|
|

NHƯ
THỊ ĐÔN HOÀNG
Tôi
được biết về Đôn Hoàng nhờ đọc quyển “Tuyệt Quán Luận” đầu tiên do
ông Vũ Thế Ngọc dịch. Tuyệt Quán Luận là một bản văn thiền cổ ư
nghĩa rất thâm thúy, có tính cách “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh
thành Phật”, trong đó mỗi lời trao đổi của hai thầy tṛ với nhau là
mỗi lời khai thị, mà ta phải nghiền ngẫm thật kỹ lưỡng. Bản văn cổ
này được t́m ra khi người ta khám phá trong những hang động ở Đôn
Hoàng, một vùng núi hẻo lánh ở biên cương nước Trung Hoa trên con
đường tơ lụa, có chứa cả một kho tàng vô giá về văn chương, mỹ thuật,
tôn giáo v.v… thời cổ đại.
Đôn Hoàng
đối với tôi cũng chỉ là một ư niệm mơ hồ, một địa điểm thật xa vời
mà chắc cả đời tôi sẽ không bao giờ có dịp thăm viếng. Thế nhưng
trong
mùa hè
năm 1916,
bảo tàng viện Getty có một cuộc triển lăm đặc biệt về Đôn Hoàng, và
khi biết tin đó, tôi
đă
tự nhủ rằng không thể nào bỏ qua dịp này.
Bảo tàng
viện Getty chiếm cả một vùng đồi rộng lớn ở phía Bắc Los Angeles, do
ông J Paul Getty, một tỷ phú dầu hỏa lừng danh nhất nước Mỹ đă lập
nên như một đóng góp lớn lao đối với đất nước. Bảo tàng này trưng
bầy những tác phẩm nghệ thuật do ông Getty thu thập được từ khắp nơi
trên thế giới, trong đó có những bức họa danh tiếng của Van Gogh,
Rembrandt, Monet, Renoir v.v… Điểm đặc biệt là người đến thăm không
mất một lệ phí nào, chỉ phải trả tiền parking. Từ chỗ đậu xe, người
ta vào một trạm xe tram để lên đến đỉnh đồi. Ra khỏi xe tram, phải
đi lên những bực thang dài mới đến được ṭa nhà bảo tàng viện. Những
bảo vật được phân loại trưng bầy trong nhiều khu vực khác nhau, nếu
muốn xem thật kỹ phải mất rất nhiều th́ giờ, nhưng đến đây mà không
ngoạn cảnh khuôn viên ở ngoài th́ là cả một sự uổng phí. Vị trí trên
đỉnh đồi cho ta thấy được toàn cảnh thành phố Los Angeles phía dưới,
trải dài đến tận chân trời. Từ ṭa nhà bước ra sân có những con
đường nhỏ quanh co dẫn tới khu vườn ngoạn mục phía dưới, với hồ nước
ở giữa và đủ mọi thứ kỳ hoa dị thảo chung quanh. Trời xanh, mây
trắng, không khí thoáng mát khiến người ta cảm thấy nhẹ nhàng thoải
mái, tưởng chừng như đă bỏ lại phía dưới những mối ưu tư vướng bận
hàng ngày.
Ra khỏi
trạm xe tram, đập vào mắt tôi ngay là một bức họa Phật lớn mầu sắc
mờ nhạt trên một căn nhà tiền chế dài như h́nh ống, ở trên có đề chữ
“Triển lăm Đôn Hoàng”. Hóa ra cuộc triển lăm không ở trong ṭa nhà
chính, mà ở trong căn nhà tiền chế trông nhỏ bé khiêm nhường như cái
nhà kho, khiến tôi hơi thất vọng. Nhưng hàng người chờ đợi cũng khá
đông, và khách vào xem cũng phải
giới hạn
theo giờ sắp xếp, nửa tiếng mới có được một lượt vào.
Khi
tới lượt bước vào trong, mới thấy đây là cả một công tŕnh thật tỉ
mỉ công phu, dàn dựng lại một số hang động có nhiều h́nh ảnh nguyên
vẹn nhất của các động Mạc Cốc ở Đôn Hoàng, điển h́nh là hang động số
275, 285, 320 và 45. Những căn pḥng mờ tối có không gian chật hẹp
như trong hang động, chung quanh bốn bức tường, và cả trên
trần
là những h́nh vẽ Phật, Bồ Tát, thiên nhân, những hoa văn như những
bức thảm, có những bức vẽ mang mầu sắc Ấn Độ hay Tây Tạng như trong
các mạn đà la, cho thấy ảnh hưởng Phật Giáo Ấn Độ và Tây Tạng trong
vùng, lúc ấy c̣n là lănh địa của Tây Tạng . Một số bức tượng Phật,
bồ tát cao hơn người thật, có bộ mặt thật sống động, tỏa ra một uy
lực trang nghiêm. Có thể nói, bước vào những hang động này như lạc
vào một thế giới huyền ảo tâm linh thật đẹp đẽ và đầy nghệ thuật.
Trong một khu vực khác của bảo tàng viện, có những tác phẩm văn hóa
được trưng bầy như những bức họa, bức thêu, những bản văn cổ và kinh
sách của nhiều tôn giáo với văn tự khác nhau từ các vùng Đông Á cho
đến Tây Á và Trung Đông. Một bản kinh Kim Cương được ấn bản từ năm
868 đặc biệt gây chú ư đến người xem, v́ đó là quyển kinh đầu tiên
có ghi chú thời gian.
Truyền thuyết kể rằng, Đôn Hoàng thành phố biên cương hẻo lánh là
một ốc đảo ở vùng sa mạc Gobi đă có lịch sử đến hơn 2000 năm, nhưng
những hang động nổi tiếng th́ măi sau này mới được thiết lập. Vào
khoảng năm 366, có vị ḥa thượng hiệu là Lạc Tôn vân du đến núi Tam
Nguy phía Nam thành Đôn Hoàng. Lúc ấy trời đă sắp tối, nhưng ḥa
thượng vẫn chưa t́m được chỗ nghỉ. Thất vọng, ngài dơi mắt nh́n ra
xa, bỗng thấy trên đỉnh núi trước mặt ánh sáng như hào quang phát ra
rực rỡ. Ḥa thượng vui mừng cho đó là điềm chư Phật thị hiện cho
biết đó là nơi thánh địa. Từ đó ngài ở lại hóa duyên, quyên số tiền
lớn nhờ người khai mở các hang động, lập những ngôi chùa lớn nhỏ ở
trong hang núi. Đến đời nhà Đường, Đôn Hoàng đă nổi tiếng là một
thánh địa Phật giáo với hơn 1000 thạch khu, cho nên cũng được gọi là
Hang Động Ngàn Vị Phật (Thiên Phật Động).

Từ một nơi gió cát xa xôi trong vùng sa mạc hẻo lánh, Đôn Hoàng trở
thành một địa điểm du lịch nổi tiếng nhờ những di sản Phật giáo để
lại. Nhưng những cổ vật quư giá khi được khám phá vào đầu thế kỷ thứ
20 đă bị phát tán phần lớn vào tay những nhà khảo cổ Âu Châu, và
được trưng bầy trong bảo tàng viện ở Anh và Pháp. C̣n lại chơ vơ
cùng tuế nguyệt là những bức vẽ trên vách và các bức tượng trong
hang động. Trải qua bao nhiêu năm được bảo quản trong những hang
động đóng kín, khi được khai mở và tiếp xúc với không khí bên ngoài,
với thời tiết khắc nghiệt của vùng sa mạc, cũng như đông đảo người
đến chiêm ngưỡng, những di sản quư giá này đă dần dần bị hủy hoại
rất nhiều, khiến giới chức thẩm quyền phải t́m phương cách sửa chữa
và bảo tŕ, với sự cộng tác của các chuyên viên bảo tàng viện
Getty. Một trong những biện pháp đối phó là đóng cửa một số hang
động nổi tiếng, và tạo dựng những hang động giả ở ngoài sao chép lại
y nguyên như những hang động thật để cho khách thập phương đến thăm
viếng. Những hang động được triển lăm ở bảo tàng viện Getty là
những hang động sao chép đó. Tuy là hang động “giả”,
nhưng những họa phẩm trên vách được các nghệ nhân vẽ lại thật tỉ mỉ,
tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời không khác ǵ bản chính.
Theo
video giới thiệu được tŕnh chiếu trong cuộc triển lăm, đạo Phật
không đặt nặng vấn đề phân biệt xuất xứ bản gốc hay bản sao như các
tác phẩm khác được trưng bầy trong bảo tàng viện, nên sự tạo lập
những hang động “giả”
cũng là một cách “tùy duyên bất biến” để truyền đạt lại những nét
đặc sắc của hang động thật, khi sự thăm viếng những hang động này
không c̣n khả thi nữa. Có thể đó cũng là một cách biện hộ cho những
việc làm tái tạo của một đất nước chuyên môn sản xuất đồ giả, để rồi
“lộng giả thành chân”. Tuy nhiên khi vào xem cuộc triển lăm, dù
biết đây là những hang động giả, người xem vẫn bị cuốn hút bởi những
nét vẽ tinh vi, những mầu sắc và hoa văn hài ḥa diễn tả lại các
h́nh ảnh Phật Bồ Tát và thiên nhân, như ở trong một thế giới lung
linh huyền ảo, với những bức tượng tuy đổ nát một phần nhưng vẫn tỏa
ra đầy uy lực trang nghiêm. Tôi nghĩ đến những nhà sư Tây Tạng khi
tạo ra một mạn đà la vẽ phong cảnh cơi giới Phật với những hạt cát
đủ mầu là cả một quá tŕnh công phu tu tập, với sự chú ư tập trung
nhất mực để phóng ra những h́nh vẽ chi tiết cảnh giới an lành đẹp
đẽ, những nét từ bi tự tại của Phật Bồ Tát. Sự chú tâm nhất mực đó
đă đưa nhà sư vào trong cảnh giới Phật, thanh tịnh hóa thân tâm và
gợi lên niềm hỷ lạc, như khi đạt đến mức nào đó trong công phu thiền
tập. Những nghệ nhân khi trầm ḿnh trong các bức họa nơi hang động
để vẽ lại những nét mặt, cử chỉ của Phật Bồ Tát, phải chăng cũng
được sự chuyển hóa nơi tâm khi t́m cách chuyển tải lại cái hồn sống
động của những bức họa cảnh giới thần tiên ấy của chư Phật. Nếu một
bản sao được tạo dựng với biết bao tâm huyết để diễn tả lại trung
thực bản chính và gây ấn tượng cho người xem, th́ bản sao ấy cũng có
khác ǵ bản chính. Nếu không có tâm hướng Phật, dù đứng ở giữa hang
động sa mạc Đôn Hoàng cũng chẳng đem lại ấn tượng ǵ sâu đậm. C̣n đă
có tâm hướng Phật th́ dù đứng trước hang động nhân tạo cũng vẫn cảm
nhận được ḷng thành của người xưa. Điều quan trọng là tinh thần
được truyền đạt, không phải là h́nh thể vật chất, hay nói cách khác,
ở nơi tâm, không phải nơi tướng.
Tất cả những hiện tượng vật chất được tạo nên rồi sẽ bị hoại diệt.
Vô thường là lẽ tự nhiên của tất cả mọi pháp. Đó là điều các vị lạt
ma Tây Tạng muốn nhấn mạnh, khi các ngài sẵn sàng hủy hoại không một
chút thương tiếc công tŕnh mạn đà la đă được hoàn tất. Đức Phật
nói: “Mọi h́nh tướng đều là hư vọng”. Những ǵ do duyên hợp tạo
thành đến một lúc nào đó sẽ phải tan ră với thời gian. Trường đại
học Nalanda ngày xưa uy danh là thế, đă từng đào tạo biết bao bậc
hiền thánh tăng, ngày nay chỉ c̣n là cái nền gạch đá. Những bức vẽ
và tượng Phật được dựng lên một ngày nào đó rồi cũng hoại diệt.
Nhưng Pháp do Đức Phật giảng nói bao giờ cũng như vậy, không suy
suyển, không thêm bớt, v́ Pháp là chân lư của đời sống, không có
khởi đầu không có chấm dứt. Dù ngàn xưa hay ngày nay, sự hiểu biết
chân lư của con người cũng là như vậy, không có ǵ thay đổi. Và một
khi đă hiểu rồi, đă sống được với chân lư ấy rồi th́ không cần phải
chấp vào những h́nh thức lễ nghi hay lời nói phương tiện nữa. Cho
nên Đức Phật nói: “Bốn mươi năm nay ta chưa từng nói Pháp” và “Ngay
cả Pháp cũng phải buông, huống ǵ là không phải Pháp”. Tinh thần
phóng khoáng có một không hai ấy đă giúp đạo Phật luôn giữ được bản
chất uyên nguyên dù trải qua bao nhiêu thế kỷ, bao nhiêu nơi chốn
khác nhau, không bị trói buộc trong những dính mắc của giáo điều như
các tôn giáo khác.
Chuyến đi thăm cuộc triển lăm Đôn Hoàng này bỗng làm tôi liên tưởng
đến khái niệm Như Thị trong đạo Phật. Thế giới sum la vạn tượng này
thật là muôn mầu muôn sắc, muôn cảnh muôn vật, nhưng dù mang h́nh
thể hay xuất xứ khác nhau, tất cả đều có một thể tánh Không như
nhau, đều ở trong sự chi phối của quy luật tự nhiên Thành Trụ Hoại
Không, sinh lăo bệnh tử. Sự thấy biết Tánh và Tướng đồng nhất ấy gọi
là Như Thị, vượt ra ngoài lư lẽ luận bàn.
Người xưa học đạo có câu:
"Khi chưa biết
đạo th́ thấy sông là sông, núi là núi.
Khi bắt đầu học đạo th́ thấy sông chẳng
phải là sông, núi chẳng phải là núi.
Khi ngộ đạo rồi th́ thấy sông vẫn là sông,
núi vẫn là núi."
Tôi chợt nhớ đến một ngôi chùa quen, trong khu vườn đầy bóng mát
thanh tịnh những hoa giả được gắn vào các cây thật, nh́n xa cứ tưởng
là hoa thật. Hỏi đến th́ ḥa thượng nói là “sắc bất dị không, không
bất dị sắc”, hoa thật hay hoa giả ǵ cũng đều huyễn hóa như nhau,
đâu có ǵ khác biệt. Có lẽ đó cũng là một loại “Như Thị Đôn Hoàng”
chăng?
Ngọc Bảo
Mùa Hạ 2017
|
|