|

Đọc Mùi Hương
Lan của Ngọc Bảo
Viên Linh
Phát biểu về một cuốn sách cho để đúng với cuốn sách không phải
là một điều dễ, và cho đúng với ḷng ḿnh lại càng khó hơn.
Tuy vậy tôi đă đọc Mùi Hương Lan của Ngọc Bảo một cách thận trọng,
bởi v́ sau khi liếc qua một vài ḍng, đọc được độ hai trang, th́
trước hết thấy cuốn sách không có lỗi chính tả (thật ra khi đọc
khoảng sáu bẩy chục trang, người để ư cũng thấy đâu hai lỗi, như ở
trang 103, 106). Phải cẩn thận là v́ không đọc trang nào th́ thôi,
đọc th́ mới thấy tác giả viết rất kỹ càng, mà một tác giả viết kỹ
càng, trước hết là một người suy nghĩ chín chắn.
Người ta không thể không trận trọng trước một ng̣i bút chín chắn.
Nhưng tôi không nói về cả cuốn sách, v́ cô viết kỹ như thế, tôi
chỉ xin nói về hai bài trong 19 bài mà thôi. Nếu tôi nói sai là chỉ
sai 2 trong 19, tránh trường hợp sai 19/19 th́ khó coi lắm.
Cũng xin không nói về những bài có tính cách luận thuyết về Phật
pháp, hay Phật tính, dù chỉ từng đoạn. Đọc sách Phật, kinh Phật, con
người độc giả không có cơ duyên khó gặp được điều hay, càng không
giác ngộ được ǵ. Nói chuyện Phật nơi cửa Phật th́ quả là điều tôi
không dám.
Truyện làm cho tôi lưu tâm nhất chính là truyện Bài Học Cuối Cùng,
tác giả viết về gia đ́nh của cô. Câu chuyện kể dài đến 15 trang giấy
in chữ khổ mười, mà t́m măi không thấy một chữ xưng “tôi”. Cái tôi
biến mất trong văn chương Ngọc Bảo. Là người điểm sách cho tờ báo
của ḿnh, mỗi số báo một mục điểm sách, điểm từ sáu, bẩy, đến mười
cuốn, qua 150 số báo đă điểm cả ngàn cuốn sách trong 12 năm nay, tôi
có thể nói, có cả những nhà văn tên tuổi viết vừa sai chính tả, câu
cú, mà nhiều khi chỉ trong năm sáu ḍng, ḍng nào cũng có chữ nói về
tôi. Viết chuyện về gia đ́nh ḿnh mà tránh được chữ “tôi”, tránh
xưng “tôi”, tác giả Mùi Hương Lan đă làm chủ cảm xúc, cân bằng tâm
trí, gọi tên từng loại cây, loại hoa, và làm chủ ng̣i bút của ḿnh
một cách xuất sắc.
Truyện này là điển h́nh cho cuộc sống của một gia đ́nh Việt Nam
di cư từ Hải Pḥng vào miền Trung, đời sống trong hai tỉnh lớn của
miền Trung, Đà Nẵng và Nha Trang, rồi vào Saigon, rồi tan nát trong
cảnh anh chị em người th́ đi tù cộng sản, người th́ vượt biển t́m tự
do, một bà mẹ - bà mẹ Việt Nam điển h́nh - thuộc cấp cao trong xă
hội, “một nữ nhi trong gia đ́nh nho giáo nền nếp”, cuối cùng phải mở
cánh cổng sắt thuộc khu sang trọng của Saigon, biến nhà ḿnh thành
nơi bán kem, bán nước đá để giúp gia đ́nh sống c̣n, tồn tại qua
giông băo 1975 mà tác giả gọi là cái Cộng Nghiệp của đất nước Việt
Nam, cho tới khi tất cả tới được bến bờ tự do. Tại đây chưa phải là
hết. Phần hai của câu chuyện là về đời sống lưu vong của gia đ́nh,
nhất là ở San Diego.
Tới phần chót tác giả mới nói nhiều về ḿnh, lại chỉ nói về Bài
Học Cuối Cùng cô học được từ cha mẹ, từ hai người mà “cuộc sống giản
di, không mầu mè, không giả dối và mưu toan, luôn luôn làm những
việc lương chính”. Bài học chót cô nói đến chính là “bài học của sự
chết”.
Tôi không viết về đoạn này, muốn để người đọc sau này tự t́m thấy
khi đọc Mùi Hương Lan. Chỉ xin thêm: đọc Bài Học Cuối Cùng, để hiểu
thêm về tác giả, nên đọc thêm bài Trở Về Mái Nhà Xưa, 13 trang.
Truyện này thuật lại cuộc sống thời thiếu nữ của tác giả, khi ở
Nhatrang, từ lúc học trường Bà Sơ Trắng, qua Bà Sơ Đen, tới khi đi
xem phim Quan Âm Thị Kính ở rạp Minh Châu lúc gia đ́nh ở Nhatrang,
là tấm ḷng, tâm hồn của cô chuyển hướng, tự ư đ̣i mẹ cho gia nhập
sinh hoạt Gia Đ́nh Phật Tử! Đọc truyện này rất vui, khi cô nói
“buông… đạo Thiên Chúa, lập địa nguyện thành Phật” (chứ không phải
buông dao thành Phật) như chuyện ông hàng thịt buông dao bỏ nghiệp
sát sinh thuở xưa…
Đó là những ghi nhận của tôi khi đọc hai truyện trong cuốn Mùi
Hương Lan. V́ chỉ đọc hai truyện, tôi không biết ǵ hơn. Nhưng nếu
phải nói một câu về ng̣i bút của Ngọc Bảo, th́ tôi may mắn được đọc
sách của cô, để thấy rằng, trong những ng̣i bút nữ giới ở hải ngoại,
không phải chỉ có thế. C̣n có một người mà khi viết, dù là sáng tác,
vẫn dẫn chứng đầy đủ nguyên bản, không kể kiến thức của ḿnh mà
người đọc thấy kiến thức tác giả ở từng trang giấy, người đó là Ngọc
Bảo.
Viên Linh
Thứ bẩy Jan 10- 2009

Ghi chút nỗi
niềm
( Bài phát biểu của Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả
nhân ngày ra mắt sách MÙI HƯƠNG LAN
của Ngọc Bảo ngày 10 tháng 1- 2009 tại chùa Bảo Quang)
Kính bạch Chư Tôn Đức
Kính thưa toàn thể quư vị
I- NHÂN DUYÊN CHẰNG CHỊT
Hôm nay chúng tôi lên đây để phát biểu về cảm nghĩ của ḿnh khi
đọc qua tác phẩm “Mùi Hương Lan của nhà văn Ngọc Bảo là do nhiều
nhân duyên lôi kéo:
- Trước hết là chùa Bảo Quang, nơi có những sinh hoạt văn hóa đầy
phẩm chất Việt Nam, đồng thời thầy trụ tŕ là nhà thơ Thanh Trí Cao,
người đă quy y cho cô Ngọc Bảo.
- Thứ hai là sự tế nhị lôi kéo của người bạn đạo Tâm Zen muốn tôi
nói một chút ǵ về công tŕnh của tác giả khi đă đọc qua để ủng hộ
một nhà văn nữ.
- Thứ ba là chính tác giả mà tôi đă được quen biết trong sinh
hoạt Phật giáo gần chục năm nay. Cô đă nhiều lần đến phát biểu và
tham dự các buổi pháp thoại tại Đạo tràng Hoa Nghiêm chùa Liên Hoa
trước đây do tôi hướng dẫn. Rồi tiếp theo được đọc các bài của cô
trên báo Trúc Lâm và nghe tiếng cô nói trên chương tŕnh phát thanh
Tiếng Từ Bi của chùa Liên Hoa, và đặc biệt học hỏi vài tác phẩm mà
cô dịch chung với Ni sư Thuần Bạch khiến tôi rất là thán phục và
ḷng đă bảo ḷng là cô này thuộc loại “Đàn Bà Dễ Có Mấy Tay” đây.
Đó là ba lư do khiến hôm nay tôi có mặt ở hội trường này để nói
vài lời tâm sự.
II- NH̀N THEO CHỈ QUÁN
Tôi nhận được tác phẩm “Mùi Hương Lan” ba ngày trước lễ Giáng
Sinh, sau khi tác giả điện thoại mời tham dự buổi ra mắt sách, hỏi
thăm sức khỏe và nếu được th́ yêu cầu phát biểu vài lời, rồi lấy địa
chỉ của tôi để gởi sách biếu. Trước thịnh t́nh đó khiến tôi dù đang
dưỡng bịnh sau khi mổ nhiếp hộ tuyến cũng không nỡ ḷng từ chối sự
yêu cầu.
Khi có tác phẩm trên tay, tôi lật ngay mục lục để xem bố cục, nội
dung và đọc ngay “Lời giới thiệu” của thầy Quảng Thanh, lời mở đầu
của Tác giả, sau mới vào vườn xem hoa. Tôi không đọc theo thứ tự của
cuốn sách do người viết sắp đặt, mà coi trước nhưng bài nào đầu đề
hấp dẫn đối với tôi, để t́m ư qua lời và t́m tác giả qua tư duy diễn
đạt.
Tôi thấy tuyển tập này ghi lại những nét tư duy, những niềm tâm
sự của tác giả vào mỗi độ thời gian, mỗi khoảng không gian trong
cuộc sống, có những hoài niệm, những ư tưởng chợt đến, những quán
chiếu về sự t́nh, nhưng vượt lên trên tất cả là “nh́n đời qua đạo”
của một hành giả đi vào đời.
III- THẤY MỘNG GIẢI MÊ
Bài đầu tiên mà tôi t́m đọc là “Phật Pháp ở đâu?” trang 113 ghi
lại cảm nghĩ của tác giả khi xem một cuốn phim tài liệu của một khoa
học gia người Nhật nói về đời sống các sinh vật, kể cả con người. Mở
đầu từ một shopping mall của Mỹ, rồi đi khắp năm châu bốn bể, theo
lời tác giả. Đặc biệt là trong cảnh thương xá lớn đó, đầy sự náo
nhiệt và bận rộn của những người mua sắm, lại có cảnh các vị Lạt Ma
Tây Tạng đang b́nh thản thiết lập một Mandala bằng cát nhiều mầu về
thế giới Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Đây là một sự xen kẽ giữa Đời
và Đạo, giữa thế tục và tâm linh. Sau khi đưa người xem đi khắp cả
với những phân tích khoa học về đời sống để nói lên cái hiện tượng
tương quan của sự sinh tồn, biến dịch và hoại diệt, rồi sau cùng lại
trở về thương xá ồn ào, náo nhiệt để thấy các vị sư Tây Tạng xóa
Mandala biểu tượng của cảnh giới A Di Đà. Ai là người t́m hiểu về
Mật Tông mới thấu được ư nghĩa của vũ trụ và nhân sinh, tâm và vật,
hiện tượng và bản chất cuộc đời thế tục và cảnh giới tâm linh, cuối
cùng vẫn là “giải mê trong mộng” qua Mandala nhiệm mầu.
Tác giả đă dùng phần sau của bài này để nói về Pháp, về Tánh
Không, về tâm và pháp với những kiến thức cần biết để thực hành, để
nhập pháp và thấy Phật. Bài viết như tải Đạo, như hé mở con đường,
nhưng mỗi hành giả đi đến đâu th́ tự biết.
Bài kế tiếp tôi đọc là “Tự Tại trong Bát Nhă”, đó là bài tác giả
viết cho Đạo tràng Hoa Nghiêm để tŕnh bầy cùng thính chúng, trong
đó có tôi. Chỉ xin ghi lại bài thơ của Ryusai mà tác giả dịch như
sau:
Không là tên của Tánh Không
Là tên gọi cái không thể nắm bắt
Tên của đất trời và của núi sông
Cũng c̣n được gọi là Thực Tướng
Trong mầu xanh của những hàng thông
Những bụi cây um tùm quấn quít
Chẳng có ǵ đến, không ǵ đi
Trong mầu đỏ thắm của sắc hoa
Và mầu trắng tinh của bông tuyết
Chẳng có ǵ sinh, không ǵ diệt.
Đó là những lời sâu sắc nhất để tả về Bát Nhă.
IV - TÂM SỰ MANG MANG
Tôi ngưng đọc những bài về Phật pháp và quay qua t́m xem những
hoài niệm và tâm tư của tác giả trong bài “Trở Về Mái Nhà Xưa” trang
100. Tôi thích nhất hai đoạn thơ phổ nhạc do Francoise Hardy hát,
trang trải t́nh cảm mà tác giả ghi lại, giúp tôi ôn mớ tiếng Pháp đă
cùn, như sau:
Quand je me tourne vers mes souvenirs
Je revois la maison où j’ai grandi
Il me revient des tas des choses
Je vois des roses dans le jardin
Tác giả đă dịch như sau :
Khi hồi tưởng những kỷ niệm qua
Tôi thấy ngày xưa lớn lên trong ngôi nhà
Thấy bao điều trăm nhớ ngàn thương
Thấy vườn hoa thắm những đóa hồng
Và tiếp theo :
Mais tout doit finir pourtant dans la vie
Et j’ai du partir, les larmes aux yeux…
Quand j’ai quitté ce coin de mon enfance
Je savais déjà que j’y laissais mon cœur
Tác giả dich :
Nhưng rồi tất cả đều chấm dứt trong cuộc đời
Và tôi phải ra đi, lệ tràn trên mi….
Khi xa rời nơi chốn ấy của tuổi thơ
Tôi đă biết rằng, ḷng tôi không phai mờ
Đây là tất cả những u uất hoài niệm của tác giả về thời thơ ấu,
về ngày xưa cũ, đă nói lên niềm tâm sự mang mang của tác giả khi
nghĩ đến đời sống đă trải qua.
V - CON ĐƯỜNG ĐĂ MỞ
Những tâm sự đầy vơi vừa kể trên chỉ là những nét chấm phá của
bức tranh đời hay là những ấn tượng trong cuộc hành tŕnh của tác
giả. Nhưng kể từ khi nương tựa Phật, quy y tại Bảo Quang th́ dường
như tâm thức chuyển ḿnh, tác giả đang đi vào một con đường mới. Tôi
đọc bài « Có Phải Là Bồ Tát » để thấy tinh thần dấn thân vào đời,
vào cuộc sống khi « Đạo Đời là một » trong ư nghĩa « Đạo chẳng
thể ĺa Đời mà giác ngộ ».
H́nh ảnh của chú Ngộ Minh trong truyện là một đồng tử sống rất
hồn nhiên, đến để phá chấp, để làm quân b́nh nếp sống đóng khung của
thiền viện Hằng Thiên, làm nổi lên cái « bất lập văn tự, giáo
ngoại biệt truyền » của nhà Thiền. Nhưng khi Ngộ Minh đi rồi hỏi
trong thiền viện mấy người đổi thay ? Viện chủ sao vẫn cần t́m dấu
tích ?
Ngộ Minh là kẻ đói th́ ăn, mệt th́ ngủ « không bị thanh quy trói
buộc, tự nhiên như nhiên, nên khác mọi người, rồi trở thành nổi bật,
trở thành hiện tượng. Khi đến trước mặt Vua cũng không thay đổi,
không sợ sệt. Ngay giữa triều đ́nh mất mạng như chơi mà dám «
tuyệt đường ngôn ngữ » lẳng lặng ra đi vào chốn nhân gian cát
bụi ! Đó là mở ra con đường và Ngộ Minh trở thành « Diệu Minh » «
vào Đời sống Đạo » quên ḿnh v́ người, làm lợi ích chúng sinh.
Khi hành giả biết sống v́ mọi người th́ danh xưng Bồ Tát cũng chỉ là
giả danh mà thôi !
VI – HĂY CÙNG NHAU ĐI
Bài sau cùng tôi đọc là bài « Lăo và Phật » mang nhiều ấn tượng
và khiến tôi tâm đắc nhất. Tôi có cảm tưởng như cùng đi vào chốn bao
la, vào thời gian vô tận và không gian vô biên, vào chỗ vô thường
mà thấy hằng thường khi đầu sào tiến thêm một bước.
Nói chuyện đầu sào thêm một bước khiến tôi nhớ đến bài thi kệ :
Đầu sào trăm thước đứng vững chân
Tuy ngộ nhưng chưa rơ lư chân
Đầu sào trăm thước thêm một bước
Mười phương thế giới hiện toàn thân
của Thiền sư Cảnh Sầm, mà tôi rất thích về tinh thần phóng khoáng.
Tôi xin kể tinh thần khoáng đại của Ngài. Một sáng khi Ngài đi thiền
hành về, thầy thủ tọa hỏi :
- Ngài đi đâu về đó ?
Đáp : - Du xuân trên đỉnh núi
Thủ toạ hỏi :
- Đến những nơi nào ?
Ngài đáp :
- Lần theo vết cỏ non đi
Nghe tiếng hoa rơi gọi trở về
Thủ tọa cười :
- Giống mùa xuân quá.
Ngài đáp :
- Cũng giống « sương thu đọng giọt sầu ».
Câu trả lời này nói lên rằng trong cái thế giới « trùng trùng
duyên khởi » này xuân thu chỉ là hiện tượng. Cỏ, hoa, sương đọng
là những nét đẹp tự nhiên mà thôi, xin đừng thành kiến, mà hăy sống
thường nhiên, tự tại.
Bài này cũng là bài kết, đóng lại tác phẩm. Nó ghi thời điểm mới
nhất, tháng 8-2008 và cũng đánh dấu mức nông sâu về tiến tŕnh tư
duy của tác giả. Tôi không muốn bàn nhiều, không phân tích, phê b́nh
bài này. Xin để cho độc giả vào vườn xem hoa, rồi nhận định. Với tôi
th́ « Hương Lan » đă tỏa rồi sẽ bay xa.
VII - KẾT LUẬN
Tôi xin dừng lại nơi đây, sau khi vừa thoáng nh́n qua, chỉ điểm 5
bài trong gần hai chục.
Xếp sách lại rồi, tôi bắt đầu ngắm nó, nh́n b́a trước, lật b́a
sau để thêm tâm cảm. Với trang b́a trước : nh́n ba bông lan đỏ cùng
hai nụ trắng trong một nền đen, khiến tôi liên tưởng tới trong đêm
dài sinh tử hay trong vô minh đen tối mà hoa tâm vẫn nở, tỏa ngát
hương thơm. Bỗng tôi chợt hứng mà làm bốn câu thơ « Nh́n h́nh gợi ư
» như sau :
Trong đêm vô minh dầy đặc
Có một cành lan vừa nở
Hương thơm vô t́nh tỏa ngát
Ô ḱa … đời thật hay mơ!
Lật b́a sau, tác giả ghi lại bốn câu thơ của thi hào Lư Bạch, có
sự so sánh giữa Lan và Tùng. Với Lan th́ mỏng manh mà tỏa hương thơm
ngát, c̣n Tùng th́ đứng sừng sững xanh tươi giữa đất trời. H́nh ảnh
đẹp, thật tự nhiên. Nhưng nếu tôi là họa sĩ hay thi sĩ th́ tôi sẽ
thêm một con bướm đẹp đậu trên cành lan để cho sống động và thêm
nhánh cây tầm gửi trên thân Tùng già để ẩn ḿnh nghe gió, ăn sương,
nói lên sự cộng tồn trong cuộc sống luôn trôi chẩy…
Để chấm dứt bài phát biểu hôm nay, chúng tôi xin thành kính cám
ơn Chư Tôn Đức cùng toàn thể quư vị đă lắng nghe những lời thô thiển
vừa qua. Riêng để cám ơn tác giả đă đóng góp cho văn hóa Việt Nam
hải ngoại một tác phẩm hay bằng bài thơ với đầu đề là “Hỏi Ai” như
sau:
Hỏi ai mở ngỏ con đường
Vượt qua sông núi đầy sương phủ mờ
Hỏi ai chưa dứt mộng mơ
Nửa đời, nửa đạo bơ vơ một ḿnh
Hỏi ai t́m chuyện tử sinh
Loay hoay nh́n lại thấy ḿnh ở trong
Hỏi ai nợ trả chưa xong
Vẫn c̣n nghiệp dẫn long đong bên trời
Hỏi bao giờ dứt cuộc chơi
Để ĺa sinh tử, vào nơi an b́nh.
Trên đây chỉ là vài nét tâm t́nh “tự biên, tự diễn” của chúng tôi.
Kính xin Chư Tôn Đức và quư vị thính giả bỏ qua những vụng về, thiếu
sót, dù chúng tôi đă hết ḷng bầy tỏ.
Câu kết luận cuối cùng của chúng tôi, sau một thoáng nh́n tuyển
tập “Mùi Hương Lan” một loại sách nói “Đạo trong Đời”, tôi xin có
một nhận xét rất riêng tư và đặc biệt, đó là: “Cái hay nhất của tác
giả Ngọc Bảo là biết tự nói về ḿnh, hơn là để cho những người khác
nói!”
Xin thành kính cảm tạ Chư Tôn Đức, chân thành cảm ơn quư vị thính
giả và xin chia xẻ niềm vui cùng tác giả.
Xin kính chào toàn thể cử tọa.
California ngày 25 tháng 12- 2008 lúc 9:00 AM
MẬT NGHIÊM
|