|
Một ḿnh lang thang
đi trên đường lữ thứ sống kiếp tha hương, đôi khi ta không khỏi nhớ
về quê hương yêu dấu xa xưa.
Hito wa dare mo tada hitori
tabi ni dete
Hito wa dare mo furusato o furikaeru...
Thuở đó, sống đời du học sinh xa
nhà ở Nhật Bản, thấy thấm thía làm sao những lời buồn man mác của
bài hát Kaze (Gió) này. Nhưng tuổi trẻ chóng buồn mà cũng chóng quên,
tất cả rồi cũng cuốn hút đi với cuộc sống quay cuồng theo ḍng thời
gian.
Nhưng có lẽ càng sống lâu, lại càng
có khuynh hướng nhớ về thời trẻ tuổi thơ ngây khi c̣n ở với cha mẹ
và không có một suy tư vướng bận nào trong tâm hồn.
Mùa hè qua tôi mua một cây hoa vàng,
loại hoa có h́nh như cái chuông, có mầu vàng tươi rực nắng. Hoa
vàng gợi nhớ đến căn nhà gần biển ngày xưa tôi ở với cha mẹ, có dàn
hoa chuông mầu vàng tươi rực nắng. Những căn nhà tôi đă từng sống
trong thời thơ ấu và thiếu niên bao giờ cũng hiện về mỗi khi nhớ lại
những kỷ niệm xưa, đôi khi mơ hồ nhưng cũng thật thắm thiết, như một
phần trong con người của tôi không thể tách rời.
Mỗi căn nhà là kỷ niệm của một giai
đoạn trong cuộc đời. Căn nhà đầu tiên ghi nhớ trong kư ức xa vời
nhất là căn nhà cha mẹ tôi thuê khi vừa chân ướt chân ráo đến từ
miền Bắc. Nằm ngay góc Ngă Sáu, đối diện với Nhà Thờ chính ở Nha
Trang, căn nhà có vườn rộng vuông vức, đặc biệt là có một cây dâu
khá lớn, một loại hơi giống như raspberry, quả mầu tím nhạt, vị hơi
chua. Thuở ấy tôi mới bắt đầu vào sơ cấp, được cha mẹ cho học ngay
ở một trường sơ gần nhà, chỉ đi bộ qua đường là tới. Bên này đường
là trường “Sơ Trắng”, v́ các vị nữ tu mặc áo trắng, chương tŕnh học
bằng tiếng Pháp, có vẻ “quư phái” hơn; bên kia đường là trường “Sơ
Đen” (trường Thánh Tâm), v́ các bà Sơ mặc áo đen, dậy bằng tiếng
Việt, nên “b́nh dân” hơn. Đầu tiên tôi học “Sơ Trắng”, tuy nhỏ nhất
nhưng lúc nào cũng đứng đầu lớp, được phần thưởng danh dự với con
búp bê biết “mắt nhắm mắt mở” to gần bằng tôi, nhưng một năm sau mẹ
tôi cho chuyển qua trường “Sơ Đen”, không hiểu sao lại học dốt hẳn
đi. Thế mới biết trường học quan trọng đối với trẻ con như thế nào,
đôi khi đổi trường có thể gây một ảnh hưởng lớn tác dụng đến việc
học. Học trường Thiên chúa giáo nên hồi đó tôi cũng rất say mê đạo
Thiên Chúa, nhất là ở gần ngay nhà thờ. Mẹ tôi tuy theo đạo Phật
nhưng đôi lúc cũng chiều tôi đưa đi nhà thờ, kiên nhẫn ngồi nh́n tôi
quỳ gối đọc kinh. Nhà thờ Nha Trang ở trên một quả đồi, trông thật
tráng lệ uy nghiêm. Đi lên từ con dốc thoai thoải, ở phía tay phải
trước cửa nhà thờ là một hang động thật lớn, thường được treo đèn
kết hoa, trang hoàng rực rỡ tượng chúa Jesus, Đức Mẹ và các thiên
thần trong những ngày lễ. Tiếng chuông nhà thờ ngân vang mỗi ngày,
cho một cảm giác đầm ấm, yên b́nh. Những đêm Noel dân chúng đi dự
lễ tấp nập, tiếng nhạc Noel vang lừng rộn ră: “Đêm đông lạnh lẽo
chúa sinh ra đời, chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa”...
Nhưng không hiểu sao, kỷ niệm tôi
nhớ nhất trong căn nhà đó (ngoại trừ những lúc hái dâu ăn và qua nhà
hàng xóm hái trộm trứng cá) lại là những khi bị phạt nhốt trong một
gian nhà tách biệt khỏi khu nhà ở, bước qua cửa là một lối đi hẹp,
một bên là pḥng kho với đủ thứ tồn trữ, sách vở cũ v.v… và cuối lối
đi là pḥng vệ sinh. Gian nhà tăm tối, chật chội nên b́nh thường tôi
chẳng bao giờ vào, nhưng khi phải ở trong đó, tôi thường hay lục lọi
đống sách cũ trong buồng kho, say mê đọc tất cả những ǵ t́m thấy,
đôi khi quên cả giờ ra. Quyển sách mà tôi nhớ nhất là “Ánh đạo vàng”
nói về cuộc đời Đức Phật, và cũng có vài quyển sách khác nói về đạo
Phật, mà chẳng hiểu v́ một nguyên do ǵ, đầu óc non nớt của tôi hồi
đó vẫn tiếp thụ được dễ dàng những ư niệm về “Sắc Sắc, Không Không”
v,v… Phải chăng đó là một chủng tử đă gieo sẵn từ khi nào trước đây?
Được mấy năm, chúng tôi dọn đến một
nhà khác, thuê lại từ bà cô họ vừa đổi vào Saigon. Căn nhà này ở gần
trung tâm thành phố, đi đến đầu đường là ra đường Độc Lập, con phố
chính của tỉnh, nên tiện cho cha tôi mở pḥng mạch. Xế bên kia đường
là rạp hát Văn Quang (sau đổi thành Minh Châu), nên ngày nào chúng
tôi cũng nghe tiếng máy hát phóng thanh những bản hát trước giờ
chiếu phim mỗi ngày. Tuy ồn ào nhưng cũng có một cảm giác rộn ră lạ
kỳ khi nghe những âm thanh chát chúa của những bài hát nhai đi nhai
lại, nổi bật nhất là giọng hát của Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết trong
những bài như “Gạo trắng trăng thanh” v.v… Có lẽ đó là thời gian
thanh b́nh nhất của Việt Nam, một thời kỳ êm ả trong đó con người
giao tiếp với nhau trong chân t́nh mộc mạc, tự nhiên. Gần rạp hát
nên trước nhà tôi la liệt những gánh hàng rong, bán đủ thứ quà vặt
như me xoài, cóc ổi, tầm ruột v.v.. Chiều chiều , tôi thường hay xin
tiền mẹ mua khoai lang, loại khoai mật sánh dẻo, vàng óng, có vị
ngọt lịm; ăn củ khoai mật, ngồi trên ghế đu ôm quyển truyện “Bá tước
Kích Tôn Sơn” (dịch từ “Le Comte de Monte Cristo” của Alexandre
Dumas, câu truyện ly kỳ đầy hấp dẫn của một anh chàng vượt ngục về
trả thù bằng những cách thật ngoạn mục), thật không có thú nào bằng!
Từ cổng vào là sân đi thẳng vào
garage, bên trái nhà được xây lên cao, có lan can phía trước để cây
cảnh, hai bên có mấy bực thang dẫn vào nhà. Nhà trên vuông vức, hai
bên là pḥng ngủ, giữa là pḥng khách. Từ nhà trên đi xuống có một
chái sân có mái che ở trên, ở giữa để một sạp gụ dầy bóng loáng,
thường là nơi chúng tôi ngồi lên quây quần ăn cơm. Bên mé phải là
một dẫy pḥng, dùng để làm bếp, pḥng người làm và pḥng học (hay
pḥng chơi) cho chúng tôi. Cuối dẫy là pḥng tắm và pḥng vệ sinh.
Sân sau rộng lớn, gần cuối vườn, cạnh giếng là một cây doi (mận)
thật cao, tàng cây vươn rộng che bóng cả một khoảnh vườn. Tôi thường
run sợ tưởng tượng đủ thứ ban đêm khi phải đi ra ngoài vườn vào buổi
tối. Những câu chuyện ma trên các cây cổ thụ không ngớt ám ảnh, nhất
là không hiểu sao trên thân cây lại đóng một cái đinh thật to. Nhưng
ban ngày, chúng tôi lại thường chơi ở đây nhiều nhất. Vốn nhát nên
tôi chẳng bao giờ dám leo cây, chỉ đứng ở dưới hứng những quả doi
chín đỏ ngọt ngào mà chị tôi leo lên đă ném xuống. Một buổi trưa hè,
chị thọc phải một tổ ong ṿ vẽ, đàn ong vỡ tổ túa ra tấn công tới
tấp khiến chị ngă từ trên cây xuống đất, may mà không gẫy xương,
nhưng phải sốt mê man suốt một tháng trời v́ nọc độc của ong.
Bên kia vườn, cách một hàng rào với
cánh cửa mỏng manh thông qua là sân sau của trường Kim Yến, nhà của
Minh Nhật, bạn láng giềng, sau này là bạn đồng học với tôi. Thỉnh
thoảng tôi “vượt biên” qua nhà bên ấy, đi thám hiểm những lớp học,
và lên lầu chơi với Minh Nhật, lê la trên sàn nhà đá hoa mát lạnh
lau sạch bóng.
V́ ở gần rạp hát, nên gần như tuần
nào tôi cũng đi coi ciné. Thuở ấy, mỗi phim chỉ được tŕnh chiếu
khoảng một tuần, chỉ phim nào nổi tiếng lắm mới kéo được đến một
tháng. Thế nên, nguồn phim cung cấp phần nhiều cũng bao gồm các phim
thần thoại của Ấn độ, Nhật Bản mà trẻ con rất thích. Đôi khi, có
những gánh hát cải lương từ miền Nam ra, ở lại tŕnh diễn cả tuần,
hoặc những đại nhạc hội có kịch sống của đoàn kịch Dân Nam với Túy
Hoa, Túy Phượng và Vân Hùng. Những lúc ấy, bầu không khí tỉnh nhỏ
náo động, khởi sắc hẳn lên, hấp dẫn những tâm hồn non trẻ của chúng
tôi. Mỗi lần đại nhạc hội, tôi thường được cha mẹ cho đi xem cùng,
nhưng cải lương th́ họa hoằn lắm, chỉ khi nào có những gánh hát lớn
với những vở tuồng nổi tiếng như đoàn Kim Chung, Việt Hùng hoặc
Thanh Minh-Thanh Nga mới được đi xem. V́ thế tụi nhỏ chúng tôi
thường hay la cà trước rạp hát, hi vọng sẽ bắt gặp được một vài
khuôn mặt nghệ sĩ danh tiếng để chóa mắt trước sắc đẹp lộng lẫy của
họ.
Thời gian này, khuynh hướng tôn
giáo của tôi quay ngược hẳn một chiều. Từ khi dọn về đây, tôi không
theo học trường Thánh Tâm nữa mà chuyển về trường Nữ Tiểu Học Nha
Trang, nên sự ngưỡng mộ Thiên Chúa cũng phai nḥa dần, mặc dù vẫn tự
coi ḿnh như một con chiên “vô thừa nhận”. Bỗng một ngày đẹp trời,
tôi đi xem phim “Quan Âm Thị Kính” do Kim Lan, Kim Cúc đóng, một
phim có vẻ b́nh dân với nét kịch tính cải lương, nhưng không hiểu
sao lại đánh động một cái ǵ tiềm ẩn trong tâm, khiến tôi xúc động
sâu xa. Chỉ trong một thoáng chốc, tôi quyết định “buông... đạo
Thiên Chúa (chứ không phải buông dao), lập địa... nguyện thành Phật!”
Thấy tôi ngỏ ư muốn đi chùa vào sinh hoạt Phật tử, mẹ tôi ngạc nhiên
mừng rỡ (tôi không dám thú nhận ḿnh đă thay đổi niềm tin nhanh
chóng như thế chỉ v́... một cuốn phim!), liền tiến hành ngay lập tức
lời yêu cầu, chỉ sợ tôi thay đổi ư kiến bất tử! Thế là, bỗng chốc
tôi biến thành một con chim Oanh Vũ, đi chùa học tụng kinh, niệm
Phật, hát bài “Sen trắng” và “Trầm hương đốt” mỗi sáng chủ nhật.
Nhưng chẳng bao lâu, con chim Oanh Vũ này lại chán cảnh chùa chiền
tĩnh mịch và muốn bay trở lại không khí náo nhiệt của rạp hát ciné
mỗi cuối tuần. Ngày Phật đản, mẹ tôi đang ngồi uống trà cùng mấy bà
bạn trong chùa, vừa hănh diện khoe con ḿnh là một con chim non
trong đoàn Phật tử, th́ bỗng nhiên, con chim non ở đâu chạy ùa vào
cùng mấy đứa bạn, quần áo lôi thôi lếch thếch, trông chẳng thấy bóng
dáng Phật tử đâu cả, khiến mẹ tôi phải một phen sượng sùng. Nhưng
người cũng không nỡ trách mắng ǵ nhiều, v́ biết con tim lăng tử vẫn
c̣n bị lôi cuốn bởi những tiếng gọi trần gian. Bốn mươi năm sau, tôi
đứng cạnh người trên lâm sàng, nh́n tấm h́nh hài héo úa tôi cố nuốt
trôi nước mắt, lần chuỗi tràng niệm Phật cho đến khi xác thân người
đă lạnh giá.
Khi tôi bắt đầu vào trung học, cha
mẹ tôi vừa mua được một miếng đất gần biển, và cho xây cất một ngôi
nhà “dream house”, một villa hai tầng có pḥng riêng cho mỗi người
trong nhà, mỗi pḥng đều sơn một mầu khác nhau theo ư chúng tôi muốn.
Ở dưới nhà là pḥng khách rộng mênh mông, về phía cầu thang một bên
cũng có thêm pḥng tắm, và hai pḥng riêng, một cho khách, một pḥng
làm việc cho cha tôi. Trên lầu những pḥng ngủ đều có cửa sổ thông
ra ngoài, đón nhận làn gió biển mát rượi thổi về. Cha mẹ tôi chọn
kiểu rất kỹ lưỡng, những song cửa sổ bằng sắt uốn theo h́nh hoa lá
cành nghệ thuật, cũng như những viên đá hoa đặc biệt hợp với mầu sắc
tường sơn ở trên. Từ lầu hai, c̣n có bậc thang đi lên gác thượng,
những đêm hè nóng nực, tôi trải chiếu nằm trên thượng tầng ngắm nh́n
trăng sao, mơ ngày viễn du một phương trời xa lạ, rồi thiu thiu ngủ
trong tiếng sóng biển ŕ rào.
Trong vườn, mẹ tôi trồng đủ các thứ
cây ăn trái thích hợp cho đất cát như ổi xá lị, sabotier, na dai v.v...
và một dàn nho xanh mướt ở khoảng sân trong nối liền nhà trên với
dẫy nhà dưới cho bếp, pḥng kho, pḥng người làm và garage. Đất mới
nên chưa có cây cao bóng mát, thay vào đó là một khoảng sân cỏ với
những cây hoa đủ kiểu, rải rác chung quanh là những cây có mùi hương
ngọt ngào như hoa sứ, hoa ngọc lan, và dàn dạ lư hương gần hàng rào,
dưới cửa sổ của chúng tôi. Nơi cổng trước, có dàn hoa leo h́nh
chuông mầu vàng ngập nắng, dẫn vào lối đi trải sỏi đến nhà.
Tuổi mới lớn của tôi bồng bềnh trôi
theo những tiếng nhạc trữ t́nh của Francoise Hardy, Sylvie Vartan
v.v... Không c̣n nữa những tṛ chơi đùa nghịch chạy nhẩy tung tăng
của trẻ con, mà bây giờ là bắt đầu những chú ư nhiều hơn đến quần áo,
tóc tai, những suy tư, mơ mộng vẩn vơ...
Quand je me tourne vers mes
souvenirs
Je revois la maison où j ’ai grandi
Il me revient des tas de choses
Je vois des roses dans le jardin
(Francoise Hardy : La maison où
j’ai grandi)
(Khi hồi tưởng lại những kỷ niệm
qua
Tôi thấy ngày xưa lớn lên trong ngôi nhà
Thấy bao điều trăm nhớ ngàn thương
Thấy vườn hoa thắm những đóa hồng)
Nhưng bên cạnh những gịng nhạc vui
tươi, lăng mạn của Pháp là những lời lẽ thương đau, nức nở trong
nhạc Việt Nam của một thời ly loạn, với những đồi hoa sim tím chiều
hoang biền biệt, những chiều hành quân qua thôn xưa, nhớ người em
gái sầu mộng ngồi bên khung cửa, để rồi một ngày kia người con gái
ngỡ ngàng trong tiếng khóc: “không, anh không chết đâu anh!” Tương
lai của cả một thế hệ chúng tôi đă bị cướp đi trong tiếng súng sa
trường nghiệt ngă, tâm thức tuổi trẻ chỉ là những suy tư đen tối
trong sự hoang mang, vô định của quăng đời trước mặt.
Dù vậy, thành phố hiền ḥa vẫn ngủ
quên trong tiếng ru êm đềm của biển. Ngày ngày trong tà áo trắng học
tṛ, nghiêng nghiêng vành nón bài thơ, tôi đi bộ đến trường vui cùng
bạn, với thầy cô... Đôi khi, cũng có những bóng dáng lẽo đẽo theo
sau, khiến bước chân hơi bối rối hồi hộp, nhưng rồi tất cả cũng “chỉ
là một thoáng mơ qua!”
Năm đệ nhất, tôi vào Saigon theo
học trường Gia Long. Giă từ tuổi thần tiên, giă từ những ngày mộng
mơ nằm nghe sóng biển th́ thầm.
Mais tout doit finir pourtant
dans la vie
Et j’ai du partir, les larmes aux yeux...
Quand j’ai quitté ce coin de mon
enfance
Je savais déjà que j ’y laissais mon coeur.
(Nhưng rồi tất cả đều chấm dứt
trong cuộc đời
Và tôi phải ra đi, lệ tràn trên mi...
Khi xa rời nơi chốn ấy của tuổi thơ
Tôi đă biết rằng, ḷng tôi không xa mờ)
Saigon với xe cộ chạy
rầm rập suốt ngày đêm, lúc nào cũng rộn ràng như tràn đầy sức sống.
Căn nhà chúng tôi ở nằm ngay trung tâm thị tứ của Tân Định, nhưng ở
trong một con đường nhỏ khá yên tĩnh. Cánh cổng sắt nặng nề với hàng
tường cao ngăn cách bên trong nhà với bên ngoài, cho một chút không
khí riêng tư. Khu vườn nhỏ phía trước chỉ đủ cho một chút cỏ xanh,
dưới một gốc cây sung đă có sẵn từ trước. Dọc nền sân lót gạch, mẹ
tôi để vài chậu kiểng trồng hoa lan đất, hoa sứ Thái Lan. Căn nhà
tựa như nhà phố, chung tường hai bên, dài mà hẹp, hơi tù túng, nhưng
pḥng ốc khá rộng răi, cũng đầy đủ tiện nghi. Dưới nhà là pḥng
khách dài, rồi qua ngưỡng cửa sau kế cầu thang đến pḥng ăn có cửa
đi ra sân nhỏ, nơi có một bể chứa nước khá lớn, và thông vào với
bếp. Trên lầu chia ra hai khu riêng biệt trước và sau, cách nhau một
vài bực thang. Lầu trước có hành lang nhỏ phía ngoài, dẫn ra một ban
công rộng mở hai bên, có bao lưới chung quanh. Chúng tôi thường ngồi
ở ban công đọc sách đọc báo, vừa ngắm nh́n ra phong cảnh ở ngoài.
Căn nhà này đă chứng
kiến những thời kỳ huy hoàng cũng như đen tối nhất của gia đ́nh
chúng tôi. Cha tôi về Saigon ít lâu đă về hưu, nhưng đi làm thêm ở
một công ty lớn được trả lương hậu hĩnh, và căn nhà “dream house”
của cha mẹ tôi ở Nha Trang để cho thuê cũng cung cấp lợi tức đủ để
có cuộc sống dư dả và có tiền cho tôi đi du học. Khi tôi từ Nhật
trở về, tất cả mọi người trong gia đ́nh đều đă có sự nghiệp riêng
thoải mái, cuộc đời êm trôi tưởng như sẽ tiến tới một tương lai hi
vọng nào đó.
Nhưng biến cố của đất
nước đă đem lại biến cố cho gia đ́nh. Chỉ sau Tết Ất Măo năm 1975 ít
lâu, miền Nam Việt Nam bỗng sụp đổ như một căn nhà bằng giấy. Saigon
từ bấy lâu như ở trong một lớp vỏ tách rời khỏi cuộc chiến sôi sục
đẫm máu, nay bỗng phải đương đầu với những hệ luỵ trực tiếp của
chiến tranh. Nào cửa nát nhà tan, nào sinh ly tử biệt, biết bao
nhiêu thảm cảnh đă đến cho nhiều gia đ́nh. Căn nhà ở Tân Định lúc ấy
cũng chia xẻ những nỗi buồn chia xa, những khốn khó tiện tặn mà gia
đ́nh tôi phải chịu. Những đồ quư giá trong nhà dần dần cũng lần
lượt ra đi theo các tay buôn Chợ Trời, cánh cửa sắt ngày xưa tách
biệt thế giới bên ngoài với thế giới bên trong nhà, nay mở luôn
soành soạch để bán nước đá cục, bán kem chuối ép đông lạnh. Cảnh tù
đầy tưởng như không thể xẩy ra trước kia, nay là một thực trạng
phải mặc nhiên chấp nhận. Nhưng đó cũng là một thực trạng chung, một
cộng nghiệp cho tất cả người dân ở miền Nam. Điều ǵ đă đem đến một
nghiệp báo ghê gớm như vậy cho cả một dân tộc, phải chăng cũng từ do
gốc Tham, Sân, Si của một số người lănh đạo?
Thời gian qua, cha mẹ
tôi cũng từ giă căn nhà ở Tân Định để đi định cư tại Mỹ. Cả một đời
làm việc, xây dựng sự nghiệp, cuối cùng cũng chỉ c̣n là mây khói.
Đă bao lâu rồi, khi
nhớ lại căn nhà ở Tân Định, tôi thường có một cảm giác bồi hồi, xót
xa, thương cho căn nhà, thương cho cuộc đời truân chuyên dạo ấy.
Căn nhà ấy, về tay những người lạ sau này, nghe nói đă được sửa lại
toàn diện, chẳng c̣n một chút ǵ dấu vết ngày xưa. Căn nhà ấy đă
chết đi, theo thời gian, theo sự ra đi của chúng tôi, để biến thể
thành một căn nhà khác không c̣n chút dính líu liên hệ.
La temps a passé
et me revoilà
Cherchant en
vain la maison que j ’aimais…
Là où
vivaient des arbres, maintenant la ville est là,
Et la maison,
où est-elle, la maison où j’ai grandi?
(Thời gian qua, tôi
lại về chốn cũ
T́m
ngôi nhà xưa yêu dấu, nhưng chẳng thấy đâu
Nơi có
vườn cây xanh trước kia, nay chỉ là đường phố
Ôi c̣n đâu?
căn nhà xưa tôi đă lớn lên!)
Ba mươi năm sau, nghe
lại bài hát Kaze, tôi bỗng nhận ra ư nghĩa trong bài hát này không
chỉ áp dụng trong một thời điểm nào của cuộc đời mà c̣n tiếp tục măi
măi, không bao giờ dứt.
Hito wa dare mo
koi o shita setsunasa ni
Hito wa dare mo
taekirezu furikaeru
Hito wa dare mo
jinsei ni tsumazuite
Hito wa dare mo
yume yabure furikaeru
Nani ka o motomete,
furikaete mo
Soto ni wa
tada kaze ga fuite iru dake
Phải, chúng ta sinh ra là đă bắt
đầu một cuộc hành tŕnh, một cuộc viễn du vô tận, mà khi mệt mỏi
không biết đâu là nhà để trở về. Trong cuộc hành tŕnh ấy, có những
lúc vui mừng phấn khởi, có những lúc thất vọng cay đắng, có lúc yêu
thương, có lúc giận hờn, nhưng tất cả rồi cũng qua đi, và từ đầu đến
cuối chúng ta chỉ là một bóng h́nh cô đơn, có măi măi quay trở lại
kiếm t́m cũng chỉ nghe tiếng gió mà thôi.
Ngôi nhà cho chúng ta
trở về, chẳng phải là ngôi nhà xây bằng gạch, bằng ngói, chẳng phải
là ngôi nhà chúng ta đă chắt chiu dành dụm để mua cho bằng được, rồi
sửa sang, làm đẹp cho thêm hănh diện với đời; ngôi nhà vật chất ấy
chỉ là chỗ trú tạm thời cho chúng ta trong một giai đoạn của cuộc
đời, rồi cũng theo vô thường mà trở về với vô thường. Ngôi nhà thực
sự là nơi cho chúng ta an trú dù bất cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào,
mà khi trở về đó ta cũng đều được sự an b́nh, tự tại. Ngôi nhà ấy
vẫn ở trong chúng ta, nhưng ít khi ta nhận ra được điều đó. Chỉ khi
nào lắng dịu hết tâm tư, như mặt hồ yên lặng trong suốt nh́n thấy
đáy, và cảm nhận sự an lạc trong trạng thái tĩnh lặng ấy, chắc ta
mới nhận ra được đâu là nhà thực sự của ḿnh, và mới có tâm trạng
của người vừa được trở về.
Phải chăng lúc đó ta
mới có thể tự nói với chính ḿnh: “Welcome home!”
Ngọc
Bảo
(Mùa thu, tháng 10- 2004)
|
|