở về với hư không …
sinh, lăo, bệnh, và tử. Không một cố gắng nào có thể làm cho bạn
tránh được diễn biến của sự lăo hóa. Không một nỗ lực nào có thể làm
cho bạn tránh khỏi cái chết. Những ǵ tích lũy được rồi sẽ mất đi,
những ǵ có sinh rồi sẽ có diệt, những ǵ được xây dựng lên rồi cũng
sẽ bị tiêu hủy. Một quan điểm về bản chất của cuộc đời là một quan
điểm giúp chúng ta vượt qua được những đau khổ khi chúng ta phải đối
mặt với chúng.
Tôi tin tưởng tự đáy ḷng, rằng cái mà
chúng ta gọi là tôn giáo chính là điều quan trọng nhất cho con
người. Tôi không thể nhấn mạnh đủ, rằng mục tiêu tối thượng của tôn
giáo, dù chúng ta gọi đó là giác ngộ hay là tâm b́nh an, vẫn là làm
sao cho mỗi người được sống trong sự an b́nh, được sống một đời đầy
đủ và toại nguyện.
Hàng năm tôi đều đi Hokkaido để thuyết
giảng, và sau một buổi nói chuyện trong một cuộc họp UNESCO ở
Sapporo, ông chủ tịch đến t́m tôi nhận xét rằng: “Chúng tôi hân hạnh
được nghe thầy diễn thuyết một bài rất dài và hữu ích, nhưng tôi già
rồi, không thể nào nhớ hết một bài dài như thế được. Hơn nữa, tôi
cũng đă là một Phật tử rồi; mỗi buổi sáng trước khi đi làm và mỗi
buổi tối khi về nhà tôi cũng đều thắp hương bàn thờ và tụng một bài
kinh.”
“Vấn đề là, tôi bị bắt buộc phải giải
thể, từng cái một, số lớn những công ty tôi đang quản lư, và điều
này làm cho tôi bị xáo trộn rất nhiều. Thế th́, Lăo sư,” ông nói
thẳng thừng, “Tôi không muốn nghe diễn thuyết dài ḍng. Tôi muốn
thầy nói cho tôi, chỉ trong một chữ, làm sao tôi có thể an được cái
tâm đang xáo trộn của tôi.”
Những vị cao niên đôi khi thật khó
tính, phải không bạn? Tôi đă bỏ công diễn thuyết thật trọn vẹn vấn
đề đó, bây giờ ông lại muốn chỉ tóm lại trong một chữ thôi!
Tôi trả lời bằng cách hỏi ông khi thắp
hương và tụng kinh trước bàn thờ ông cầu nguyện cho ai.
“Th́, dĩ nhiên là, nhờ tổ tiên mà tôi
mới có mặt ở đây,” ông trả lời. “Nên tôi thắp nén hương để tỏ ḷng
biết ơn tổ tiên và Phật tổ.”
“Trong trường hợp đó”, tôi bảo ông,
“bắt đầu từ đêm nay, hăy thắp hai nén hương. Một nén để tỏ ḷng tri
ân tổ tiên, như ông vẫn thường làm. Một nén kia để thắp cho cái xác
của ông.”
Chúng ta thường xem sự sống của ḿnh là
một điều đương nhiên, và như thếù hay bị lầm lạc khi hoàn cảnh có
những vấn đề, và bị mê mờ không phán đoán được cho đúng thực. Nhưng
mặt khác, khi nh́n vào cái chết của một người khác, chúng ta lại rất
bén nhậy với sự mong manh của mọi sự trên đời này.
Nếu cùng với những suy tưởng đó mà
chúng ta nh́n vào xác thân của ḿnh, có lẽ chúng ta sẽ không c̣n
muốn để cho ḿnh bị lôi cuốn trong những dây mơ rễ má của các vấn
đề. Chúng ta có thể tự giải thoát ḿnh và quyết định hành động đúng
vào căn bản của những vấn đề, vào gốc rễ của chúng. Đó là điều tôi
ám chỉ khi tôi bảo vị cao niên ấy ngày đêm thắp một nén hương cho
xác của chính ḿnh.
Sau khi chấm dứt một bài giảng, tôi
thường yêu cầu mọi người hăy quên đi tất cả những ǵ tôi đă nói. Đó
là bởi v́ chúng ta hay có khuynh hướng thu thập những bài giảng chỉ
như những tài liệu, mang chúng về nhà, rồi đem những trích dẫn từ đó
ra làm nguyên liệu để chỉ trích những môi trường chung quanh chúng
ta. Điều trở thành cái nhân của sự tranh căi không phải là trí tuệ;
nó không khác ǵ mầm mống gieo trồng cho sự than phiền và bất măn.
Có nhiều trường hợp, chúng ta càng cảm thấy ḿnh biết nhiều một vấn
đề, càng cảm thấy bất măn và bực bội hơn.
Những kiến thức thu lượm được trong vấn
đề tôn giáo là không có giá trị ǵ cả. Tôn giáo, nói cho tới cùng,
là một điều phải tự kiểm chứng lấy qua sự thực hành.
Có nhiều người sẵn sàng muốn theo học
những kỹ thuật giúp cho họ sống trong cuộc đời. Nhưng người muốn t́m
cách xác định gốc rễ đời sống của họ và vượt lên khỏi những kỹ thuật
để đi vào cái căn bản -- tới tôn giáo đích thực -- là cực kỳ hiếm
hoi. Hiện trạng đó tôi thấy thật đáng tiếc vô cùng. V́ lẽ đó tôi
không thể nào không thúc dục bạn đừng đánh giá cuộc sống hàng ngày
của ḿnh trên căn bản những điều bạn tưởng là đă biết, trên căn bản
những tài liệu thu thập được. Tôi muốn bạn thức tỉnh thấy Phật tính
trong vạn pháp và đi t́m một lối sống chân chính. Nhưng đừng có rơi
vào sai lầm: bạn có thể trở thành một hạng người bất măn hay thành
một vị Phật giác ngộ, điều đó hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn, hoàn toàn
tuỳ thuộc vào những hành động thực tế của chính bạn.
Thượng đế ở ngay đây
Mùa hè, tôi thường đi qua Anh Quốc diễn
thuyết trong khóa tu học mùa hè do Hội Phật Giáo ở đó bảo trợ. Sau
những buổi nói chuyện, những bà mẹ trẻ ôm con trong tay đôi khi đến
t́m tôi với nhiều câu hỏi. Gần như lúc nào họ cũng hỏi tôi làm sao
dậy con cái của họ biết về Phật pháp. (Thật bất hạnh là, trong bao
nhiêu năm làm tư vấn cho vô số người ở tại Nhật Bản này, chưa bao
giờ có ai hỏi tôi câu này cả.)
Những phụ nữ này, họ là những thành
viên của một xă hội được gán cho tính cách cá nhân chủ nghĩa, đă
biết từ trong xương tủy rằng tự do chân chính có nghĩa là không
nương tựa vào người khác. Người ta thường hay xem tự do như là có
thể làm mọi việc theo ư ḿnh, nhưng những người xuất thân từ những
quốc gia có một truyền thống cấp tiến thường có ư thức thật bén nhậy
rằng cái cốt yếu của tự do là không cần đến sự giúp đỡ của người
khác. V́ hiểu tự do trong nghĩa đó, họ lấy một tuần lễ nghỉ phép để
dấn thân vào một lối sống mới lạ, tự kỷ luật ḿnh qua những buổi tọa
thiền đau đớn thân xác và lắng nghe thuyết pháp trong sự chân thành
nhất mực. Đồng thời, họ cũng cầu nguyện rằng Phật pháp nhiệm mầu mà
họ đă cảm nhận sâu xa đó có thể truyền lại cho con cái họ, giúp
chúng có được một đời sống đáng quư.
Một người mẹ trẻ đă có lần đến với tôi
với câu chuyện về bé gái năm tuổi con bà. Một buổi sáng khi bà và
chồng đang uống trà nơi hiên nhà, con gái bà chơi ngoài vườn với một
người bạn. H́nh như là bạn em quay qua em và nói rằng, “Ông tao mới
mất . Bây giờ ông đang lên ở với Thượng đế trên Thiên đàng.”
Trong khi cha mẹ em nghe mà không chú ư
ǵ lắm, họ bỗng nghe thấy đứa con gái năm tuổi của họ bất đồng ư với
bạn. “Không, không,” Em nói một cách tin tưởng. “Nếu ông mày mất và
đi lên Thượng đế, th́ ông không ở Thiên đàng đâu. Thượng đế là ở
ngay đây này, ở trong mày và tao, ở trong cái hoa này nữa đó. V́ thế
nên, ông mày chẳng đi đâu hết.” Đứa bé gái khăng khăng nói, “Mẹ tao
tọa thiền nên biết hết mấy cái đó mà.”
Tôi nói với người mẹ trẻ rằng đây thật
là một câu chuyện tuyệt vời.
Khi cha mẹ khuyên răn con không được
phung phí, đứa trẻ có thể phản ứng bằng cách gọi cha mẹ là keo kiệt
và nêu lên rằng bất cứ cái ǵ rồi cũng có thể mua thêm được . Ít có
cha mẹ nào có thể đặt ra luật lệ và kiên tŕ sửa sai con ḿnh hoài
được. Đến khi lớn, tất nhiên là, sẽ có những lúc đứa trẻ buông ḿnh
trong t́nh trạng chán nản tuyệt vọng. Những đứa trẻ được cha mẹ
nuông chiều thường hay mạnh miệng nói trả treo là, “Đó là việc của
con! Cha mẹ không phải là con; cha mẹ không hiểu con ǵ cả. Để cho
con yên có được không! Con có muốn sinh ra đời đâu.” Người cha hay
mẹ bị con ḿnh mắng lại như thế không c̣n có thể nói ǵ được nữa.
So sánh t́nh trạng của bậc phụ huynh đó
với t́nh trạng của bà,” tôi nói với người mẹ Anh Quốc. “Con bà biết
được Thượng đế ở ngay nơi nó và nơi tất cả mọi vật. Nhờ nó biết như
vậy, khi con bà có phí phạm cái ǵ, bà có thể hỏi nó là làm như thế
nó không thấy là đă hơi xử tệ với Thượng đế trong đó hay sao. Nhắc
nhở như vậy, cô bé sẽ tự thấy được sự sai lầm trong hành động của
ḿnh.”
Khi cô bé cảm thấy thất vọng, bà có thể
hỏi em là nếu em không đối xử tử tế với ḿnh liệu có làm cho Phật ở
trong em buồn không, và rồi cho em về pḥng suy nghĩ điều này một
ḿnh. Chỉ cần nhắc nhở điều em đă biết rồi, như vậy chắc đứa trẻ sẽ
có thể tự ḿnh đứng dậy được chứ? Nếu giáo dục em trong đường lối
như vậy sẽ rất dễ dàng.”
Cặp vợ chồng này chỉ có cơ hội hỏi
những câu hỏi và được sự hướng dẫn của tôi một lần một năm, trong
thời gian một tuần, nhưng họ thường thảo luận với nhau về những kinh
nghiệm của đôi bên, hàng ngày một, 365 ngày trong năm. Bởi v́ đó là
một phần của câu chuyện nói hàng ngày của họ, em bé năm tuổi con họ
có thể nói một cách vững chắc rằng Thượng đế là ở trong tôi, và
trong bạn tôi nữa; Thượng đế cũng ở trong cả hoa lá, đá sỏi và tất
cả mọi thứ.
Những lời nói này thấm vào trong tôi
thật tự nhiên như nước thấm qua đất cát vậy.
Cái chết có bí hiểm không?
Tuy tôn giáo là về những điều không
liên hệ ǵ đến sự chết, nhưng ở đây, để rộng đường thảo luận, chúng
ta hăy lui mười bước và coi như là không phải vậy, thật ra là sự
chết có một ảnh hưởng chủ yếu trên tôn giáo. Có cách nào để chúng ta
nghĩ đến sự sống mà không nghĩ đến sự chết không? Xă hội của chúng
ta có khuynh hướng rất thiên về tuổi trẻ, và khi chúng ta già đi,
chúng ta thường hay nh́n cuộc đời như đang trên đà xuống dốc từ một
ngọn đồi cao, như một sự phế thải cô đơn của một đời người.
Nhưng vấn đề không chỉ là như vậy. Có
thể nào chúng ta thực sự sống trọn vẹn được mà không biết nh́n kỹ
vào sự chết không? Tôi không tin điều đó có thể được. Nếu không nh́n
thẳng vào sự chết, như là mặt trái của sự sống, chúng ta không thể
nào sống trọn vẹn và đầy đủ được. Tôi hoàn toàn tin chắc như vậy.
Nh́n sự chết như là cách biệt và xa vời
với sự sống, chúng ta không hay ưa thích cái chết. Khi nghĩ rằng họ
sẽ mất hết tất cả những ǵ họ đă tích lũy được, những người đă nỗ
lực thật nhiều trong cuộc đời sẽ đặc biệt thù ghét cái chết và họ
c̣n không muốn nhắc đến vấn đề đó nữa. Ngoài ra, nếu có ai nghĩ về
sự chết th́ cũng đều có một ư nghĩ như nhau là cái chết là một điều
ï không thể hiểu được. Lư luận của họ là không thể biết đến cái chết
được v́ người ta không thể kinh nghiệm nó trong khi c̣n sống, và
không có ai chết rồi mà lại trở về để có thể kể cho chúng ta nghe
được. Tuy rằng có những người đă trở về sau khi trải qua cái chết
giả, nhưng không một ai chết thật đă trở về sau đó vài năm để mà kể
cho chúng ta nghe về thế giới bên kia. Một vài người nói rằng, nghĩ
về sự chết là chỉ có phí thời giờ.
Chấp trước trong thái độ đó, chúng ta
sẵn sàng đơn giản hóa ư nghĩa của câu nói Khổng Tử là: “Chúng ta
chưa biết ǵ về sự sống, làm sao chúng ta biết về sự chết được?”
Chúng ta cho rằng có thể tập trung sống một cuộc sống trọn vẹn mà
không cần phải nh́n kỹ đến cái chết. Do đó chúng ta thường hạ thấp
tầm quan trọng của sự chết để mà không cần nghĩ đến nó.
Nhưng thực sự chết có phải là điều ǵ
chúng ta không thể biết đến không?
Có một điều chúng ta chắc chắn sẽ gập
phải trong đời sống hàng ngày của chúng ta, đó chính là sự chết.
Người ta chết khắp nơi nơi. Hơn thế nữa, c̣n có những cái chết của
các gia súc như chó, mèo, chim chóc nuôi trong nhà. C̣n cây cối bạn
mua ở vườn cây đem về trong chậu nữa, chúng cũng khô héo và chết đó
thôi? C̣n những đóa hoa tươi nghệ thuật được mua ở tiệm về, chúng
cũng tàn tạ dần trong những kiểu trưng bầy của chúng đó thôi? Rồi
cái tách đặc biệt mà bạn dùng đến hàng ngày và giữ ǵn cẩn thận đó,
một ngày nào nó vuột khỏi tay bạn và rơi xuống đất vỡ tan tành. Cái
“chết” luôn luôn ở đó, với ư nghĩa của sự biệt ly.
Nếu sự chết chiếm một phần đáng kể như
vậy trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, làm sao chúng ta không
biết đến nó được? Tại sao chúng ta cứ nhất quyết cho rằng không thể
nào biết đến sự chết được khi cái chết vẫn hiện hữu thường nhật nơi
cuộc đời chúng ta? Làm sao chúng ta có thể bác bỏ vấn đề này một
cách lơ là như vậy được?
Cái nguyên nhân gốc của sự bác bỏ sự
chết của chúng ta là, theo từ ngữ Phật pháp, cái quan điểm đối đăi
của năng và sở -- của cái ta và cái ngoài ta -- ”Đó là người ta, c̣n
đây là tôi.” Chúng ta thường hay lănh đạm với những ǵ thấy có vẻ
như không trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của ḿnh trong hiện tại …
“Điều ấy th́ liên quan ǵ đến tôi?”
Tuy rằng sự chết tràn lan ở chung quanh
chúng ta, chúng ta thường xem đó như là cái chết của một cái ǵ hay
một người nào khác chúng ta. Nhưng làm sao để biện minh cho điều đó
được?
Sự phân biệt rơ ràng giữa chúng ta và
người khác có nói lên được thực chất trong t́nh trạng của chúng ta
không? Giữa những người chúng ta, có phải là không có ǵ trung gian
nối kết chúng ta với nhau không?
Tâm như thủy
Bất cứ khi nào đi diễn thuyết ở ngoại
quốc, tôi cũng đều đi với một thông dịch viên. Có một dịp, trước một
buổi nói chuyện ở Anh Quốc, người thông dịch này nói với tôi rằng:
“Lăo sư, thầy thường hay dùng chữ chúng ta ngay cả khi thầy nói về
chính ḿnh. Nhưng trong một xă hội cá nhân chủ nghĩa như ở nước Anh
này, nếu con dịch nguyên văn chữ chúng ta ấy, thầy sẽ mất đi một
chút hấp lực đối với họ. V́ vậy, ngay cả khi thầy nói chúng ta, mà
con biết chắc rằng thầy có ư nói là tôi, con sẽ muốn dùng chữ tôi để
thông dịch. Mong thầy thông cảm cho phép con được làm như vậy.”
Tôi lấy làm lạ khi nghe như vậy. Nghĩ
lại, tôi nhận ra rằng người Nhật, ở trong một nhóm, khi nói chuyện
có dùng từ chúng ta thật mơ hồ, và như thế áp đặt mọi người vào với
nhau mà không hề có sự đồng ư trước của những cá nhân liên hệ. Và
khi làm như vậy là đă trốn tránh được trách nhiệm cho cá nhân. Tuy
nhiên, khi đào sâu hơn vào vấn đề, tôi không thấy được đó là một
điều sai lầm khi dùng chữ chúng tôi.
Bạn có thể giả dụ là có nhiều thực thể
riêng biệt gọi là tôi đă đến với nhau họp thành một nhóm gọi là
chúng ta. Nhưng đây không hẳn là thực chất của vấn đề.
Hăy suy ngẫm như thế này: giả sử như có
một người đang ở trong tâm trạng rất chân thực và an tịnh, không có
một lo nghĩ nào, tinh thần thật là sáng suốt và lành mạnh. (khi tâm
đang quằn quại và bế tắc th́ đó lại là chuyện khác). Giả sử như
người ấy là một bà nội trợ đang ở trong bếp một buổi tối, và bà nghe
tiếng chân quen thuộc của ông chồng đang về đến nhà. Vội vă lau tay
vào cái yếm mặc ngoài, bà đi ra cửa đón chồng. Trong giây phút đó
người này -- với bộ mặt của người vợ, tiếng nói của người vợ, thân
h́nh và cử chỉ của người vợ -- là một người vợ đang đi ra đón chồng.
Thế rồi, đúng lúc bà đang đưa tay ra
lấy áo khoác của chồng, một giọng nói vang ra từ đàng sau, “Mẹ!” Bà
quay lại trả lời, “Ǵ đó con?” Ngay lúc đó người này không c̣n mang
bộ mặt của người vợ nữa, mà là bộ mặt của người mẹ. Bà quay lại với
bộ mặt của người mẹ, tiếng nói của người mẹ, cử chỉ của người mẹ.
Thế rồi, một người bạn láng giềng đến gọi cửa, bà tiếp đón khách
không phải với bộ mặt của người vợ hay người mẹ, mà với bộ mặt của
một người bạn hàng xóm.
Có thể khi bạn đọc những điều này, bạn
sẽ tưởng tượng h́nh dáng bề ngoài tôi như một vị thầy tăng. Nhưng
sáng mai tôi sẽ đi viếng mộ của cha mẹ tôi. Đứng trước mộ, tôi chỉ
là một đứa trẻ không hơn không kém. Đối trước với cha mẹ ḿnh là một
đứa trẻ, đối trước với con ḿnh là một bậc phụ huynh, đối trước
chồng ḿnh là một người vợ, đối trước vợ ḿnh là một người chồng. Ơû
nơi làm việc, bộ mặt và bề ngoài người ta khoác lên là tùy thuộc vào
địa vị có trong sở. Đó là thực chấtø bề ngoài của chúng ta.
Không có thực thể nào gọi là “Tôi” di
chuyển từ điểm này sang điểm khác, lúc này qua lúc khác. Mà đúng hơn
là, qua những lúc gập gỡ chuyên biệt nào đó với những người chuyên
biệt nào đó, trong mỗi lần gập gỡ, trong mỗi sự giao tiếp, cái gọi
là “Tôi” sẽ xuất hiện. Như vậy ta thấy dường như một cái ǵ ở ngoài
con người chúng ta, thật ra, lại bổ túc cho chúng ta, làm cho mỗi
giây phút trong cuộc đời thêm phần rực rỡ.
Nếu bạn hiểu được điều này, bạn sẽ hiểu
tại sao Thiền tông dùng sự tu tập để đạt được giác ngộ bằng cách
quán chiếu thật thâm sâu vào tâm của ḿnh. Nếu cái tâm đó là của
riêng bạn, dù bạn có không ngừng soi chiếu vào nó thật miên mật, bạn
cũng không thể ngộ được cái chân lư chung nhất của vạn pháp. Nhưng
tâm bạn không phải là một vật sở hữu cá nhân, nó không phải chỉ là
của riêng bạn thôi.
Tâm bạn, sự sống trong bạn, được sanh
ra trong sự liên đới với môi trường. Tâm bạn là đời sống của vũ trụ
rộng lớn vĩ đại này. Chính tâm của chúng ta là cái nôi từ đó khởi
đầu mọi sự, và như tôi là một biểu hiện của tánh Phật, bạn cũng là
một biểu hiện của tánh Phật. V́ thế, Thiền tông dậy rằng chúng ta
không nên cố gắng để biết “hết mọi sự”, mà chúng ta phải t́m hiểu
những ǵ gần nhất với ḿnh, đó là thân và tâm của ḿnh. V́ thế mà
chỉ cần nh́n sâu vào cái tâm bé nhỏ của bạn, bạn cũng có thể mẫn cảm
với tâm của người khác … không những thế c̣n có thể ngộ được chân lư
của toàn thể vũ trụ vô biên này nữa!
Chúng ta không hiện hữu như những thỏi
nước đá, di chuyển một cách cứng nhắc từ nơi này sang nơi khác. Mà
chúng ta như gịng nước chẩy tự do, lúc vào một cái hộp bốn góc, lúc
ở trong một cái hộp ba góc, mỗi lúc mỗi sinh ra lại và đổi mới. Tôi
tin rằng, đó là một sự thực trong sự hiện hữu của chúng ta, và sự
tồn tại như thế của con người, sự tồn tại như thế của vạn pháp trong
vũ trụ này, là điều mà Đức Phật tuyên dương.
Xét như vậy, chúng ta không phải là
những cá thể những cái “Tôi” tập hợp lại để làm thành “chúng ta”,
nhưng trong sự hiện diện của “chúng ta”, có một thứ gọi là “Tôi” đă
khởi lên. Tôi tin rằng, đây cũng là một sự thực.
Khi chúng ta ḥa đồng với thể nguyên
thủy của ḿnh, chúng ta sẽ có thể thông cảm được sự chết, sự đau
đớn, buồn khổ, hạnh phúc của người khác như của chính ḿnh.
Cái chết của ông tôi
Năm trước khi tôi vào trường tiểu học,
trong một ngày hè nóng đỏ lửa, ông tôi dẫn tôi đi xem đô vật trong
thành phố. ông tôi bao giờ cũng rất cưng chiều tôi. Chúng tôi rời
nhà đi vào buổi sáng, và có lẽ ông định về nhà từ lúc trưa, nhưng v́
tôi ṿi vĩnh nên rốt cuộc chúng tôi đă ở ngoài đường suốt ngày và
đến tối mới trở về nhà. Hậu quả là sau khi ở ngoài nắng quá lâu, ông
tôi đă bị trúng nắng. Dù mới là một đứa bé sáu tuổi, tôi cũng nhận
ra là sự ṿi vĩnh của tôi đă là nguyên nhân cho t́nh trạng bất
thường của ông.
Cha tôi, vốn là một bác sĩ, đă không
đưa ông đến bệnh viện, nhưng để ông ở nhà chăm sóc và nuôi dưỡng
ông. Lúc bấy giờ mới bắt đầu triều đại Chiêu Ḥa (Showa), trong thập
niên 1930, những cách chữa trị c̣n rất là thô sơ. Một tảng nước đá
được đặt trong một đĩa thiếc mỏng, và khi nước đá tan ra, th́ nước
lạnh đó được dùng để làm hạ nhiệt nơi lông mày của ông.
Cả nhà tôi lúc ấy náo loạn lên, cử
người đi gọi các bà con họ hàng. Trong những ngày ấy điều kiện không
dễ dàng như bây giờ, chỉ việc nhẩy lên xe lái đến nơi sau khi nhận
một cú điện thoại; mà sau khi nhận được tin báo, bà con phải đi bộ
vượt núi trong những đôi dép rơm để đến.
Tôi hoàn toàn bị bỏ rơi trong khi mọi
người tề tựu lại và, từng giây từng phút một, hết vui mừng lại đến
than khóc, tùy theo t́nh trạng biến đổi của ông. Thấy các người
trong họ như vậy và cùng lúc cảm thấy cái không khí xáo trộn trong
gia đ́nh, tôi cảm thấy sợ hăi. Tôi chạy trốn lên gác và nằm bẹp nơi
cầu thang ngắm nh́n quang cảnh ở dưới. Trong khi nh́n xuống cảnh
tượng hoang mang yên lặng ở dưới, tôi nhận ra rằng ông tôi sắp chết.
Tôi nhớ ḿnh đă tự hỏi không biết như vậy có nghĩa là tôi có c̣n gập
được ông nữa hay không.
Bởi v́ đối với một đứa trẻ như tôi, cái
ư tưởng ông đột nhiên có thể biến mất đi không phải là một cái ǵ có
thể dễ dàng thấu hiểu được. ông tôi vẫn thường luôn ở đó, lúc nào
cũng tỏ thật nhiều t́nh thương mến. Trong khi tôi c̣n đang ngẫm nghĩ
về vấn đề đó, mẹ tôi trèo lên gác t́m tôi và giải thích cho tôi biết
rằng ông sắp chết rồi.
“Khi một người sắp chết”, mẹ nói,
“người ấy khát nước lắm, nên chúng ta phải cho họ uống nước. Bởi v́
ông đă cưng chiều con hơn hết thẩy mấy đứa cháu khác, con phải xuống
cho ông uống nước.” Thế là tôi bị lôi xuống dưới nhà.
Tôi được đưa cho một miếng bông thấm
nước để lau môi cho ông. Tôi thấy rơ ràng rằng trong khi trán ông ẩm
ướt, th́ miệng ông ngậm chặt lại, đôi môi khô và nứt nẻ, và tôi cảm
thấy như ông đang rất khát nước. Khi tôi bắt đầu lau nhè nhẹ, những
giọt nước chẩy vào những đường trên môi ông và làm cho ẩm ướt, nhưng
không có một giọt nào lọt được vào miệng của ông. Tưởng rằng tôi
không dùng đủ nước, tôi vắt miếng bông g̣n ướt lên miệng của ông.
Nước chẩy ṛng ṛng nơi mặt ông, nhưng vẫn không có một giọt nào lọt
vào miệng ông được.
Ông tôi, vốn vẫn hay có thú uống trà,
và bây giờ đang khát nước như vậy, lại không thể mở miệng ra được để
nuốt lấy một ngụm nước. Cái cảm giác có một sự thay đổi lớn đang
diễn ra đă thấm thấu vào trong tâm của đứa trẻ này đến tận xương
tủy. Không bao lâu sau đó, ông đă thở hơi cuối cùng, và chúng tôi
tắm rửa xác ông để sửa soạn hỏa thiêu.
Người ta thường nghĩ rằng thật là tội
cho người chết, khi đang trên đường đến cơi Tịnh Độ của Đức Phật Di
Đà, lại phải đem theo bụi trần của thế gian này, cho nên với cảm
nghĩ đó, người chết thường được tắm rửa lần cuối cùng. Bồn tắm được
đổ vào đầy nước lạnh, sau đó thêm nước nóng vào.
Trong ngày ấy, ở nhà tôi nước nóng được
đổ vào bồn, rồi một ít rượu được thêm vào, và xác ông tôi được lau
với một khăn bông ướt. Tôi được phép lau ngực của ông, nhưng cái
khăn vuột ra khỏi bàn tay bé nhỏ của tôi, trượt trên da ḿnh của
ông. Tôi vẫn c̣n nhớ cái cảm giác khi sờ vào da của ông. Trước đây,
khi ông để tôi leo lên vai ngồi, tôi có thể thấy được làn da nhăn
nheo trên gáy ông. Dưới bàn tay tôi, lúc nắm chặt lấy trán ông để
khỏi ngă, tôi cũng cảm thấy được làn da nhăn nheo . Lúc đó người ông
dẻo dai và ấm áp, trong khi bây giờ đôi tay tôi bất ngờ chạm vào
người ông chỉ thấy cứng đơ. Cái lạnh toát ra từ xác ông, một cái
lạnh hoàn toàn khác với cái lạnh của nước đá, làm cho tôi phát rùng
ḿnh. Đứa trẻ sáu tuổi này đă nhận được một bài học bén nhậy về sự
chết.
Gia đ́nh tôi mang tôi đi dọc theo những
con đường nhỏ hẹp nằm giữa hai bên đồng ruộng khi đưa quan tài đi.
Ḷ thiêu không phải như ngày nay, với những cửa dầy nặng nề như dưới
hầm của nhà băng. Trông nó không hơn ǵ một cái lỗ, trong đó người
nhà cho quan tài vào và qua đó c̣n có thể thấy được hai bên. Cái lỗ
đó được chất đầy rơm, và củi được đặt chung quanh quan tài. Rồi tất
cả mọi người trong gia đ́nh cùng nhóm cây đuốc thông lên và cho lửa
cháy. Khi rơm cùng củi và quan tài bắt đầu nứt ra và nổ lách tách
trong ngọn lửa, chúng tôi đi về nhà đợi đến ngày hôm sau sẽ đến thu
lượm tro cốt của ông. Dù với con mắt của một đứa trẻ sáu tuổi, khi
tôi ngoái cổ nh́n lại cột khói mờ đục bốc lên từ ống khói của ngọn
lửa thiêu mà tôi đă tiếp tay nhóm lên đó, tôi cũng cảm nhận cái chết
như một cái ǵ thật riêng tư đối với ḿnh. Cái chết đó không phải
chỉ là của “một người nào khác.”
Bây giờ, tôi đang thấy ông tôi -- người
tôi kính trọng và muốn noi theo -- đang bị thiêu đốt. Cái tôi thấy
đó không phải là cái chết của một người nào khác, mà chính là tôi
của ngày tương lai. Tôi đă không nói quá về việc này, khi nhiều năm
sau nh́n lại và kể câu chuyện bi thảm này . Mà thật sự là tôi lúc
ấy, một đứa trẻ sáu tuổi, đă thấy thân xác ḿnh tương lai bị thiêu
đốt trong ngọn lửa đó.
Pháp Vô Lậu
Kể từ kinh nghiệm đó về cái chết của
ông tôi, cũng đă có mấy lần tôi có ư tưởng muốn chết, muốn tự trong
đáy ḷng. Có lẽ đôi lúc bạn cũng có cảm nghĩ như vậy. Thực ra, có
lần tôi đă từng thử uống thuốc quá liều, nhưng tôi tin rằng một cách
vô thức, tôi đă giữ liều lượng thuốc đó trong ṿng an toàn. Tôi
không thể chết được. Có lẽ lư do chính khiến tự thâm tâm tôi ngần
ngại không muốn chết là v́ kinh nghiệm tôi đă trải qua khi chứng
kiến cái chết của ông tôi. Sự cảm nhận về cái chết của tôi, qua kinh
nghiệm đó, đă sâu xa tới mức khó thể nào vượt qua được.
Cái “chết” mà nhiều người biết đến, tuy
nhiên, không phải là cái chết tan ră thực sự của thể xác trong tương
lai. Thường th́ cái chết duy nhất được biết đến là cái chết như
trong một phim lịch sử hay một phim kinh dị nào đó mà người ta
thưởng thức trong khi nằm dài trên sàn nhà hay trên ghế sofa, ăn kẹo
hay những thức ăn lặt vặt khác.
Tôi xin kể lại một câu chuyện khác, về
một người thầy thời tiểu học của tôi, một con người vĩ đại. Suốt từ
lớp hai cho đến khi ra trường, các bạn học và tôi đă may mắn được
thầy chỉ đạo lớp, và thầy đă có một ảnh hưởng tiên quyết lên trên
mỗi người chúng tôi.
Vài năm trước, để kỷ niệm nửa thế kỷ đă
qua từ lúc ra trường, chúng tôi có một buổi hội ngộ. Trong năm mươi
học tṛ thuở trước, hơn mười người đă qua đời, và ba mươi ba người
chúng tôi c̣n lại đă đến thật đông đủ. Chính tôi cũng dẹp bỏ hết mọi
việc để đến, v́ không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Chúng tôi có một buổi
tiệc và nghỉ đêm ở một nơi du lịch có suối nước nóng, và tuy rằng có
uống rượu saké, nhưng không có ai đề nghị hát karaoke cả. Ngay cả
lúc chúng tôi tụ tập quanh người thầy cũ hồi xưa, uống rượu vui
chơi, buổi họp mặt này vẫn có vẻ nghiêm túc. Có nhiều thành viên
trong nhóm tham vấn với thầy, và cũng có vài người hỏi tôi về đủ thứ
vấn đề ảnh hưởng đến đời sống của họ. Buổi họp mặt tái ngộ này hoàn
toàn giống như một khóa tu học nhờ ảnh hưởng sâu đậm của thầy đă để
lại trên chúng tôi trước nay.
Thầy là một nhà mô phạm vĩ đại, và từ
khi về hưu, thầy cũng vẫn tiếp tục sống một đời gương mẫu trong cộng
đồng. Nếp sống cá nhân của thầy cũng không có điều ǵ đáng chê
trách. Mặc dù đă ngoại tám mươi tuổi, trông thầy vẫn khỏe mạnh hơn
bất cứ học tṛ cũ nào của thầy!
Khi đến lúc tan tiệc, tất cả những
người đă quay quần chung quanh thầy để nghe những lời vàng ngọc đều
có vẻ không muốn làm phiền thầy hơn nữa, nên rốt cuộc là thầy và tôi
đêm ấy được xếp chung một pḥng. Chúng tôi để gối bên cạnh nhau, nằm
xuống, tắt đèn rồi, bỗng thầy gọi tôi một cách lịch sự,
“Morinaga-san”, thêm tiếng … san vào tên đứa học tṛ cũ của thầy
thời xa xưa trước đây.
“Xin lỗi, tôi thấy tôi điên quá”, thầy
nói tiếp, “nhưng dạo sau này tôi đâm ra sợ chết quá, đến nỗi tôi hầu
như là cảm thấy rằng giá không được sanh ra lại hơn!”
Những lời của thầy đập vào tai tôi đă
đem lại một ấn tượng không nhỏ. Tôi nhớ lại về trước, suốt tám mươi
năm ṛng ră thầy đă chuyên cần làm việc như thế nào, và sự thú nhận
của thầy làm tôi cảm thấy thật mủi ḷng.
Những con người chúng ta sống một đời
sống hữu hạn, hiện thân trong những h́nh tướng ở thế giới hiện tượng
này, và bắt buộc phải chịu sự chi phối của luật nhân quả, luật của
nghiệp. Điều cơ bản trong giáo lư đạo Phật là hễ có sanh, là có tử;
có nỗ lực làm th́ mới có kết quả. Tất cả những nghiên cứu khoa học
về thiên nhiên và con người cũng đều đặt trên căn bản của luật nhân
quả này. Không những vậy, trong đời sống hàng ngày, cả những người
ít khi suy nghĩ nghiêm chỉnh đến những vấn đề này cũng cố sống sao
để được những cái nhân tốt đem lại kết quả tích cực.
Tuân theo luật (nhân quả) ấy, một số
người đă không ngừng cố gắng tạo lấy nghiệp tốt và cũng được thành
công trong sự nỗ lực của họ. Nhưng khi cuối cùng họ trạm chán phải
bức tường kiên cố của sinh, lăo, bệnh, tử, không có một số lượng
tích trữ thiện nghiệp nào có thể giúp họ vượt qua được, và họ sẽ cảm
thấy thất vọng vô cùng.
Một điều tất nhiên là, người nào càng
đặc biệt hănh diện về công việc làm của họ, khi gập sự tấn công ồ ạt
của tuổi già -- khiến cho họ không c̣n làm việc được như từ trước
tới nay -- sẽ rất là hăi sợ. Người nào khoe khoang trí thông minh
sắc bén phi thường của họ sẽ lo sợ sự suy yếu dần của trí óc. Người
nào sống một đời gương mẫu của một thành viên trong xă hội sẽ đặc
biệt hăi sợ khi chứng kiến sự hao ṃn của năng lực thể chất cũng như
tinh thần của họ.
Như thế, chúng ta không thể mong sống
với một tâm an lạc trong những ngày cuối cùng của cuộc đời chỉ bằng
những việc công đức mà ta cố gắng tạo nên theo luật nhân quả này.
Trong giáo pháp của đạo Phật, có đề cập
đến sự tồn tại hữu hạn của chúng ta, bị chi phối trong luật nhân
quả, và được gọi với danh từ pháp hữu lậu hay pháp hữu vi. Pháp này
c̣n được gọi là Giới của Bẩy Vị Phật bởi v́ nó đă được chư Phật ba
đời trong thế gian này giảng nói, trong đó có dạy chúng ta nên cố
gắng gieo trồng những hạt giống lành trong đời, như vậy sẽ thọ nhận
được những phước báo. Một bài kệ nổi tiếng đă tóm lược giáo pháp này
như sau:
Tránh làm điều ác
Năng làm điều lành
Giữ tâm thanh tịnh
Đó lời Phật dạy.
Nếu ta thâm cứu và thực hiện pháp tu
này, soi chiếu vào bản tâm của ḿnh, điều đó cũng đủ làm cho tâm
thanh tịnh và đưa ta vượt qua khỏi một giáo lư chỉ dậy những pháp
hữu vi cho một đời sống giới hạn trong h́nh tướng và nghiệp quả.
Thật đáng tiếc là người ta thường diễn dịch giáo pháp này -- gieo
nhân tốt, hái quả tốt, gieo nhân xấu, hái quả xấu -- là chỉ áp dụng
để thụ đắc những hạnh phúc và thịnh vượng của thế gian. Dĩ nhiên mục
tiêu đó trong đời tự nó cũng đă là quan trọng vô cùng, nhưng những
công đức hữu vi này không thể đem lại sự an lạc tuyệt đối cho tâm
khi trải qua sinh, lăo, bệnh, tử.
Dù bạn có nỗ lực đến thế nào để tạo
dựng nên những thành quả mong muốn, một khi tên đă được gọi lên
trong sổ bộ Nam tào, tất cả những tích lũy thế gian ấy cũng sẽ bị
quét sạch. Cái ṿng luân hồi này không chỉ áp dụng cho cơi giới của
người mà c̣n cho tất cả mọi hiện tượng, cái ǵ cũng phải trải qua
một thời kỳ sinh, một thời kỳ trưởng, một thời kỳ suy, và một thời
kỳ hủy diệt để trở về với cái Không ban đầu. Trong con người th́ đó
là sinh, lăo, bệnh, tử. Tất cả mọi hiện tượng đều trống rỗng như bọt
nước, chợt hiện chợt mất, vô thường, biến đổi. Không có một thực thể
cá nhân nào trên đời này có thể giữ nguyên trạng măi măi được.
Đó là khái niệm Không của Phật pháp,
theo tiếng Phạn được gọi là shunyata và tiếng Nhật gọi là mu, và
thực trạng của tánh Không này được gọi là Pháp Vô Lậu. Tất cả mọi
chúng sinh đều là hữu lậu. Nhưng tánh Không, vốn ở nơi gốc cơ bản
của mọi chúng sinh, là vô lậu. Hữu lậu và vô lậu là bất khả phân với
nhau, điều đó đă được nói đến trong câu kinh bất hủ của Bát Nhă Tâm
Kinh: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.” (Sắc chính thực là
Không, Không chính thực là Sắc).
Tuy nhiên, thực tế rất khó mà tự ḿnh
thấy rơ ràng được rằng tất cả mọi pháp tự nó đều căn bản là không.
Có thể nói rằng, muốn tự giác ngộ được cái Không vốn có này nơi
chính ḿnh, ta phải dụng thân ḿnh bằng mọi công phu, với tất cả mồ
hôi và nước mắt.
Chết trong khi đang sống
Khi tôi trở thành một tăng sĩ và gia
nhập thiền viện, tôi đă ước ao thật mănh liệt, hơn bất cứ thứ ǵ
trên đời, là làm sao được giác ngộ. Kyoto, nơi có trụ sở thiền viện
của tôi, không phải là một mảnh đất có ruộng đồng trù phú, v́ thế
phần thực phẩm quy định cho một tháng thường được giới hạn chỉ đủ
cho mười ngày. Thực phẩm chính của mười ngày ấy bao gồm những thứ
như là bắp và bột khoai lang, và đôi khi một thứ bột trà mầu vàng úa
không thể nào uống được. Đó là những thứ đă nuôi thân mạng tôi khi
đang ở trong thiền đường, nhất tâm tọa thiền và t́m sự giác ngộ.
Nhưng kinh nghiệm giác ngộ không đến
một cách dễ dàng. Trước khi bắt đầu tu Thiền, tôi đă được dậy để
nh́n bằng mắt, nghe bằng tai, suy nghĩ bằng đầu óc, và đó là cách
duy nhất tôi dùng để t́m hiểu mọi sự. Nhưng khi vào tu, tôi lại được
chỉ cho rằng satori (giác ngộ) không phải là một loại kết luận rút
ra từ những phán xét riêng tư dựa trên những cảm giác phân biệt của
sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư). Dù vậy, tôi vẫn chưa thể nắm
được cách nào để buông bỏ những thói quen cảm nhận xưa nay và tập
kinh nghiệm theo một cách khác.
Đại Đăng Quốc Sư (Daito Kokushi), vị
sáng lập ra thiền viện Đại Đức (Daitokuji) và là một trong những vị
thiền sư kiệt xuất nhất trong lịch sử của Nhật Bản, trong những lời
thị tịch đă khuyến cáo như sau: “Hăy luôn luôn chú tâm, suốt hai
mươi bốn tiếng đồng hồ trong ngày, để học cái Không Thể Nghĩ Bàn.”
Cái Không Thể Nghĩ Bàn ấy vượt lên trên mọi lư luận hay sự hiểu biết
của trí thức, và tôi không biết một chút ǵ để t́m cách nào dồn năng
lượng vào sự tu học cái Không Thể Nghĩ Bàn này. V́ thế tôi cứ tọa
thiền một cách mù quáng. Hàng đêm khi mọi người đă ngủ say hết rồi,
tôi vẫn kiên tŕ ở đó ngồi trên chiếc gối thiền. Không may là, trong
thời gian này tôi lại được giao nhiệm vụ đánh thức mọi người buổi
sáng.
Như tôi đă nói ở trên, thực phẩm lúc đó
rất ít oi, và tôi vốn lại gầy g̣ nữa. Ban ngày tôi vất vả làm những
việc lao tác chân tay và thực hành tu tập, đến tối lại tiếp tục tọa
thiền không ngủ suốt đêm, v́ vậy tuy hết sức muốn ngồi thẳng người
lên, nhưng rồi tôi cũng lại rơi vào một trạng thái mê mệt, sẵn sàng
ngất xỉu đi và ngă lăn khỏi gối thiền.
Giờ thức dậy buổi sáng trong thiền viện
là ba giờ sáng mỗi ngày. Chắc tôi thường hay ngất đi vào khoảng 2
giờ hay 2 giờ rưỡi sáng. Lúc bừng tỉnh dậy, tôi đă thấy quá giờ đánh
thức mọi người rồi. Việc này kéo dài khoảng ba ngày, cuối cùng tôi
bị khiển trách nặng nề, bị kết tội “ngủ quên” và v́ thế đă làm xáo
trộn chương tŕnh hàng ngày của cả thiền viện. Chức vụ tôi được giao
cho gọi là Densu. Tôi được nhắc nhở thật rành rọt rằng luật lệ của
thiền viện đă quy định rằng người làm densu phải canh đồng hồ như là
“canh chính cặp mắt của ḿnh vậy”.
“Ngươi có thực sự có ư muốn tu hay
không hả?” Vị huynh trưởng của tôi quát lớn. “Ngươi tưởng ngươi đến
đây để làm ǵ?”
Khi bị hỏi là có ư muốn tu hay không,
điều đó có nghĩa là có thể bị đá ra khỏi thiền đường. Nhưng may
thay, Thầy đă thương hại tôi, và những học tăng bạn cũng giúp đỡ,
che chở tôi khỏi bị sơ sểnh thêm nữa. Dù vậy, tôi vẫn c̣n bướng bỉnh
tiếp tục tọa thiền mà không nằm xuống chút nào về đêm. Mặc dù liên
miên ngồi thiền một cách kiên tŕ như vậy, hàng đêm tôi vẫn rơi vào
trong cơn mê mệt và ngủ thiếp đi, nên việc tọa thiền của tôi chẳng
mạnh mẽ và sáng tỏ được chút nào.
Thế rồi, vấn đề lại càng trở nên tệ hại
hơn, khi tôi lư luận rằng ăn vào là chỉ làm buồn ngủ thêm, nên ngưng
không ăn nữa. Như tôi đă nói ở trên, những bữa ăn thời ấy không được
đầy đủ chút nào. Chúng tôi dùng bữa theo nghi thức, tụng một bài
kinh trước và sau khi ăn. Trước mỗi bữa ăn thường có thông báo về
bữa ăn ấy như là “Bữa trưa hôm nay phần mỗi người sẽ gồm có ba cái
bánh xếp”. Như vậy có nghĩa là mỗi vị tăng sẽ nhận được ba viên bánh
làm bằng bột khoai ép lại, mỗi viên chỉ to bằng đồng xu thời xưa.
Không có nước tương hay miso ǵ cả, những viên bánh này được luộc
trong nước muối, và chúng tôi mỗi người được phát cho ba chén. Dù
chỉ có thế mà tôi cũng ngưng không ăn v́ nghĩ là sẽ bị làm cho buồn
ngủ, điều đó quả t́nh là tôi đă đi quá xa.
Thế rồi, một đêm nọ, tôi không c̣n một
chút sức lực nào nữa.
Tôi mất hết cả ư chí muốn được giác
ngộ; sự tiếp tục t́m kiếm giác ngộ (satori) dường như là điều không
thể nào tưởng tới được nữa. Tôi không c̣n một chút năng lực tối
thiểu nào của vật chất và tinh thần cần thiết để giữ một mức độ ư
thức trong đó cái thấy được xác định bằng mắt và cái nghe được xác
định bằng tai. Cái gối thiền mềm mại ở dưới tôi lúc đó là cả một
miếng thép cứng đơ. Toàn thân tôi là một tổng hợp của những cơn đau
như dần. Đó không c̣n là “Tôi” đang ngồi trên gối thiền nữa; mà chỉ
là cả một sự mệt mỏi chất ngất . Ưù thức tưởng chừng như đă lạc mất
trong màn sương mù dầy đặc, tất cả chỉ c̣n là một sự mơ hồ.
Đột nhiên, dưới một lực nào đó mà tôi
không được rơ, màn sương mù bỗng tan đi và biến mất. Và không phải
là cơn đau đớn của thể xác tôi đă biến đi, nhưng là cái thân chịu
đựng sự đau đớn đó đă biến đâu mất. Mọi sự trở nên hoàn toàn sáng
tỏ. Ngay cả trong màn đêm mờ tối, mọi sự cũng được thấy một cách
thật tinh tường. Tiếng động nhỏ nhất cũng có thể nghe được rơ ràng,
nhưng không c̣n người đang nghe. Tôi tin rằng, điều này cũng tựa như
là đă chết đi trong lúc c̣n đang sống vậy.
Vào lúc đó, không c̣n có một khởi niệm
nào cả. Tôi không có một ư niệm ǵ là trạng thái sáng tỏ hoàn toàn
ấy kéo dài bao lâu, là điều ǵ đă xẩy ra trước đó hay sau đó. Có lẽ
rằng một giọng nói sắc cạnh nào đó đă đánh thức tôi ra khỏi trạng
thái đó. Tôi chỉ biết rằng khi sực tỉnh lại, tôi cảm thấy hạnh phúc
vô ngần! Như tôi không c̣n biết là bàn tay tôi đang múa, tiếng chân
tôi đang bước. Trong tâm trí tôi không hề có một ư tưởng nào thoảng
qua là tôi đang có một kinh nghiệm giác ngộ hay là “tôi đă kiến
tánh” (kensho). Không cần lư luận ǵ cả, tôi chỉ cảm thấy một niềm
vui choáng ngợp, tưởng chừng như có một gánh nặng chĩu trên vai bỗng
nhiên đă được lấy đi.
Hồi tưởng lại kinh nghiệm này, nhớ đến
nhiều đoạn kinh khác nhau và qua những ngữ lục của các vị tổ thời
xưa, tôi thấy một bài kệ của Thiền sư Chí Đạo Vô Nan (Shido Bunan
Zenji) thật là thích hợp:
Chết trong khi đang sống
Chết một cách toàn diện
Mọi việc cứ tùy duyên
Sẽ tốt đẹp tự nhiên
Tâm lư gia danh tiếng Elizabeth
Kubler-Ross đă thu thập những lời kể lại của những người đă trải qua
kinh nghiệm chết giả và rồi trở về được và thuật lại. Theo những bản
tường tŕnh này, khi người ta bắt đầu chết, ngay trong giây phút đó,
không những cái thân xác bị dầy ṿ bởi bệnh hoạn và đau đớn được
hoàn toàn giải thoát khỏi sự đau khổ ấy, mà chính người ấy cũng có
cảm giác thực sự là họ được giải thoát khỏi thân xác ấy. Những người
này báo cáo rằng, tuy là họ không biết họ đang ở đâu, nhưng họ có
thể thấy rơ ràng những người khác đang tụ tập chung quanh xác họ,
than khóc níu kéo và cố lay xác họ. Xem thế, dường như là có sự
tương đồng nào đó giữa kinh nghiệm của cái chết giả và cái “chết”
trong khi nhập định, nhưng đây là một điều tôi không dám chắc được.
Những ǵ mà tôi và những người khác đă
trải qua những kinh nghiệm tương tự có thể xác định được là có một
trạng thái của tâm vượt ra khỏi nhân và quả, một trạng thái khác
biệt với trạng thái trong đó chúng ta t́m cách thụ đắc được “điều
này” bằng việc làm một “điều kia”. Đó là một trạng thái Định trong
đó mỗi giây phút đều tự nó là đầy đủ, đều là trọn vẹn như thế. Mỗi
giây phút đều được phản chiếu lại một cách hoàn hảo, như đang đứng
trước một tấm gương vậy.
Nếu chúng ta dồn hết năng lực để sống
với tính cách như là “trồng cây rồi ăn quả”, gieo tạo nhân lành cho
đời sống thế gian hữu hạn này, th́ đó cũng là một điều kỳ diệu và
cần thiết. Nhưng nếu sống mà chỉ biết tùy thuộc vào luật Nhân Quả --
hành động để nhận lănh cái quả sẽ tới trong tương lai gần hay xa --
th́ rồi thế nào, người ấy cũng gập phải chướng ngại và sẽ cảm thấy
tuyệt vọng.
Tuy nhiên, bằng cách trực diện với
những ǵ bạn đang có ngay trước mắt, ngay trong lúc này, hoàn toàn
không phán xét hay lượng định ǵ cả, bạn có thể vượt qua tất cả
những vấn đề của nhân và quả. Bạn có thể làm việc trong bếp hay quét
sân ngoài vườn, cọ rửa pḥng tắm hay làm một việc lao động nào đó
cho một người nào khác, nhưng bạn làm mà không có một chút suy tư ǵ
về cái giá trị tương đối của công việc ấy. Một cách đơn giản, điều
đó có nghĩa là bạn làm mọi việc với hết sức của ḿnh, trở thành một
với bất cứ hiện trạng nào của bạn, ngay trong giây phút đó. Tôi muốn
bạn sẽ biết rơ ràng được rằng, đây là một cách khác để sống cuộc đời
của bạn.
Một mặt, dù cho bạn có dồn nỗ lực và
rồi được thành công trong sự gặt hái những quả tốt cho ḿnh, nhưng
nếu không biết vượt qua chướng ngại lớn của sinh, lăo, bệnh, tử, bạn
sẽ không thể an lạc được trong những buổi xế chiều của cuộc đời. Mặt
khác, nếu bạn bám víu vào khái niệm về cái không và rồi rơi vào
trong vô kư của sự phủ nhận cái có, bạn sẽ dễ sai lầm mà sống cả một
cuộc đời vô ích. Nhưng có một cách khác hơn thế, đó là con đường
trung đạo, sẽ giúp cho chúng ta không rơi vào hai bên nào cực đoan.
Con đường Trung Đạo này c̣n được gọi là Pháp Môn Giải Thoát, giải
thoát khỏi cả hai cái hữu lậu và vô lậu.
Buông thả trong cái chết
Tôi xin kể lại đây một câu chuyện cuối
cùng, một câu chuyện đă làm tôi xúc động sâu xa. Đó là chuyện của cô
Okamoto, người đă ở bên cạnh thầy tôi trong suốt bốn mươi năm cho
đến khi ngài viên tịch.
Cô Okamoto, như tôi đă nói trước đây,
đă rời bỏ việc làm trong ngành giáo dục nữ sinh và vào sống ở chùa
trong tuổi bốn mươi như một đệ tử của Thiền sư Zuigan. Cô tu như một
người cư sĩ, không hề thế phát hay thọ giới, nhưng cũng không bao
giờ trang điểm như những nữ cư sĩ khác. Cô làm mọi việc thật gọn
gàng, lúc nào cũng trong bộ quần lao động rộng thùng th́nh.
Cô không có ư định trở thành một đại
nhân trong ni giới, nên thay v́ chăm chú vào công việc tu tập, cô
siêng năng làm công quả nhiều hơn, hầu giúp cho người thầy mà cô
hằng kính ngưỡng được thoải mái hơn trong đời sống . Qua những công
việc giặt quần áo, nấu bếp, và trồng rau tươi, Cô Okamoto muốn bảo
đảm cho thầy khỏi cần bận tâm ǵ hết để có thể giảng pháp cho mọi
người. Bất cứ người nào nh́n đến cô Okamoto cũng sẽ thấy ngay cô là
một người rất tận tụy.
Đại sư Zuigan viên tịch vào tuổi tám
mươi bẩy, lúc đó cô Okamoto đă sáu mươi tuổi . Sau khi kỳ thất cuối
cùng 49 ngày đă xong xuôi, cô thu dọn đồ đạc và, tuyên bố không muốn
là một gánh nặng cho tôi, đă ra đi khỏi chùa. Cô dọn đến một thất
nhỏ thuê trong một ngôi chùa khác, và tiếp tục sống những năm tháng
c̣n lại của tuổi già ở đó, không chịu sự kiểm soát của một ai, y như
thờiø cô đă sống khi Đại sư Zuigan c̣n sinh tiền vậy.
Mỗi buổi sáng cô Okamoto dậy vào lúc 4
giờ 15, và tuy rằng không phải phần việc của ḿnh, cô cũng đi quét
dọn vườn tược chùa chung quanh căn thất thuê của cô. Cô trồng rau
trên những mảnh đất trống, và hái rau đó cúng dường các vị học tăng
đang theo tu với tôi, đồng thời chia cho những khách thập phương, và
đem lên bàn thờ cúng dường tam bảo.
Khi đă tới tuổi quá thất tuần, cô cảm
thấy muốn t́m cách tu bản thân ḿnh cho tốt hơn, nên sau một ngày
quét tước, nhổ cỏ dại, làm vườn, cô Okamoto ở trong nhà nghe băng
giảng và học hỏi thêm về văn chương cổ điển Trung Hoa. Có những lúc
khác, nhớ lại những bài giảng của Lăo sư về Thiền thư, cô mở lại
những sưu tập hệ công án như Bích Nham Lục và Vô Môn Quan. Đó là
cuộc sống hàng ngày của cô Okamoto.
Cô là một bà già bé nhỏ, thấp lùn với
bộ mặt tṛn trĩnh như trẻ thơ, nhưng với lối sống đặc biệt khắc khổ,
cứng nhắc, cô Okamoto dường như có một vẻ ǵ đáng sợ, và những học
tăng trẻ không cảm thấy thích thú chút nào nếu họ bị giao cho công
việc phải đến gập cô.
Hàng tháng tôi đều đến thăm cô Okamoto,
và lúc nào cô cũng có vẻ phấn chấn với những buổi đến thăm đó. Nhưng
có một hôm, cô nhắn tin cho tôi biết rằng cô muốn tôi đến thăm ngay,
v́ cô có chuyện cần muốn nói.
“Nửa năm vừa qua, tôi thấy cơ thể ḿnh
yếu mệt vô cùng,” cô bắt đầu nói khi tôi đến thăm. “Tôi nghĩ chắc
ḿnh đă đến tuổi suy nhược rồi, nên cố tự răn ḿnh phải tiếp tục mọi
công việc như thường, nhưng rồi cũng không thấy khá ǵ hơn.”
“Cuối cùng,” cô giải thích tiếp, “dường
như tôi không c̣n cách ǵ hơn là nhờ người đưa đi bác sĩ khám. Tuy
bác sĩ không nói ǵ nhiều, nhưng h́nh như là tôi đă bị ung thư. Từ
khi biết được chuyện này, tôi đâm ra sợ chết quá đi.”
Những lời nói của cô mang âm hưởng của
lời ông thầy giáo cũ của tôi. Nhưng không những là cô Okamoto sợ
chết, cô c̣n cảm thấy xấu hổ với cái sợ đó. Cô cảm thấy sợ chết là
một điều nhục nhă, sau bao nhiêu năm tu tập với một vị lăo sư như
vậy. Cô cảm thấy biết ơn Lăo sư và Thiền tông vô cùng, và không chịu
nổi ư tưởng là những người ở gần cô sẽ nghĩ tu Thiền là vô ích, v́
rơ ràng đă không giúp cho một người như cô có thể vượt qua được nỗi
sợ hăi khi đối diện với tử thần.
“Có vấn đề ǵ đây trong cách tu của tôi
từ đó tới giờ … để giờ này tôi sợ chết đến thế? Xin thầy làm ơn chỉ
cho tôi thấy tôi đă sai như thế nào trong cách tu, được không? “ cô
khẩn khoản, trải bầy tâm sự ra với tôi, như thể tôi là con trai của
cô vậy.
Tuy rằng cô Okamoto hơn tôi đến hai
mươi bốn tuổi, sự thổ lộ nhiệt t́nh của cô đă khiến cho tôi, mặc dù
kính trọng sự lớn tuổi của cô, đă thẳng thắn nêu ra với cô điều tôi
thấy không ổn lắm trong thái độ sống của cô.
Người đàn bà này đă sống một đời không
có ǵ khiếm khuyết, đáng ngợi khen, nhưng bà lúc nào cũng nghiến
răng lại để cố “làm điều lành, tránh điều xấu”. Lúc nào cũng phân
biệt thật rành mạch giữa cái “tốt” và cái “xấu”, lúc nào cũng cân
nhắc, phán xét mọi t́nh thế, bà lo làm hết sức để cố đạt lấy cái
“tốt hơn”, nhưng luôn luôn là trong sự cứng cỏi của hàm răng nghiến
chặt. Tôi xin nói rơ hơn về vấn đề này. Nỗ lực phân biệt tốt với xấu
và rồi chọn lựa hành động một bên để lo tích lũy nhân lành cho những
quả tốt, tự nó, không thể đem lại sự an b́nh trong tâm được.
Như tôi đă giải thích với cô Okamoto,
chúng ta sinh ra lọt ḷng mẹ và rồi sau này sẽ vào trong quan tài
nằm. Trong khoảng thời gian trung gian đó chúng ta gọi là sống, và
chắc hẳn bạn nghĩ rằng vào quan tài nằm tức là chết. Nhưng sự hiện
hữu đúng thực tức là sống và chết lặp đi lặp lại, từng giây từng
phút một. Nếu bạn nh́n vào một ngọn lửa, bạn thấy nó cháy liên tục
và tạo ra một ánh sáng liên tục. Nhưng thực sự, sáp nến đang chẩy
dần từng chút một, và tim nến trong khi đang rực cháy cũng đang cạn
dần, đưa ngọn lửa càng lúc càng xuống thấp hơn.
Cuộc đời chúng ta trông có vẻ như những
khối kiên cố suốt bẩy chục năm hay tám chục năm liền, nhưng thực sự
ra, chúng cũng giống như tỷ dụ đă nói đến trước đây: bạn là một
người vợ khi quay qua bên này; bạn là người hàng xóm khi quay qua
bên khác. Khi bạn giữ cho tâm được thẳng thắn, tự nhiên với từng
giây từng phút sống thực, dù không có một cố gắng nào, dù không có
sự tập luyện nào, bạn cũng được sinh ra thật đẹp đẽ với từng giây
phút một. Bạn chết đi trong từng giây phút, và rồi sinh ra trở lại
trong từng giây phút nối tiếp nhau.
Như tôi đă nói với cô Okamoto, khi bạn
đi vào bếp sửa soạn bữa ăn tối, hăy sinh ra ở trong bếp. Khi bạn
xong việc ở đó, hăy chết đi. Rồi lại sinh ra ở bàn ăn khi bạn ăn bữa
tối và, sau khi bạn ăn xong rồi, hăy chết đi ở đó. Hăy sinh ra trong
vườn khi bạn lấy cây chổi quét sân. Rồi khi bạn vào giường ngủ ban
đêm, hăy chết đi ở đó. Và khi ánh dương tỏa sáng, bạn thức dậy trong
giường, và lại sinh ra lại như mới. Nếu bạn có bệnh ung thư, hăy
sinh ra với bệnh ung thư.
Luôn luôn trong giây phút hiện tại bây
giờ -- và chỉ ngay bây giờ thôi -- bạn đi vào đời sống. Luôn luôn
trong giây phút hiện tại bây giờ -- và chỉ ngay bây giờ thôi -- bạn
buông thả trong cái chết. Thực tập chân lư đó tức là tập Thiền vậy.
Mạng sống Phật
Tôi đă thấy nhiều người áp dụng tu,
nhưng tôi không biết có ai thực hành theo những lời chỉ dậy của tôi
một cách thật hoàn hảo, thật tuyệt vời như cô Okamoto. Cô tuân theo
lời tôi thật ngoan ngoăn như một con cừu non. Chưa đầy mười ngày, bộ
mặt nghiêm khắc của cô đă dịu đi trông như một đứa trẻ, trở thành bộ
mặt của một bà lăo hiền từ. Cô đă bỏ lại đàng sau cái lối sống khắc
khổ, g̣ bó để cố làm điều tốt.
Bệnh của cô Okamoto càng ngày càng nặng
thêm, và cuối cùng cô phải vào nhà thương. Tôi nhớ khi tôi đến thăm
cô, các bác sĩ và y tá đều nhận xét rằng họ đă làm việc trong bệnh
viện bao nhiêu năm nay, mà chưa gặp một bệnh nhân nào như vậy. Khi
cô Okamoto vào bệnh viện, cô đón nhận tất cả mọi người, tất cả mọi
thứ, tất cả mọi hoàn cảnh đến trong tinh thần “cơ hội chỉ đến một
lần”.
Hầu hết mọi người đều diễn giải “cơ hội
chỉ đến một lần” như là những trường hợp thật là đặc biệt, một cơ
hội hăn hữu cả đời chỉ có một lần. Câu nói đó gợi lên trong trí ta
một dịp ǵ như là một buổi lễ trà đạo chỉ được diễn ra một lần độc
nhất. Người ta thường lư luận rằng cái ǵ chỉ xẩy ra một lần trong
đời, một cuộc tao ngộ có một không hai trong đời, phải là một dịp
may hiếm có lạ thường, và câu nói này thường chỉ được dùng giới hạn
trong nghĩa đó mà thôi.
Tuy nhiên, theo một nghĩa đích thực,
“cơ hội chỉ đến một lần” có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, khi người ta
gặp một tảng đá, nh́n thấy một cây cỏ dại, khi lau chùi pḥng tắm
hay nấu cơm. Đó là một trạng thái tâm thức trong đó tuyệt đối không
có một dự kiến nào mang tính chất yêu ghét, trong đó tuyệt đối không
có một ư tưởng nào muốn trốn tránh hiện thực. Thực tập “cơ hội chỉ
đến một lần” là hoàn toàn ḥa nhập vào mỗi việc đang xẩy đến, và đó
đúng là cách mà cô Okamoto đă dùng để đi ra khỏi cuộc đời.
Không may là, tôi đă đồng ư trước cho
chuyến du hành sang Anh và Hoa Kỳ trong thời điểm đó, và tôi ra đi
trong ḷng cảm thấy khó chịu. Tôi chỉ thị cho các đệ tử ở nhà phải
săn sóc cô Okamoto trong lúc tôi đi vắng, nhưng cô đă qua đời mà
không chờ đợi tôi trở về. Khi trở về, tôi nghe người đệ tử lớn nhất
của tôi, vị tăng đă trông nom cô lúc sau cùng, kể lại những giây
phút cuối của cô trước khi chết. Tuy vị tăng này ít khi nào biểu lộ
cảm xúc trên nét mặt, ông cũng không ngăn nổi những gịng lệ tuôn
trào khi kể lại câu chuyện.
Trước khi cô Okamoto qua đời, cô đă nói
với ông, “Nh́n lại, tôi thấy cuộc đời tôi đă sống bao nhiêu năm nay
thật là tù túng. Nên bây giờ tôi có ư muốn cầm một quả bóng đi vào
chơi trong rừng.” Đó là những lời cuối của cô.
Chúng tôi đă đặt một quả bóng thật đẹp,
làm bằng những sợi chỉ mầu, vào bên trong mộ của cô.
Tôi mong bạn sẽ không xem những lời nói
cuối cùng của cô Okamoto chỉ như những lời nói xúc cảm hay chỉ có ư
nghĩa thuần túy như vậy . Khi tôi nghe những lời nói cuối cùng đó,
tôi cảm thấy vui mừng tự trong đáy ḷng. Vui mừng, v́ tôi tin tưởng
rằng trong đời sống và trong cái chết, cô Okamoto đă thực sự đạt tới
trạng thái có thể được gọi là “du hí tam muội.”
Nếu một người được lănh lương để làm
công việc dùng xẻng xúc cát vào trong thùng xe vận tải, chắc họ sẽ
cảm thấy mỏi mệt. Lúc đó nếu có ai đến và đề nghị giúp họ, chắc họ
sẽ vui vẻ mà đưa cái xẻng ra cho người ấy. Nhưng giả tỷ có một đứa
trẻ đang chơi trên một đống cát, xúc cát vào trong cái xô. Nếu có
người nào đến nói với nó cho họ làm thế việc đó một lúc, chắc đứa
trẻ sẽ cự lại rằng, “Tại sao tôi lại muốn ông thế tôi trong khi tôi
đang thích thú như thế này?”
Ngay cả một trong những công việc phù
du nhất như việc sửa soạn một bữa ăn cũng có thể là du hí tam muội
được. Bạn dốc tâm vào việc sửa soạn một bữa ăn ngon, lo bầy biện
trang hoàng những đĩa thức ăn thật nghệ thuật rồi đem lên mời mọi
người dùng, chẳng mấy chốc những món ăn đó sẽ được tiêu thụ hết
sạch, và c̣n lại chỉ là những đĩa bát bẩn. Thực hành du hí tam muội
không chỉ có ư nghĩa sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cho
viện bảo tàng trong vài trăm năm, mà c̣n áp dụng cho những việc tầm
thường hàng ngày mà chúng ta vẫn làm. Một tỷ dụ cụ thể là những công
việc làm trong nhà. Trong một ṿng vô tận, chúng ta lau chùi nhà
cửa, rồi nhà cửa lại bẩn trở lại. Chúng ta quét nhà, rồi bụi lại bám
trở lại. Chúng ta giặt quần áo, rồi quần áo lại bị lấm bẩn trở lại.
Điều này không chỉ giới hạn trong việc
chăm sóc nhà cửa, nếu nh́n kỹ, bạn sẽ thấy rằng hiện trạng này cũng
có trong mọi hoạt động của con người nơi thế gian này.
Du hí tam muội là một trạng thái tâm
thức trong đó người ta làm một việc ǵ mà không hề cân nhắc đến cái
giá trị tương đối của nó, y như một đứa trẻ chơi nghịch trong cát sẽ
không muốn để một người nào khác đến thế chỗ nó. Đó chính là tâm
thức của cô Okamoto khi cô đi vào chơi bóng trong rừng.
Du hí tam muội là một trạng thái trong
đó tâm đă siêu vượt lên sự đối đăi của cả hai pháp hữu lậu và vô
lậu. Đó là Pháp môn Giải thoát, một trạng thái tâm thức tự do tự
tại, giải thoát khỏi cả hai cái hữu hạn và vô hạn.
Nơi bản thân chúng ta đă có sẵn mạng
Phật vĩnh cửu thường hằng. Mạng Phật ấy thể hiện trong mọi sắc
tướng, sinh sinh diệt diệt theo từng sát na, và tiếp nối nhau hiển
lộ trong du hí tam muội. Chúng ta có thể khẳng định rằng có được
trạng thái tâm như vậy chính là đă đạt được trạng thái giác ngộ
trong Thiền.
Nơi bản thân chúng ta đă có sẵn mạng
sống vĩnh cửu miên viễn. Mạng sống đó thể hiện trong những sắc tướng
và tương tục biến hiện theo từng sát na. Tuy nhiên, ánh chớp lập ḷe
của sự biến hiện này không phải là ánh chớp của một cái ngă riêng
biệt kiên cố, mà là sự biến hiện rực rỡ của một thể nhập ḥa điệu
giữa cá thể và ngoại cảnh chung quanh.
Đây là điều mà vị tổ khai sáng của tông
Tào Động ở Nhật, thiền sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji) đă ngụ ư khi ngài
bảo rằng sinh và tử chính là mạng sống Phật. Sinh và tử là nhịp đập
của mạng sống Phật.
Ơ đâu có một ngàn con người, trong một
ngàn lối sống, sẽ có một ngàn vị Phật hiển lộ. Phật hiển lộ trong
đồi núi, trong thung lũng, cỏ cây, qua muôn vàn hiện tượng khác
nhau. Cái tâm thể hiện nơi bất cứ mọi h́nh tướng nào trước mắt ta,
nơi bất cứ phương hướng nào chung quanh ta là cái tâm đáng kính
ngưỡng; đó chính là tâm Phật, đó chính là mạng Phật vậy.
Riêng đối với cá nhân tôi, chữ sinh và
tử được hiểu như Đời Sống Lớn Rộng, đầy năng động và nhẩy múa thật
linh hoạt. Trong suốt quyển sách này tôi đă nói chuyện với các bạn
về đời sống lớn rộng, nhẩy múa thật linh hoạt này và về tiến tŕnh
tôi đă trải qua để có được cái nh́n như vậy về đời sống.
Như tôi đă nói trước đây, khi chấm dứt
một bài giảng, tôi thường yêu cầu mọi người hăy quên hết những điều
tôi vừa nói. Nhưng mặc dù vậy, tôi cũng tha thiết mong rằng những
lời kể vụng về của tôi sẽ là một khích lệ, phần nào giúp cho bạn
sống được đời sống của ḿnh … sống với hết tâm ư trong từng giây
từng phút, trong ư thức trọn vẹn trước mắt đời sống bao la lớn rộng,
đầy năng động, và nhẩy múa thật linh hoạt.
Vài nét về tác giả:
Thiền sư Soko Morinaga sanh năm 1925.
Sau khi tốt nghiệp trung học, ngài đă tu theo Thiền tông, được thọ
giới với thiền sư Zuigan Goto vào năm 1948. Khoảng thời gian từ 1949
cho đến 1963, ngài tu trong thiền viện Đại Đức (Daitokuji) và được
thiền sư Sesso Ota ấn chứng. Trong khi hoạt động tích cực với cộng
đồng cư sĩ, đi thuyết giảng các nơi và viết bài, viết sách, ngài
cũng làm viện trưởng cho viện đại học Hanazono, trường đại học
chuyên môn của tông Lâm Tế ở Kyoto. Ngài có một liên hệ lâu dài với
Hội Phật Giáo ở Luân Đôn và đi du hành qua đó mỗi năm để tham dự
khóa giảng mùa hè được bảo trợ bởi nhiều hệ phái Phật giáo khác
nhau. Thiền sư Morinaga tịch vào năm 1995.
|
|