|
|
Chân dung của một thánh nhân

Trên đời này có những bậc
thánh hay không? Nhiều người không tin như vậy. Nhưng trong cả tỷ
người của nhân loại, đă có một số người hiếm hoi được coi như là
thánh nhân, v́ họ làm được những điều mà những người b́nh thường
không ai làm được, ví dụ như Gandhi, hay Mẹ Theresa chẳng hạn… Những
người ấy dường như thuộc về loại người phi thường, ở trên một tầng
lớp cao xa, cách biệt với những người b́nh thường chúng ta. Đó là
theo cách nh́n của những tôn giáo như Ấn độ giáo, Thiên Chúa Giáo
v.v.. Nhưng theo đạo Phật, trong mỗi con người đều đă có sẵn một vị
Phật, và ai cũng có thể thành Phật, qua quá tŕnh chuyển đổi “từ
phàm qua thánh”. Như vậy, trong cơi trần gian ô trọc này, có thể có
những người đă hoán chuyển từ phàm nhân thành thánh nhân vẫn đang
sống lẫn lộn với chúng ta, mà ta không biết tới. Bởi v́ không có
thánh nhân thực sự nào tự nhận ḿnh là thánh nhân cả, mà phần nhiều
là do những người có cơ duyên tiếp xúc đă cảm nhận như vậy mà thôi.
Theo thiển ư, tiến tŕnh
chuyển hóa từ phàm qua thánh cũng qua nhiều cung bậc, mà có lẽ chỉ
có người chứng đắc mới tự biết được. Tuy nhiên, một người đạt tới
mức “thánh” không chỉ v́ trí tuệ của sự giác ngộ và công đức của
những điều lành đă làm, mà c̣n có thể tỏa ra một từ lực ảnh hưởng
đến tâm của người trước mặt. Từ lực đó đem lại sự an lạc và hứng
khởi, và cũng làm dấy lên một niềm tin trong ḷng người đối diện.
Trong tháng vừa qua, miền
Nam California đă có cơ duyên đón tiếp một vĩ nhân của thời đại, Đức
Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng, trong đại lễ khánh thành chùa Điều Ngự.
Không đi tham dự, nhưng tôi đă ở nhà theo dơi chương tŕnh truyền
h́nh trực tiếp. Điều làm tôi để ư nhất, có lẽ là thái độ khiêm tốn,
b́nh dị, mà luôn ung dung tự tại của Ngài. Những cử chỉ của ngài rất
hồn nhiên, rất b́nh thường như một con người b́nh thường, nhưng vẫn
có một vẻ ǵ cao quư khiến người ta phải kính trọng. Tuy chỉ qua màn
h́nh, nhưng tôi dường như cảm nhận được từ lực toát ra từ Ngài, qua
bộ mặt lúc nào cũng tươi cười hỷ xả, qua ḷng từ bi thể hiện đối với
tất cả những người được tiếp cận. Một con người phải có sức hấp dẫn
siêu phàm mới thu hút được hàng ngàn vạn người từ đủ mọi sắc tộc,
mọi tôn giáo khác nhau đến để gặp mặt, mặc cho thời tiết nóng lạnh,
phải chịu đựng những bất tiện, ngay cả tốn kém nữa. Như vậy, điều ǵ
đă tạo ra từ lực siêu phàm ấy?
T́m hiểu tiểu sử của ngài,
ngay từ thuở ấu thơ đă được tôn vinh như vị vua tinh thần và chính
thức của đất nước Tây Tạng, rồi khi đất nước bị ngoại bang xâm chiếm
đă phải sống đời lưu vong nơi xứ người, mang nặng trên vai trọng
trách của một nhà lănh đạo. Kể từ đó trong suốt 60 năm qua ngài đă
tranh đấu không ngừng nghỉ, t́m một giải pháp tự trị cho quê hương
để bảo vệ cho dân tộc và nền văn hóa truyền thống. Có lẽ hơn ai hết,
cuộc đời của ngài đầy dẫy những thử thách gian nan, những nỗi niềm u
uất và trăn trở trước hành động dă man của kẻ xâm lược bá quyền muốn
xóa bỏ một đất nước dân tộc đă từng một thời có một quá khứ vinh
quang. Nhưng chính những khó khăn trở ngại đó lại là cơ duyên cho
ngài rèn luyện con người của ḿnh, để trở thành một biểu tượng của
t́nh thương và trí tuệ mà mọi người trên thế giới đều phải kính phục.
Ngài đă nói như sau về kinh nghiệm của ḿnh:
Trường hợp của tôi, ở tuổi 16 đă
mất tự do, và đến 24 tuổi th́ mất quê hương. Tôi đă là một người tỵ
nạn trong suốt 40 năm, với trách nhiệm nặng nề trên vai. Khi tôi
nh́n lại, thấy cuộc đời ḿnh không dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, qua
suốt những năm tháng đó, tôi đă học được ḷng từ bi, về sự quan tâm
săn sóc đến người khác. Tinh thần ấy đă đem lại sức mạnh nội tại
trong tôi.
Những đau khổ gặp phải chắc chắn
sẽ góp phần thăng tiến trong sự tu tập tâm linh, nếu bạn có thể
chuyển hóa những tai họa và sự bất hạnh qua con đường Đạo pháp.
Những thời kỳ khó khăn xây đắp cho
ta sự quyết tâm và sức mạnh nội tại, qua đó ta có thể nh́n ra được
sự vô ích của những cơn nóng giận. Thay v́ nổi giận, hăy nuôi dưỡng
một mối quan tâm sâu xa và sự kính trọng đối với kẻ đă xâm hại đến
ta, bởi v́ chính nhờ những hoàn cảnh thử thách họ đă tạo nên mà ta
mới có cơ hội vô giá để thực hành hạnh nhẫn nhục.
Cũng nên nhớ rằng thời kỳ đem lại
lợi lạc nhất cho trí tuệ và sức mạnh nội tại lại thường là thời kỳ
có nhiều khó khăn nhất. Bằng cách ứng xử đúng đắn - ở đây một lần
nữa ta lại thấy sự tối quan trọng của việc khai triển một thái độ
tích cực – kinh nghiệm đau khổ có thể làm cho ta mở mắt thấy được
thực tại. Ví dụ như, kinh nghiệm riêng của tôi trong đời tỵ nạn đă
cho tôi nhận ra rằng những nghi thức kéo dài lê thê, vốn là một phần
quan trọng trong đời sống của tôi ở Tây Tạng, là hoàn toàn không cần
thiết.
Trong những bài giảng pháp,
Đức Đạt Lai Lạt Ma đều nói về sự phát triển ḷng từ bi. Nghe qua th́
không có vẻ ǵ là mới lạ hay cao siêu, nhưng khi nh́n đến con người
của ngài, mới thấy được năng lực kỳ diệu của ḷng từ bi như thế nào.
Ḷng từ bi ấy hẳn là đă kết tinh từ một trí tuệ bao la thấy rơ tính
Không trong mọi người mọi việc, từ đó phát xuất một tâm vô ngă và
b́nh đẳng, xem tất cả mọi người đều như nhau, không phân biệt sang
hèn hay giầu nghèo. Chính ḷng từ bi ấy đă là chất liệu hun đúc nên
từ lực tỏa ra từ ngài, khiến cho đi đến đâu, sự hiện diện của ngài
cũng có thể đem lại sự an b́nh và hứng khởi cho tất cả những người
có may mắn được diện kiến.
Chade-Meng Tan, đồng chủ
tịch uỷ ban vận động đề cử ứng viên giải Nobel ḥa b́nh và tác giả
sách bán chạy nhất theo NYT, đă viết một bài với đề tài “Ai là người
bạn đă gặp hay làm việc chung gây cảm hứng nhiều nhất?” như sau:
Không cần phải nghi ngờ
ǵ cả, người tạo hứng khởi nhiều nhất mà tôi đă gặp là Đức Đạt Lai
Lạt Ma. Lần đầu tiên tôi gặp ngài vào năm 2005, khi ngài đến thăm
trường Đại Học Stanford. Lúc đó, tôi là một trong những người đóng
góp nhiều nhất cho Đại học Stanford để lập chương tŕnh học về Tây
Tạng, nên khi Đức Đạt Lai Lạt Ma tới, tôi được mời như một VIP đến
dự buổi tiệc trưa khoản đăi.
Trước khi gặp ngài, tôi
đă nghĩ là ḿnh sẽ thất vọng. Bởi v́ tôi có một số kỳ vọng về người
thánh thiện phải như thế nào, và tôi đoan chắc là ngài sẽ không đạt
tới những tiêu chuẩn đó. Tôi nghĩ chắc ngài chỉ là một ông già trọc
đầu nói những lời giả dối mà thôi.
Thế mà, Đức Đạt Lai Lạt
Ma đă vượt qua cả những kỳ vọng cao nhất của tôi. Thật là đáng thán
phục!
Điều đầu tiên làm tôi
ngạc nhiên là sự ấm áp và hoan hỉ của ngài. Ngài thân thiện với tất
cả những người diện kiến. Ngài mỉm cười với mọi người, cầm tay họ,
và cười một cách tự nhiên thoải mái. Ngài không có cái vẻ kiểu cách
giống như những người thường có nhân viên bảo vệ theo hầu.
Điều thứ hai khiến tôi
ngạc nhiên là trong cuộc nói chuyện buổi trưa của ngài, có lúc vấn
đề Tây Tạng được nêu ra. Bạn có thể thấy được rằng, đây là một đề
tài rất thương tâm cho người Tây Tạng, bởi v́ những người Tây Tạng ở
chung quanh tôi đều hoặc là khóc, hoặc là cố cầm nước mắt, nhưng
ngài vẫn nói chuyện một cách b́nh thản, không có một dấu vết giận dữ
nào trong giọng nói, và luôn nhấn mạnh đến nguyên tắc bất bạo động,
sự cảm thông lẫn nhau, và biểu lộ t́nh cảm đối với người dân Trung
Hoa. Tôi ngồi ngay trước sân khấu, v́ ở hàng danh dự, nên thấy rơ
mắt ngài khi đang nói. Ngay lúc đó, tôi đă vững tin rằng, ngài chính
là một Con Người Chân Thật. Mặc dù phải trải qua bao đau khổ trong
cuộc đời, người này đă không hề tỏ ra bất cứ một sự giận dữ, thù hận
hay cay đắng nào. Tôi thật hoàn toàn thán phục.
Ngày hôm sau, tôi lại
càng thán phục hơn sự thông minh của ngài. Tôi đang theo dơi cuộc
đối thoại của ngài với những chuyên gia khoa học thần kinh trên sân
khấu. Ngài đang ở đó giữa một nhóm học giả uyên bác, mà vẫn giữ vị
thế của ḿnh rất vững vàng. Ngài hỏi những câu thật thông minh, và
nêu lên những điểm trong đó hàm chứa sự hiểu biết có tính cách khai
sáng. Sau một lúc, người ta bắt đầu nghi rằng ông già trọc đầu hay
cười này lại là người thông minh nhất trên sân khấu.
Nhưng giây phút kinh
ngạc nhất của tôi là khi Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời một câu hỏi về
t́nh thương và sự đau khổ. Đề cập đến một buổi thuyết tŕnh trước
của Bill Mobley chứng minh rằng những vùng tương tự ở năo sáng lên
khi một người đang đau cũng như khi người ấy đồng cảm với một người
khác đang đau, ngài đă đưa ra một vấn đề quan trọng mà không ai nghĩ
tới. Ngắt lời người thông dịch viên, ngài giải thích bằng giọng
tiếng Anh chập choạng rằng, có ít nhất hai loại t́nh thương, t́nh
thương cho người thân của ḿnh (mà ngài gọi là “t́nh thương giới hạn”)
và t́nh thương cho người xa lạ (mà ngài gọi là “t́nh thương chân
thực” ). Cả hai có tính chất khác nhau, do đó cần phải được nghiên
cứu một cách riêng biệt. Nếu những biểu hiện trên năo của cả hai đều
giống nhau, ngài nói, “th́ tôi cảm thấy bộ năo thật là điên rồ”. Tất
cả mọi người đều cười ồ lên. Bill Motley có ấn tượng về ngài đến nỗi,
ông nói rằng, “Đây là một trong những kinh nghiệm khai thị cho ta
biết rằng, cách suy nghĩ mạch lạc như thế đă hoàn toàn định rơ một
công tŕnh khảo cứu 20 năm như thế nào. “
Con người của Đức Đạt Lai
Lạt Ma, với trí tuệ và ḷng từ bi rộng lớn, đă chinh phục sự ngưỡng
mộ của mọi người trên thế giới như thế nào, ở đây không cần nhắc đến
nhiều. Điều đáng nói là ngài có vẻ ưu ái đặc biệt đến cộng đồng
người Việt ở hải ngoại, vốn đă là một lực lượng đông đảo ủng hộ ngài
và Phật giáo Tây Tạng. Có lẽ v́ cộng đồng người Việt và Tây Tạng có
những hoàn cảnh giống nhau. Kể từ sau tháng 4 năm 1975, miền Nam
Việt Nam bị mất vào tay cộng sản, những người dân t́m đường bỏ nước
ra đi sống đời lưu vong không khác ǵ những người dân Tây Tạng. Hơn
bốn mươi năm trôi qua, mọi sự tưởng như đă nhạt nḥa, nhưng rồi hiểm
họa mất nước lần nữa ngày lại càng hiện ra rơ rệt hơn, với nguy cơ
hoàn toàn rơi vào tay ngoại bang và bị diệt vong như Tây Tạng ngày
nào. Điều khác biệt là người Tây Tạng may mắn có một vị lănh đạo
siêu phàm vĩ đại, c̣n người Việt Nam th́ không. Hơn bao giờ hết
chúng ta phải biết tỉnh ngộ mà rút kinh nghiệm từ bài học Tây Tạng,
để cố t́m đường thoát ra khỏi vũng lầy càng ngày càng lún sâu. Chính
Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đă lên tiếng cảnh cáo: “Nếu người Việt Nam
không làm ǵ cả, Việt Nam rồi cũng sẽ trở thành như Tây Tạng.”
Gần 60 năm đă trôi qua kể
từ ngày quân Trung Cộng tràn vào cưỡng chiếm Tây Tạng. Thời gian làm
ṃn mỏi nhiều thứ, kể cả quyết tâm và hi vọng, nhưng người dân Tây
Tạng dù trải qua đến mấy thế hệ vẫn luôn nung nấu trong ḷng ư chí
phấn đấu cho đất nước được ra khỏi thảm họa diệt vong, vẫn coi Đức
Đạt Lai Lạt Ma như vị lănh tụ tối cao dù ở trong hay ngoài nước. Và
người lănh đạo tinh thần của Tây Tạng, dù đă trên 80 tuổi, vẫn c̣n
nuôi hi vọng một ngày nào đó mọi sự sẽ xoay chiều, để đất nước của
ông vẫn c̣n nguyên vẹn và dân tộc của ông sẽ sống trong tự do, hạnh
phúc.
Có một lần đến thăm nhà
người bạn, tôi thấy trên tường có treo một khung h́nh trong đó có
bài thơ của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Đây là những lời nói của ngài được
dịch ra tiếng Anh như một bài thơ, với sự cho phép của ngài. Nghe
nói, bài thơ này đă được treo khắp nơi ở Dharamsala, nơi cư ngụ của
ngài ở Ấn Độ gần biên giới Tây Tạng. Bài thơ này đă đem lại sự xúc
động và niềm cảm hứng không chỉ cho dân tộc Tây Tạng, mà c̣n cho tất
cả mọi người ở bất cứ mọi nơi, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Xin tạm
dịch như sau:
Không bao giờ bỏ cuộc
Dù bất cứ chuyện ǵ xẩy
ra
Đừng bao giờ bỏ cuộc
Hăy khai triển tâm bạn
Có quá nhiều năng lượng đă tiêu dùng
Vào việc phát triển trí óc
Thay v́ để khai triển tấm ḷng
Hăy mở ḷng từ bi
Không phải chỉ cho bạn bè thân thuộc
Mà cho tất cả mọi người
Hăy mở ḷng từ bi
Làm những việc đem lại ḥa b́nh
Trong tâm và cho cả thế giới
Làm những việc đem lại ḥa b́nh
Và tôi nhắc lại rằng
Đừng bao giờ bỏ cuộc
Dù bất cứ chuyện ǵ xẩy ra quanh ḿnh
Cũng không bao giờ bỏ cuộc!
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
Nguyên bản:
Never give up
No matter what is going
on
Never give up
Develop the heart
Too much energy in your country
Is spent developing the mind
Instead of the heart
Be compassionate
Not just to your friends
But to everyone
Be compassionate
Work for peace
In your heart and in the world
Work for peace
And I say again
Never give up
No matter what is going on around you
Never give up
Dalai Lama XIV
Dù hơn nửa thế kỷ đă trôi
qua, dân tộc Tây Tạng vẫn chưa bỏ cuộc.
Dù một ngàn năm ở dưới ách
xâm lăng, dân tộc Việt Nam đă không bỏ cuộc.
Vậy th́ có lư ǵ lại bỏ
cuộc trong lúc này?
Ngọc Bảo
Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Tháng 7/2016
|
|