|
|
Khúc hoài niệm
Buổi sáng chủ nhật, tôi đang theo dơi
trên truyền h́nh những hoạt náo của một cuộc bầu cử tổng thống điên
đảo có một không hai trong lịch sử, cảm thấy chán nên đổi đài. Chợt
nghe tiếng Thái Thanh vang lên trong một bài hát xưa cũ:
Đi đi anh đưa em đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em, môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Như móng sắc thương đau…
Bài hát của Phạm Đ́nh Chương, “Dạ tâm
khúc”, phổ nhạc từ bài thơ “Dạ khúc” của Thanh Tâm Tuyền. Tiếng hát
Thái Thanh nỉ non như xoáy vào hồn người những cung điệu của một
cuộc t́nh giông băo, một cuộc t́nh có vị của mật đắng, của hạnh phúc
trong thương đau, của sự gần nhau mà đă thấy xa nhau:
Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Để anh được làm thi sĩ
Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Hay nửa đêm Hà Nội
Ôm em trong tay mà đă nhớ em ngày sắp tới…
Bài hát như khúc hoài niệm đưa tôi
trở về những vùng trời xưa cũ, ngay trong ṿng xoáy không ngừng của
những biến thiên trong hiện tại. Tôi tự hỏi, không biết c̣n được
nghe những khúc hát như thế này cho tới bao giờ? Bởi v́ những tâm
t́nh diễn tả trong đó dường như đă trở thành xa lạ, lạc loài đối với
những thế hệ mới của ngày nay.
Mới đây tôi nghe tin một trung tâm
văn nghệ nổi tiếng ở hải ngoại chuyên sản xuất những video giá trị
với những gịng nhạc xưa cũ nay đă phải chuyển hướng, v́ những gịng
nhạc ấy đă trở thành “lỗi thời”, không c̣n được ủng hộ nhiều như xưa.
Thay vào đó, có lẽ là những loại nhạc mới rỗng tuếch mà tôi nghe
được qua một số chương tŕnh, loại nhạc vô hồn, vô vị, không để lại
chút dư âm ǵ, nghe một lần rồi không c̣n nhớ tới nữa, và kể cả
những giọng hát cũng không c̣n cá tính, như một sản phẩm được hun
đúc hàng loạt, cùng một ḷ với nhau.
Nửa thế kỷ đă trôi qua kể từ những
ngày xưa thân ái của một thời văn hóa nghệ thuật nở rộ trong nền dân
chủ tự do của miền Nam Việt Nam trước 1975. Nhiều thế hệ đă trôi
qua, vật đổi sao dời, làm sao tránh được những đổi thay trong khuynh
hướng thưởng ngoạn của con người. Chỉ tiếc rằng, những gịng nhạc
đầy tính chất nghệ thuật như ngày ấy giờ không c̣n nữa. Gịng âm
nhạc trong đó thơ và nhạc quyện lấy nhau, trong lời hát đă có chất
thơ, và trong lời thơ cũng đă có sẵn cung điệu của lời hát. Những
nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Đ́nh Chương, Phạm Duy, Nhật Trường, Lam
Phương v.v.. mỗi người là một ngọn núi cao vời, nổi trội với tài
năng độc đáo của riêng ḿnh. Mỗi bài hát là một tuyệt tác không chỉ
về âm điệu, mà c̣n trong từng lời trau chuốt đầy ư nghĩa. Những bài
hát như thế đ̣i hỏi một giọng ca đặc biệt có thể diễn tả được trọn
vẹn những uẩn khúc và tâm t́nh của tác giả. Làm sao ta quên được
giọng hát nức nở của Thái Thanh trong “Nửa hồn thương đau” của Phạm
Đ́nh Chương:
“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng cách xa nhau
Hay ta c̣n hẹn nhau kiếp nào…”
Hay của Lệ Thu nồng nàn trong “Ngậm
ngùi”, nhạc Phạm Duy phổ thơ Huy Cận:
“Nắng chia nửa băi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi hăy ngủ anh hầu quạt đây..”
Cũng như những nhạc sĩ, mỗi ca sĩ
cũng đều có những tài năng và cá tính nổi bật, làm chủ một lănh vực
riêng biệt cho ḿnh, không ai có thể thay thế được. Sự diễn tả trung
thực một bài hát đ̣i hỏi người hát phải cảm nhận được cái hồn trong
bài hát ấy, hiểu đời sống của tác giả như chính đời sống của ḿnh.
Những người cùng thế hệ, cùng thời đại sẽ dễ thể hiện được điều đó
hơn là những ca sĩ không cùng thế hệ, không từng sống trong môi
trường sống của nhạc sĩ sáng tác. V́ vậy, biết bao người đă hát nhạc
Trịnh Công Sơn, nhưng không giọng hát nào có được sức truyền cảm,
thu hút được người nghe như giọng hát Khánh Ly. Một vài lần, tôi đă
đi dự những buổi nhạc thính pḥng với bài hát và ca sĩ chọn lọc,
trong đó có những ca sĩ thuộc thế hệ sau đến từ Việt Nam. Những bài
hát tuyển lựa đều thuộc vào loại nhạc xưa trước 1975, những bài hát
được ưa thích gợi lại nhiều kỷ niệm. Nhưng các ca sĩ thời nay, mặc
dù hát rất hay và điêu luyện, vẫn không truyền đạt được cái hồn của
bài hát, mà có vẻ như phô trương giọng hát của ḿnh nhiều hơn, với
những chỗ ngân dài quá mức, khiến người nghe chỉ cảm thấy mệt mỏi.
Âm nhạc là một phần của văn hóa. Một
giọng hát phô trương có lẽ cũng biểu hiện phần nào một nền văn hóa
phô trương. Sự phô trương thường xuất phát từ một tâm trạng tự măn
hoang tưởng để che lấp một mặc cảm tự ty nào đó. “Hữu xạ tự nhiên
hương”, người có thực tài hay thực lực không cần phải biểu diễn hay
nói ra người khác cũng nhận biết được. Một đất nước văn minh không ở
nơi những nét hào nhoáng bên ngoài phô trương sự giầu có hay tiện
nghi, mà ở tŕnh độ văn hóa, sự giáo dục, nhân cách, và thái độ ứng
xử của dân tộc đó. Văn hóa của các nước cộng sản thường là văn hóa
phô trương, chủ yếu là khoe khang thành tích, nhưng thực chất nghèo
nàn và què quặt, v́ đó là một nền văn hóa bị kiềm chế, con người
không có quyền tự do diễn đạt những cảm xúc trung thực của ḿnh. Tôi
c̣n nhớ những năm đầu tiên sau ngày 30-4-1975, âm nhạc của miền Nam
Việt Nam bị gán cho nhăn hiệu “nhạc vàng” và bị cấm đoán nghiêm ngặt,
thay vào đó là một loại nhạc quái đản mà tôi gọi là “chim kêu vượn
hú”, một pha trộn của những âm thanh hỗn độn với những lời vô nghĩa
xách động ḷng thù hận. Sống trong môi trường của sự chỉ đạo gắt gao
một chiều đó tâm hồn con người sẽ héo hắt dần và không c̣n chút hứng
khởi, hay năng lực sáng tạo ǵ nữa.
Giữa thập niên 1980, khi đặt chân lên
đất nước Thái Lan, lần đầu tiên được thấy lại những cuốn băng
cassette “nhạc vàng” của Việt Nam trong trại tỵ nạn chuyển tiếp,
nghe lại những giọng ca quen thuộc, nỗi xúc cảm dâng trào trong tôi
thật không thể nào tả xiết; nhất là khi cùng mọi người hát bài “Việt
Nam, Việt Nam” của Phạm Duy bên lá cờ vàng năm xưa, tôi cảm thấy như
đă t́m lại được chính ḿnh.
Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói trên vành nôi,
Việt Nam nước tôi!
Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi ĺa đời
…………..
Việt Nam đây miền xinh tươi
Việt Nam đem vào sông núi
Tự do công b́nh bác ái muôn đời
Việt Nam không đ̣i xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Nền âm nhạc tự do ở hải ngoại c̣n
phát triển một thời gian, nói lên nỗi niềm của người Việt lưu vong
trong những ngày đầu bôn ba nơi xứ người khi ḷng nhớ quê hương vẫn
c̣n nặng trĩu, như những bài nói lên tâm trạng người di tản buồn của
Nam Lộc, của Việt Dũng, Nguyệt Ánh, Phạm Duy v.v.. và sau đó là
những bài hát trữ t́nh đầy tính Việt Nam của Ngô Thuỵ Miên, Nhật
Ngân, Lam Phương, Tuấn Khanh, Trầm Tử Thiêng v.v.. Trải qua bao năm,
những nhạc sĩ sáng tác cũng mai một dần với tuổi đời chồng chất, tâm
hồn ṃn mỏi, người ra đi cũng đă nhiều, người ở lại chẳng c̣n bao
nhiêu.
Vẫn biết tất cả mọi pháp đều là Không,
cuộc sống là vô thường, mọi sự đều là huyễn hóa, đến rồi đi như cơn
mộng, nhưng âm nhạc như một món ăn tinh thần thiết yếu cho sự thăng
hoa tâm hồn của con người vẫn có giá trị vượt thời gian và không
gian. Tôi tin rằng, dù bề ngoài con người có thay đổi qua bao thế hệ,
nhưng bản chất t́nh cảm vẫn là như thế, người xưa cũng như người
nay. Dù thị hiếu con người có thay đổi, nhưng những gịng âm nhạc có
giá trị thực sự đi vào ḷng người cũng sẽ vẫn c̣n tồn tại ở đó, và
dù cho có đi vào quên lăng, một ngày nào đó người ta cũng sẽ t́m lại
chúng, và có thể trong một cách nào đó chuyển biến cho thích hợp hơn
với thời đại.
Ngọc Bảo
Tháng 11, mùa thu 2016
(Vài cảm nghĩ của một người không
biết nhạc nhưng yêu nhạc)
|
|