|
|
Chuyến
hành hương không định trước
Ngọc Bảo

Có những điều không định trước nhưng
đến với ḿnh, và những điều định trước lại không đến. Đạo Phật gọi
đó là “duyên” – có duyên th́ thành, không có duyên th́ không thành.
Chuyến đi du lịch Trung Hoa lục địa vừa rồi của tôi trong mùa xuân
vừa qua chắc cũng là cái “duyên”, v́ không tính đi, không hứng thú
nhưng giờ chót lại thay đổi ư kiến. Không ngờ trong chuyến du lịch
đó lại được thăm viếng các thánh địa nổi tiếng mà nếu không đi, chắc
cả đời tôi không biết đến được.
Tứ Xuyên là một tỉnh lớn ở về phía
Tây Nam Trung Hoa. Thủ phủ của Tứ Xuyên là Thành Đô, một thành phố
cổ có lịch sử lâu dài, trước là kinh đô của nước Thục trong thời Tam
Quốc. Vùng này có nhiều cảnh đẹp của núi sông, trong đó có một nơi
nổi tiếng như tiên cảnh trần gian gọi là “Cửu Trại Câu”. Cái tên
nghe xa lạ khó đọc nhưng lại có ǵ lôi cuốn, v́ đó là một nơi tương
đối ít được nhắc đến, và ở gần biên giới Tây Tạng. Tôi vốn có cảm
t́nh với Tây Tạng, một phần v́ sự sâu xa của Phật giáo Tây Tạng và
ḷng mộ đạo của dân chúng, một phần v́ cảm thương một dân tộc hiền
lành bị mất nước vào tay kẻ xâm lăng bạo quyền.
Chuyến đi này cho tôi cái nh́n rơ hơn
về nước Trung Hoa cộng sản. Họ đă phát triển vượt bực về mặt kinh tế
với hạ tầng cơ sở mở mang vững chắc. Nếu nh́n bề ngoài với những ṭa
nhà cao tầng đồ sộ, phố xá đẹp đẽ, con người ăn mặc chỉnh tề hợp
thời trang th́ thấy không khác ǵ những nước khác ở Á Châu như Đài
Loan, Đại Hàn v.v.. Điều khác biệt là không khí dường như ngộp thở,
không chỉ v́ màn sương mù ô nhiễm thường trực bao phủ ở trên, mà c̣n
v́ sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền trên mọi mặt. Trong làn
sóng người đi qua, dường như tôi ít thấy những nụ cười rạng rỡ vô tư,
những cử chỉ thân thiện hay lịch sự. Có lẽ bởi v́ họ đă được hun đúc
trong một chế độ sắt đá, một xă hội đóng kín với nhiều khuôn phép,
nên luôn luôn phải dè dặt thủ thế, ít dám bầy tỏ những ư nghĩ cảm
xúc thực sự của ḿnh. Sự chú trọng kỹ nghệ hóa, phát triển đô thị
khiến dân chúng đổ xô về thành phố, sống chen chúc trong những ṭa
nhà cao tầng đồng dạng tẻ nhạt, xấu xí. Ngay cả ở các vùng đồng quê
hoang dă, những ṭa nhà cao tầng ngất ngưởng này cũng đang được xây
cất, đứng chơ vơ giữa trời như những cung đàn lạc điệu. Có lẽ v́
phải sống trong không gian nhỏ hẹp, ít có những món ăn tinh thần,
nên người Tầu lục địa thích đi chơi, đi du lịch nếu có phương tiện,
để thoát ra khỏi những nhọc nhằn của đời sống hàng ngày, t́m chút
huy hoàng trong phút chốc. Kỹ nghệ du lịch phát triển phần lớn cũng
đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước. Một nơi xa xôi hẻo lánh
như Cửu Trại Câu, trong một ngày trời mưa tầm tă, gió lạnh se người,
mà cũng có một rừng người nối đuôi nhau, chen vai thích cánh lên
những chuyến xe bus chật ních. Quả thật, dù cho có được cơm no áo ấm,
đời sống ở nơi “người đông của khó” này thật là vất vả, kể cả lúc đi
chơi cũng vậy.

Cửu Trại Câu vốn là lănh thổ của
người Tây Tạng, với tên gọi do người Tây Tạng đặt ra, có nghĩa là
“Thung lũng chín thôn làng”. Đó là một vùng rừng núi ngoạn mục, với
những thác nước hùng vĩ chảy xuống những hồ nước xanh biếc như ngọc,
trong suốt thấu đáy. Xa xa là những đỉnh núi tuyết mờ ảo, mây trắng
vờn quanh, khiến trời và mây trông như thật gần. Hồn thiêng sông núi
trong khung cảnh bao la kỳ vĩ của thiên nhiên cũng góp phần làm nên
cuộc sống tâm linh phong phú của người Tây Tạng, với sự thâm nhập
của ảnh hưởng đạo Phật trong đời sống. Tôi chợt nhớ đến một câu
truyện về Quan Âm trong quyển “Bodhisattva of Compassion” của John
Blofeld, trong đó khung cảnh câu truyện cũng tương tự như ở nơi đây:
“Trong một vùng xa xôi hẻo lánh thuộc
tỉnh Tứ Xuyên, nơi có những hồ nước xanh như ngọc tuyệt đẹp, có một
gia đ́nh nông dân người Hán sống lạc loài trong một khu vực đa số là
người Tây Tạng. Gia đ́nh này gồm có một cặp vợ chồng già, hai con
trai với con dâu và một bầy cháu nội. Cách đó chừng một giờ đồng hồ
đi bộ là một làng Tây Tạng nhỏ bé, có phố chợ và một ngôi chùa thờ
Quan Âm. Tượng Quan Âm này có tướng nam với nhiều đầu và tay chi
chít, trông rất uy nghi, khiến gia đ́nh người Hoa này, đặc biệt là
mấy người đàn bà, rất sợ hăi. Họ không biết đó là tượng Quan Âm, v́
h́nh ảnh trông khác hẳn với Quan Âm dịu hiền mà họ thường biết đến.
Sự bất đồng ngôn ngữ và văn hóa khiến họ thường nơm nớp lo sợ sẽ bị
những người Tây Tạng xâm phạm đến và đuổi họ đi.
Một ngày nọ, bà già và cô con dâu lấy
hết can đảm đem thịt gà, chân gị heo và rượu đến cúng bức tượng,
cho rằng bức tượng “quỷ thần” này chắc thích ăn thịt, và sẽ giúp cho
được an lành. Không ngờ, trong lúc để đồ cúng “bất tịnh” này dưới
chân tượng, họ bị một vị sư bắt gặp, tỏ vẻ giận dữ và đuổi đi. Sau
đó ít lâu trong tháng, một ngày tối trời có một nhóm người bịt mặt
tràn vào đuổi họ đi và phóng hỏa đốt nhà. Chạy trốn về tỉnh, họ đâm
đơn kiện lên quan sở tại, lúc đó mới biết bức tượng ấy chính là
tượng Quan Âm, và v́ vùng này chỉ có một nhóm nhỏ binh lính người
Hán, nên cũng không có biện pháp trừng phạt ǵ với những người Tây
Tạng.
Trong khi đó, Bồ Tát Quan Âm đang rất
giận dữ. Mùa đông năm đó thật khắc nghiệt, và những vị sư trong ngôi
chùa bỗng rơi vào cảnh thiếu thốn, túng quẫn v́ không ai đến cúng
dường, mặc dù mùa màng không bị thất thu. Họ đến tỉnh vào công đường
xin được cứu trợ, nhưng bị quan sở tại từ chối. Họ phải đi khắp nơi,
ở nhờ các thí chủ rộng răi, lang bạt hết nhà nọ đến nhà kia, nhưng
không bao giờ được cúng dường đầy đủ. Khi xuân đến, họ trở về chùa,
sửa sang lại những chỗ hư hỏng lâu ngày bị hoang phế, và sửa soạn
cho lễ hội Quan Âm sắp tới. Trước ngày lễ hội, chúng tăng cử hành lễ
sám hối, quán niệm Quan Âm. Trong khi hành lễ, họ bỗng thấy hào
quang từ bức tượng Thiên Thủ phát ra sáng chói, bức tượng rung
chuyển một cách đáng sợ, và tiếng nói như chuông đồng ngân vang quở
trách họ không biết trải ḷng từ bi vô phân biệt đến các chúng sinh,
nên đă phải chịu sự trừng phạt quả báo. V́ dù cho không đích thân
gây ra hỏa hoạn cho gia đ́nh nông dân người Hán kia, sự tiết lộ tin
tức của vị sư trong chùa cũng đă là nguyên nhân tạo nên sự việc.
Chúng tăng nghe vậy rất xấu hổ, dốc ḷng sám hối. Kể từ đó, được sự
cảm ứng với Quan Âm, các vị sư đă hết ḿnh làm những việc công đức,
ngôi chùa được vang danh với ḷng từ bi vô phân biệt của các ngài,
và những tín đồ càng ngày càng thêm đông đảo.”

Rời vùng sông núi trên cao chúng tôi
đi xuống vùng sông núi thấp hơn của Tứ Xuyên, thăm tượng Đại Phật
nổi tiếng tạc vào núi ở Lạc Sơn. Đây là bức tượng tạc lớn nhất trên
thế giới với chiều cao 71 mét, được khởi đầu dưới thời nhà Đường từ
năm 713, ở ngay trên một ngọn núi nằm giữa sông như ḥn đảo, đối
diện với thành phố. Tôn tượng Đức Phật Di Lặc ngồi bệ vệ với hai tay
trên đầu gối đă được khắc tạc suốt từ đỉnh xuống tới dưới chân núi,
khuôn mặt hiền từ nh́n xuống phía dưới như gia hộ sự b́nh an cho
những chúng sanh qua sông. Phía trước, hai bên tượng là hai tượng hộ
pháp, và phía sau là những con đường quanh co đi ṿng lên núi, cho
người ta có thể chiêm ngưỡng tượng thật gần, hay leo lên trên tượng.
Ngay cả một móng tay nhỏ nhất của tượng cũng đủ chỗ cho một người
ngồi lên trên. Ngọn núi này cũng có một ngôi chùa ở trên và bức
tượng Ḥa Thượng Hải Thông khắc tạc vào đá, nhưng chúng tôi không có
dịp lên xem, v́ chỉ ở trên tầu nh́n qua. Tôn tượng này quả là một kỳ
quan, gợi lên niềm tôn kính và cảm kích trước sự diệu kỳ của thiên
nhiên và con người. Bởi v́ bức tượng tuy vĩ đại, nhưng vĩ đại hơn
nữa là niềm tin và công sức của những người đă tạo nên bức tượng này.
Niềm tin “đội đá vá trời” của Ḥa Thượng Hải Thông, sự hi sinh và
kiên tŕ sắt đá của ngài, trước ḷng tham của kẻ cường quyền muốn
cướp đoạt số tiền đă quyên góp từ 20 năm, đă tự khoét mắt ḿnh để
bảo toàn cho một đại nguyện tưởng như ngoài tầm tay với, một công
tŕnh đă tốn biết bao công của và mồ hôi nước mắt, trải qua bao
nhiêu thế hệ, đến 90 năm mới hoàn thành xong. Từ phương xa đến đây,
chúng con xin thành tâm đảnh lễ Lạc Sơn Đại Phật và Ḥa Thượng Hải
Thông, cầu mong cho năng lực của ḷng từ bi và trí tuệ, dũng khí cho
lẽ phải và sự chính trực của người xưa sẽ trở lại chuyển hóa tâm
thức của người ngày nay, những kẻ hậu duệ đă được thừa hưởng công
tŕnh tâm linh to lớn này.
Từ Lạc Sơn đến nơi kế tiếp là Nga Mi
Sơn chỉ khoảng chừng 28km, chưa đến một tiếng đồng hồ xe. Từ trước
tới nay tôi chỉ biết đến Nga Mi Sơn qua những câu truyện vơ lâm của
Kim Dung, không ngờ đó lại là một trong bốn ngọn núi thiêng nổi
tiếng nhất của Trung Hoa, mệnh danh là “Tứ Đại Phật Giáo Danh Sơn”,
gồm có Ngũ Đài Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn và Nga Mi Sơn. Nga Mi
Sơn cũng được gọi là “Đại Quang Minh Sơn”, và được coi như là đạo
tràng của Bồ Tát Phổ Hiền. Nga Mi Sơn đă là một trung tâm tu học và
là nơi thánh địa hành hương kể từ những ngày Phật Giáo mới được
truyền bá qua Trung Hoa. Những tài liệu từ thế kỷ 16-17 c̣n đề cập
đến Nga Mi Sơn như một nơi luyện tập vơ nghệ, phối hợp Phật giáo với
Đạo giáo.
Thành phố dưới chân núi Nga Mi dường
như mới lập, hai bên đường thẳng tắp với những hàng cây, những cột
đèn có h́nh hoa sen ở trên, những tượng voi trắng dọc đường, cảnh
trí đẹp đẽ và ngăn nắp. Từ chỗ đậu xe, con đường dốc lên núi tới
cổng chùa dài vô tận, phải đi một chuyến xe khác. Tuy nhiên, dọc
đường tôi cũng thấy có nhiều người đi bộ. Ngọn núi Nga Mi này quả
thật là rộng lớn, với những cánh rừng xanh mướt, những ngọn thác đổ
và suối chảy róc rách, phong cảnh thật tươi mát thanh tịnh. Ngày nay
đi lên chùa được hưởng những phương tiện thuận lợi, lại khâm phục
người xưa đă mất bao nhiêu công sức để tạo dựng những ngôi chùa trên
ngọn núi này, và khách mộ đạo thăm viếng cũng phải vượt qua bao hiểm
trở, khó nhọc lắm mới tới nơi được.
Nga Mi Sơn có những phong cảnh tuyệt
đẹp, như Vạn Phật Đỉnh hay Kim Đỉnh, nổi tiếng với bốn kỳ quan là
nhật xuất (mặt trời mọc), vân hải (biển mây), Phật quang (hào quang
Phật hiện trên trời) và Thánh đăng (đèn thánh, những đốm sáng hiện
lên trong những buổi tối không trăng sao), những cảnh trí ngoạn mục
của thiên nhiên và những hiện tượng siêu nhiên kỳ diệu mà khoa học
không giải thích được. Ngoài ra, c̣n rải rác những ngôi chùa và
thắng cảnh khác trên ngọn núi, nhưng v́ thời giờ eo hẹp, chúng tôi
chỉ có thể thăm hai ngôi chùa ở dưới chân núi là chùa Phục Hổ và
chùa Báo Quốc.
Cấu trúc của các ngôi chùa cổ Trung
Hoa thường tương tự như nhau, với cổng tam quan phía trước và những
bậc thang dẫn đến tiền đường, nếu chùa ở trên cao. Từ tiền đường
bước qua một khoảng sân mới đến chánh điện, hay c̣n gọi là đại hùng
bảo điện. Ngoài chánh điện c̣n có thể có thêm tàng kinh các để chứa
kinh sách. Gần cổng tam quan thường có hai tượng hộ pháp mặt xanh và
đỏ, tượng trưng sự khuyến thiện, trừng ác. Tuy nhiên, điều quan
trọng không phải là cấu trúc ngôi chùa, mà là không khí trong ngôi
chùa ấy như thế nào. Cảnh trí trong ngôi chùa rất quan trọng, góp
phần làm cho thức tỉnh giác ngộ, và cũng nói lên tâm của người đă
tạo lập nên ngôi chùa ấy. Khi xưa Linh Vân tu lâu mà chưa tới, một
hôm nh́n thấy hoa đào nở mà bỗng chợt bừng ngộ. Ngôi chùa lập trên
núi đă có sẵn một bối cảnh tự nhiên xa rời chốn bụi trần, thanh cao
và thoát tục. Một ngôi chùa cổ trên ngọn núi thiêng hẳn là phải có
một không khí đặc biệt, trong đó khí thiêng của trời đất thấm thấu,
ḥa quyện với dư âm đạo lực của công phu tu tập qua bao nhiêu thế hệ,
từ bao ngàn năm.
Thật may mắn là hôm nay không có
nhiều khách thập phương, phong cảnh ngôi chùa thanh vắng tĩnh lặng
khiến khách văng lai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu. Một ni cô nhỏ
bé bước vào đảnh lễ trước tượng Phật A Di Đà, miệng niệm Namo
Amituofo (Nam Mô A Di Đà Phật) không dứt. Điều tôi thấy hơi khác
thường là những tượng Phật trong chùa này đều để trong những khung
kính cách biệt ở trên cao, không tiếp cận với chúng sanh phía dưới.
Những bức tượng bằng đồng hay thếp vàng trông như mới, không có vẻ
ǵ là những bức tượng cổ từ ngàn xưa để lại. Tôi tự hỏi không biết
trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, điều ǵ đă xẩy đến cho ngôi chùa
này? Chắc hẳn ngôi chùa tuy ở trên cao nhưng cũng không tránh khỏi
gió băo vùi dập, và những bức tượng chắc cũng không tránh khỏi số
phận bị đập nát dưới những bàn chân vô minh thô bạo. Tuy nhiên, dù
những bức tượng bị đập nát, dù ngôi chùa chỉ c̣n cái sườn nhà, khí
thiêng từ bao ngàn năm vẫn không thể nào bị huỷ diệt dưới những bàn
tay bạo tàn được. Cảnh cũ c̣n đấy th́ hồn xưa vẫn c̣n bàng bạc,
những hiện tượng kỳ quan vẫn c̣n đấy, chỉ cần có một tấm ḷng chân
thành, một tâm hồn đồng điệu, th́ có thể cảm nhận được những điều
không thể nghĩ bàn.
Có một chuyện tôi cho là kỳ lạ đă xẩy
đến với tôi. Suốt một ngày ở Cửu Trại Câu hết lên đồi, xuống núi qua
những bậc thang vô tận, lại đi ṿng những đường ṃn qua suối, qua
thác, khiến cho ngày hôm sau hai bắp chân tôi đau nhức tưởng chừng
như không cất lên được. Khi đến Nga Mi Sơn, bước qua cổng Tam Quan,
nh́n thấy những bực tam cấp cao vời vợi phía trên, tôi đă thấy lo sợ,
không biết ḿnh có đi nổi không. Nhưng rồi tôi tự nhủ ḷng, đă đến
đây rồi th́ có chết cũng phải đi lên đảnh lễ Phật, v́ lúc nào mà có
được cơ hội như vậy nữa. Thế rồi, chân thấp chân cao tôi lê từng
bước lên những bậc trên, và rồi đi lên trên nữa để thăm viếng tất cả
các điện thờ. Lúc xuống, dĩ nhiên là chân tôi c̣n đau hơn. Tuy nhiên,
sau khi ngủ một đêm, sáng hôm sau tôi không c̣n thấy đau ǵ cả,
dường như các bắp thịt đă trở lại b́nh thường. Phải chăng đây cũng
là một điều kỳ diệu của Nga Mi Sơn?
Chuyến đi vừa rồi tuy không có mục
đích đi hành hương, nhưng đối với tôi cũng như là đi hành hương. Và
tôi nhận ra được một điều rằng, quốc gia có khác biệt về ranh giới,
ngôn ngữ, nhưng niềm tin tâm linh hay tôn giáo là vượt ngoài ranh
giới, ngôn ngữ. Đứng trước tượng Phật trong một cảnh chùa thanh tịnh,
tâm ư của tôi có thể đồng với tâm ư của một người Hoa, hay bất cứ
người nào thuộc sắc tộc khác. Nhưng trên phương diện quốc gia dân
tộc th́ không như vậy. Đi thăm nước Trung Hoa lục địa làm tôi không
khỏi nghĩ đến quê hương Việt Nam trong hiện t́nh, và có những cảm
xúc phức tạp. Chỉ mong rằng, lịch sử sẽ chuyển đổi theo sự vô thường
biến dịch của gịng thời gian, và sẽ đem lại những cơ hội để người
dân Việt biết tự ḿnh đứng lên gánh vác vận mệnh cho chính ḿnh, với
tinh thần bất khuất từ ngàn xưa truyền lại.
Ngọc Bảo
Rừng Tùng, tháng 6/ 2016
Xem thêm Video :

Chuyến đi
Cửu Trại Câu
Thắng Cảnh
Thành Đô |
|