|
|
Chăn trâu “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu
sướng lắm chứ.. Bài hát chăn trâu này là một bài hát quen thuộc ở miền nam Việt Nam trong những năm 1950-1970, đến nỗi gần như ai cũng có thể thuộc và hát được, v́ tiết điệu và lời hát giản dị, vui tươi, gợi lên một thời kỳ êm ả, với những thú vui mộc mạc của đời sống đồng nội. Thế nhưng không phải chăn trâu lúc nào cũng dễ dàng và thảnh thơi như vậy. Trâu có thể là là một con vật đắc lực nhất cùng sát cánh với người nông dân trong công việc đồng áng nặng nhọc, nhưng cũng thuộc về giống dữ, nếu chưa thuần hóa sẽ phải bỏ rất nhiều công sức ra mới chế ngự được nó. Riêng đối với đạo Phật, trâu c̣n mang một ư nghĩa đặc biệt, đó là h́nh ảnh của đạo tâm, và thường được nhắc đến trong ngôn ngữ của Thiền. Chúng ta thường nghe nói “cưỡi trâu đi t́m trâu”- đang ở trên lưng trâu mà đi t́m trâu ở ngoài, làm sao thấy được trâu? Điều đó cũng giống như là đem tâm đi t́m tâm – đang ở trong tâm mà muốn đi t́m tâm, làm sao thấy được tâm. Giai thoại nổi tiếng của Huệ Khả và sơ tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma đă nói lên điều này. Huệ Khả một hôm thưa với thầy rằng: -Bạch thầy, tâm con không an, xin thầy chỉ cho con cách an tâm. Đạt Ma nói: - Đem tâm đây ta an cho. Huệ Khả xoay lại t́m tâm, quán chiếu đến cùng, chẳng thấy tâm đâu, bèn nói : Bạch thầy, con không thấy tâm ở đâu cả. Đạt Ma nói: Ta đă an tâm cho ngươi rồi. Một giai thoại nổi tiếng khác của Thiền tông về trâu, cũng là một câu thoại đầu để suy ngẫm, là câu nói của thiền sư Linh Hựu ở núi Quy Sơn. Một hôm sư thượng đường bảo chúng: Sau khi lăo Tăng trăm tuổi đến dưới núi làm một con trâu, hông bên trái viết năm chữ « Quy Sơn Tăng Linh Hựu » . Khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu ? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng ? Gọi thế nào mới đúng? Tướng trâu và tướng Tăng, đâu mới là thực tướng của Quy Sơn Linh Hựu ? Đó là câu hỏi mà vị thiền sư đă đặt ra cho chúng ta. Một công án khác nổi tiếng của Thiền tông là công án « Con trâu đi qua cửa sổ ». Con trâu to lớn lực lưỡng đă chui lọt thân ḿnh qua được cửa sổ, nhưng chỉ v́ một cái đuôi nhỏ xíu mà bị mắc kẹt. Làm sao giải thích được sự phi lư này? Trâu tượng trưng cho Tâm. Trâu chui lọt thân ḿnh qua cửa sổ ví như tâm đă được chuyển hóa từ vô minh qua giác ngộ, nhưng vẫn không liễu ngộ được v́ c̣n một chút ǵ vướng mắc. Sự vướng mắc ấy, dù nhỏ đến đâu, cũng vẫn là chướng ngại cho sự giác ngộ. Câu trả lời cho mỗi người về sự vướng mắc của ḿnh chỉ được t́m thấy qua kinh nghiệm tự tu tự chứng, không phải là một công thức chung cho mọi người. Làm sao trâu lại được ví với tâm ? Trâu là con vật có thể rất dữ, nhưng cũng có thể rất hiền nếu đă thuần phục được nó. Một tâm buông lung theo vọng tưởng điên đảo ví như con trâu hoang, nếu không biết chế ngự sẽ tạo bao nhiêu nghiệp ác, gây tổn hại cho bản thân và tha nhân. Trong thiền môn có pháp tu chăn trâu, ngụ ư phải chăn dắt tâm ḿnh như chăn dắt trâu vậy, cho đến khi hoàn toàn chế ngự được tâm th́ tâm sẽ được an định, và tự đó sẽ trở thành một suối nguồn an vui lợi lạc. Nổi tiếng nhất là mười bức tranh chăn trâu, c̣n được gọi là « Thập Mục Ngưu Đồ », có thể xem như một biểu hiện cô đọng nhất, tinh tuư nhất của pháp môn tu tâm. Các bức tranh chăn trâu được sáng tác trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đă được xem như những bức họa tiêu biểu, tŕnh bầy tinh hoa, cốt tủy của Thiền tông. Có nhiều bộ tranh chăn trâu khác nhau, nhưng nổi tiếng nhất là hai bộ tranh chăn trâu của Thanh Cư và Quách Am. Bộ tranh chăn trâu của Thanh Cư được coi như tranh Đại Thừa gồm sáu bức, đầu tiên thiền sư Thanh Cư vẽ có năm bức nhưng sau đó thiền sư Tự Đắc vẽ thêm bức thứ sáu. Trong bộ này, con trâu đầu tiên toàn mầu đen, rồi trổ trắng dần qua từng bức tranh, từ trên đỉnh đầu , rồi lan qua ḿnh, cho đến chót đuôi. Trâu đen tượng trưng cho tâm si mê, ch́m lấp trong lớp bùn lầy của vọng tưởng, dần dần qua công phu tu tập, gạn lọc được những lớp vỏ trần cấu bao bọc mà trâu đen trở thành trâu trắng, tượng trưng cho chân tâm thanh tịnh. Đây là pháp môn tu tiệm theo giới định tuệ, xử dụng công phu theo từng nấc thang. Bộ tranh chăn trâu của thiền sư Quách Am Sư Viễn gồm mười bức, được coi như là tranh của Thiền tông, diễn tả xa hơn quá tŕnh công phu của một hành giả từ lúc bắt đầu tu tâm cho đến khi giác ngộ viên măn. Tiến tŕnh của mười bức tranh có thể nói sơ lược như sau :
Nói về ư nghĩa từ bức thứ nhất đến bức thứ sáu, cũng là toàn bộ sáu bức tranh của Đại thừa, có thể tóm gọn như sau : Con người sống buông lung theo vọng tưởng để rồi ch́m đắm trong ngoại cảnh, tâm đi lạc hướng theo những cảm xúc mà không chủ động, không nắm bắt được nên không thoát được phiền năo, một lúc nào đó tỉnh ngộ muốn đi t́m lại tâm. Lúc đó như chú mục đồng đi t́m trâu, từ bao lâu nay để mất trâu, đến lúc đi t́m th́ như lạc vào trong rừng rậm. T́m tâm cũng như đi vào rừng rậm, trùng trùng lớp lớp vọng tưởng bao quanh không biết đâu là dấu vết của tâm. Thế nhưng sau bao công phu kiên tŕ, quen quán chiếu tâm rồi th́ bắt đầu dần dần ĺa được vọng tưởng, không c̣n bị vọng tưởng vây hăm như trước, khu rừng rậm của tâm đă quang đăng dần để biến thành cảnh giới an vui với suối trong gió mát, chim hót hoa nở. Lúc đó mục đồng thấy trâu cũng như hành giả đă thấy được tâm, trong nhà Thiền gọi là Kiến Tánh, v́ tâm cũng chính là tánh trong Thiền môn. Tuy nhiên, những tập khí , thói quen sâu dầy xưa nay vẫn c̣n chưa dứt bỏ được, nên hành giả phải tinh tấn dũng mănh thúc liễm con trâu tâm chưa thuần thục qua ngọn roi trí tuệ và sự thấy biết quang minh của Tánh Giác. Khi đă làm chủ được tâm rồi th́ tâm không c̣n đi theo cảnh mà theo người, hay nói cách khác, người không c̣n chạy theo cảnh mà cảnh theo người, người và tâm đều an vui, vững chăi trong căn nhà ngũ uẩn của ḿnh. Tranh chăn trâu của Đại thừa tới đây là hết, nhưng tranh chăn trâu của Thiền tông c̣n đi xa hơn tới tận gốc rễ, với bốn bức sau :
Trong am chẳng thấy ngoài vật khác
Bí quyết thần tiên đâu cần đến
Mười bức tranh chăn trâu cho ta thấy phần nào những nét chính trong quá tŕnh của một hành giả từ bước khởi đầu đến giác ngộ , tuy nhiên ngôn từ giới hạn không thể nào diễn giải hết được ư nghĩa thâm diệu của những bức tranh này, mà phải có công phu tu tập mới thể nhập được. Nhưng xét cho cùng, chân lư vốn không phải là những ǵ xa xôi ở ngoài thế giới này, mà chính là những điều b́nh thường trong cuộc sống trước mắt. Chỉ v́ tâm con người luôn luôn t́m kiếm, luôn luôn mong cầu, nên thường tạo ra cho ḿnh những ảo ảnh, những mục tiêu xa vời, để rồi không thoát khỏi phiền năo . Tổ Đạt Ma nói : « Đừng yêu sinh tử, cũng đừng ghét sinh tử ». C̣n yêu c̣n ghét là c̣n chưa hiểu được sinh tử, và vẫn măi ch́m đắm trong biển khổ luân hồi. « B́nh thường tâm thị Đạo », trở về với b́nh thường là trở về với trạng thái tự nhiên, không c̣n vọng tưởng, không c̣n điên đảo – mưa đă tạnh, gió đă tan, mặt hồ lại trở về tĩnh lặng như muôn thuở, đó là trạng thái tự nhiên của hồ, như tâm không vọng tưởng là trạng thái tự nhiên của tâm. Hành giả thơng tay vào chợ không chối bỏ đời sống thế gian, cũng không đắm mê theo cuộc thế, như chiếc thuyền có người lái trên gịng sông sinh tử, dù qua bao khúc quanh gập ghềnh hay những lúc êm đềm chẩy trôi, cũng vẫn ung dung đi tới trước, v́ đă biết được chốn về. Từ xưa đến nay, trong thế gian này có biết bao nhiêu người đă giác ngộ nhưng họ vẫn là con người b́nh thường, sống cuộc sống b́nh thường như tất cả mọi người. Các vị tổ nói : « Phàm nhân trở thành thánh nhân vẫn không đổi mặt, cá biến thành rồng vẫn không thay vẩy ». Chỉ khác một điều là người mê th́ bị cuốn hút theo cảnh, c̣n người đă tỉnh mộng th́ tuy ở trong cảnh nhưng vẫn ĺa được cảnh. T́m lại được con Trâu tâm và làm chủ được nó tức là làm chủ được vận mệnh của ḿnh vậy. Ngọc Bảo (Mùa xuân Kỷ Sửu, 2009)
|