Khi c̣n sống ở bên xứ Nhật
thỉnh thoảngtôi có
nghe một nhạc khúc rất "đẹp" lại quá buồn, nó làm cho ḷng người xao
xuyến mỗi khi nhớ đến - đó là bản "Kojo no Tsuki" (荒城の月・hoang
thành chi nguyệt) - được người Mỹ dịch lại là "Moon over the
ruined castle". Sau nhiều năm v́ phải vật lộn với cuộc sống, tôi hầu
như quên mất tên nhạc khúc nầy.
….Rồi một hôm vào mùa Đông, khoảng lễ Giáng Sinh năm
2000, hai vợ chồng nhà tôi có đi dự một
buổi
ḥa nhạc thính pḥng ở Downtown Columbus trong Giáo
Đường Trinity Episcopal. Đây là buổi tŕnh diễn huyền cầm "string
quartet" do nhạc sĩ "Ken Matsuda" (viola) và đồng nghiệp (thuộc
Columbus Symphony Orchestra) t́nh nguyện để gây quỹ từ thiện cho
những người bất hạnh. Đa số khách tham dự là Nhật kiều địa phương và
tín đồ của giáo đường nầy. Trong buổi chiều thư giăn đó, ban
quartet cho chúng tôi nghe nhiều bản nhạc Nhật danh tiếng xưa như
"Sakura sakura", "Yuki", "Hotarukoi", "Hana", "Akatombo", "Momiji"
v.v. và sau cùng là bản kiệt tác "Kojo no Tsuki".
Trong suốt buổi tŕnh diễn nhạc nhà tôi lúc nào cũng xụt xùi mặt
ướt đầy nước mắt. Nh́n cô ta làm cho tôi cũng buồn theo...
"Kojo no Tsuki" (荒城の月)
được Taki Rentaro(滝廉太郎)soạn
nhạc vào năm 1901, lúc ông mới lên 22 tuổi. Đây là một trong nhiều
nhạc bản được tác giả cho ra đời do sự yêu cầu của bộ Giáo dục NB
thời Meiji để giúp học sinh cấp hai học ca và đánh đàn. Lời của bản
nhạc được Doi Bansui (土井晩翠)viết
cho sau đó.
Nhưng ai là Taki Rentaro?
Taki Rentaro được sinh ra ở Tokyo giữa hè năm 1879 (Meiji năm thứ
12). Cha là công chức nên gia đ́nh thường di trú theo nhiệm sở từ
Yokohama (横浜),
Toyama(富山)đến
Oita (大分).
Lúc được 12 tuổi, khi cha ông về nhận chức vụ quận trưởng thành phố
Takeda (竹田)
tỉnh Oita, ông thường ra chơi trên di tích của thành Oka ( 岡城・Cương
Thành), một nơi có "sơn tử thủy minh" (山紫水明)(1)
thừa để bồi dưỡng cho ḷng người quảng đại trí tuệ trong sáng....
Taki Rentaro
Ở tuổi 15 ông là người trẻ nhất được nhận vào đại học "Tokyo Ongaku
Gakko" (東京音楽学校,
nay là
東京芸術大学・Tokyo
Geijutsu Daigaku) để học âm nhạc. Điều nầy chứng tỏ cho ta thấy đây
là một anh tài của NB vào thời Minh Trị Duy Tân.
Lúc 18 tuổi ông đă viết bài ca "Kinuta"(砧)
và "Kareno no yukei" (枯野の夕景),
nhạc khúc "Nippon danji"(日本男児)và
"Haru no umi"(春の海).
Năm 20 tuổi,
Rentaro cho ra đời bài "Shiki no oboro"(四季の朧).
Những năm c̣n lại ông sáng tác một loạt trong đó có bài "Menuetto"(メヌエット),
"Shiki"(四季・four
seasons), "Kojo"(古城),
"Hakone hachiri"(箱根八里)
và "Kojo
no tsuki"(荒城の月).
Di tích thành Oka
Đầu Xuân năm 1901 Taki Rentaro được chính phủ Nhật Bản chọn làm sinh
viên gửi sang Đức để học âm nhạc ở Leipzig. Ông là người thứ hai của
Nhật theo học ngành nầy. Nhưng đau buồn thay, sau khi bước chân lên
đất Đức quốc chỉ được 2 tháng Rentaro mắc bịnh lao phổi. Thế là năm
sau đó được một bác sĩ tháp tùng dẫn về quê cha ở Oita. Rentaro tiếp
tục dưỡng bịnh nơi ḿnh trưởng thành cho đến lúc nẳm xuống nghỉ giấc
ngủ ngàn thu. Ông hưởng thọ gần đầy 24 tuổi.
Tháng 2 năm 1903, 4 tháng trước khi mất Rentaro viết
tuyệt khúc "Urami" (憾・hám,
tức "hận" cũng đồng thời là "ăn năn") - như để chuẩn bị cho một sự
ra đi vĩnh viễn. Có người đoán là ông có linh cảm về sự chết của
ḿnh, đă có lúc trực diện với Thượng đế.Tuy
là trường hợp rất hiếm với văn hóa Nhật,
nhất là người có gia hệ thuộc hàng Samurai xưa kia, Taki Rentaro đă
làm lễ rửa
tội mùa Thu năm 1900, trở thành một tính đồ của đạo "Kirishitan"
(Dê
Su)
sau đó.
Trong thời gian sống bên Nhật anh em sinh viên chúng
ta chắc có lần nghe qua bài "Hana" (花)*
với câu
mở đầu là "Haru no urara no Sumita gawa...." (春のうららの隅田川)
do cặp
Yuki Saori (由紀さおり)
và Yasuda Sachiko (安田祥子)
song ca. Đây là nhạc bản Rentaro soạn hơn 100 năm về trước và được
dân Nhật yêu chuộng măi đến ngày nay. Bản nầy có một nhạc điệu tươi
sáng như gió Xuân đưa đẩy. Ngày nay khi có dip nghe lại bài nầy là
tôi nhớ đến "dote" (土手・cái
đê cũng gọi là 堤防)
trên sông Sumida(隅田川)trong
Tokyo lúc mùa hoa đào nở - Đây là nơi cuối tuần cha con người Nhật ở
Tokyo ra để thả diều, chơi catch ball, picnic, câu cá, v.v.
Rentaro soạn hay viết rất nhiều ca khúc cho nhi đồng.
Những bài thường nghe hát trong gia đ́nh NB ngày nay như
"Hatopoppo"(鳩ぽっぽ),
"Oshogatsu" (お正月),"Ho-hokekyo"
(ほうほけきょ)
v.v. Nhiều ca khúc nầy
đătrở
thành "min yo" (民謡
- dân
ca)và
"Komori uta"(子守唄)cho
những bà mẹ trẻ ru con.
Ngoài nhạc phục vụ cho ngành giáo dục, Taki c̣n sáng
tác rất nhiều nhạc bản dưới thể loại khác nhau trong đó gồm có cả
quân ca, nhạc gợi ḷng ái quốc cho thanh niên như bài "Inochi wo
sutete"(命を捨てて)và
"ware shinshu" (我神州),
nhạc cổ xúy tích cực yêu đời như "Haru no umi"(春の海),
"Sampo" (散歩),"Hana"
(花)
và nhạc lăng mạn classic như "Shiki no taki" (四季の瀧
),
"Menuetto" (メヌエット)*
và "Kojo no tsuki"(荒城の月)*.
Người Nhật yêu mến Rentaro thường ví ông như là một
Mozart của Nhật Bản. Rentaro soạn nhiều nhạc khúc rất tinh vi, tài
t́nh lại thơ mộng "romantic" có thể dùng trong những buổi nhạc thính
pḥng hay dạ vũ. Nhạc khúc "Menuetto" (Menuet) đủ phẩm chất
"Schubert" cho giới quí tộc phô trương sự hào hoa trên sàn nhảy của
một vương cung. C̣n hợp khúc "Shiki"(bốn mùa) nhắc ta nhớ đến "The
Four seasons" của Vivaldi. Nhưng cái đặc điểm của nhạc Taki Rentaro
là ở chỗ đầy sắc thái Nhật Bản - rất là "o-ri-gi-nal", không bắt
chước, không vay mượn. Ngày nay, nhạc khúc "Kojo no tsuki" được dùng
làm thánh ca cho tự viện Monastère de Chevetogne xứ Bỉ.
Địa linh nhân kiệt
Về địa lư Oita (大分県)
là một vùng đất của miền Nam NB, nằm trên ḥn đảo Kyushu (九州),
kề bên Kumamoto (熊本)
và Fukuoka(福岡)không
cách núi lửa Aso (阿蘇火山)bao
xa. Như kể phần trên, tác giả Rentaro đă từng ra chơi trên di tích
của thành Oka lúc thiếu thời khi sống với gia đ́nh ở Oita. Như thế
sự gắn bó với nơi xưa đă ảnh hưởng đến tư chất con người sáng tác ra
nhạc khúc "Kojo no tsuki" chăng?
Di
tích thành Oka
Thành Oka được Ogata Koreyoshi (緒方惟栄)
xây vào cuối
thời
Heian (平安)
cách đây hơn 800 năm (1185) để bảo vệ Minamoto no Yoshitsune (源義経)
(2).
Thành đă đổi chủ nhiều lần. Năm 1334 họ Shiga (志賀)thời
Nam Bắc Triều chiếm cứ và khuếch đại với một lâu đài. Về sau thành
được họ Nakagawa (中川)
trấn đóng trong suốt thời Edo (江戸).
Đến khi Minh Trị Thiên hoàng duy tân, để thống nhất nước Nhật và phế
bỏ ảnh hưởng của tôn tộc Shogun Tokugawa (徳川),
thành nầy đă được lịnh phá hủy.
Cái nhan đề "Kojo no tsuki" (荒城の月)
rất hàm súc ư nghĩa lại rất thi vị trong tiếng Nhật. Người Tây
phương họ dịch là "Moon over the ruined castle", "the Moon over the
desolate castle" v.v. Đằng nào đi nữa cũng không kém. Tôi xin tạm
dịch là "ánh trăng soi sáng một hoang thành"....
Bản nhạc được Rentaro soạn dưới thể loại "cappella"(無伴奏),
dùng để đánh đàn nhưng không có lời. Về sau, Doi Bansui viết bài thơ
(lyrics) cho bản nhạc để trở thành một danh khúc cho đời sau.
Ngày nay bản nhạc xưa được Yamada Kosaku (山田耕筰),
sau đó
Watanabe Minako (渡辺美奈子)
chỉnh nhạc để có thể diễn tấu qua nhiều phương cách. V́ thế ta có
thể nghe “Kojo no
tsuki”
trong nhiều buổi ḥa tấu, ca nhạc ở thính đường qua string
instument, piano, flute, organ, hay trong rock concert như của band
"Scorpions" bằng "heavy metal".
Lúc nghe bản nhạc nầy diễn tấu bằng vĩ cầm, ta sẽ có cảm giác như
nhận được một thông điệp từ thiên đường gởi xuống, làm cho ḷng
người lắng đọng tưởng chừng như hạt sương ngưng trên lá. C̣n khi
nghe tŕnh diễn nhạc bằng flute đệm với đàn "koto"(琴) th́
đây là lúc để ta thả hồn theo bước chân của những anh hùng thiên cổ
đi qua băi chiến trường tàn lụi sau một trận tranh hùng khốc liệt….
Vài lời về Bansui người viết bài thơ
Khi Rentaro rời Đức, ghé London để lên tàu về nước v́
trọng bệnh, Bansui đang nghiên cứu bên Anh có đến thăm Rentaro.
Nơi đây ông được Rentaro đề nghị để ḿnh đặc lời "thơ" cho bản
nhạc.Thường ta hay thấy nhạc được phổ sau một bài thơ - thí dụ như
trường hợp bài "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan, VN ta. Trường hợp
"Kojo no tsuki" th́ ngược lại. Sau khi nghe nhạc khúc nầy, Doi
Bansui (土井晩翠)
như được gợi lại giấc mơ hay nỗi u uất xưa của chính ḷng ḿnh.
Tường thành Tsuru nay cỏ hoang mọc rong rêu bám
Bansui tốt nghiệp trường Đông Kinh Đế Quốc Đại Học (東京帝国大学)
- tức Tokyo University hay "Todai" ngày nay. Ông là một học giả
chuyên về văn chương Tây Phương - cũng rất thâm sâu về Hán và Nhật
học. Bansui lớn hơn Rentaro 8 tuổi, người Sendai (仙台).
Tên thực của ông là Tsuchii Rinkichi (土井林吉),
Bansui là bút hiệu. Trước khi đi du học ông là giáo sư Anh văn cho
trường trung học Ikubunkan (郁文館中学校)
- ngày nay là high school. Sau khi về nước ông trở thành giáo thụ
Trường Đệ Nhị Cao Đẳng (旧制第二高等)
- ngày nay là trường Tohoku University (東北大学),
Sendai (仙台).
Là một nhà thơ và nhà giáo dục có nhiều hoài bảo cho quê hương,
Bansui trút nhiều sức lực vào việc dịch thuật và sáng tác sau khi về
nước để nuôi dưỡng thế hệ mai sau. Ông lại là người có ḷng thương
yêu gia đ́nh đặc biệt. Doi Bansui có một người con gái không may
sống không lâu hơn bố. Lúc sinh thời cô ước rằng bố sẽ đổi cách đọc
của họ gia đ́nh từ "Tsuchi-i" (土井)
sang "Do-i" (viết cùng chữ) v́ tên nầy hay bị người khác đọc lầm.
Theo ước nguyện của ái nữ, ông đă đổi họ ḿnh sang "Doi" sau khi cô
ta qua đời.
Lúc được Rentaro yêu cầu viết lời cho bản nhạt "Kojo no tsuki",
Bansui liền liên tưởng đến thành "Tsuru" (鶴ヶ城;cũng
được gọi là Aizu Wakamatsu-jo) của Aizu Wakamatsu (会津若松),
tỉnh Fukushima (福島県).
Thời ấu niên ông đă từng được cha và tổ phụ kể cho nghe về trận
chiến "Boshin" (戊辰・mậu
th́n)(3), những thảm cảnh do chiến tranh mang đến cho thần dân của
thành nầy. Trong những năm học bậc Đệ Nhị Cao Đẳng, Bansui có đến
viếng di tích ngôi thành đă bị thiêu hủy tàn lụi. Ông bùi ngùi với
chuyện xưa và nhớ đến bài thơ của nữ sĩ Yamamoto Yaeko (山本八重子)(4)
ghi trên tường thành với một mũi tên: "Mai đây ai đến nơi nầy, c̣n
chăng chỉ có mănh thành dưới Trăng..."
あすよりは何処の誰か眺むらむ
なれし大城に残る月影
Qua sự cảm hoài trên, Bansui đặc bút viết bài thơ tôi xin tạm dịch
như dưới đây(5):
Chiều Xuân nhộn trên các đài cao
Thưởng hoa tay khách chén rượu đào,
Ảnh nguyệt xuyên cành tùng thiên kỹ
Giờ đây trăng đó sáng nơi nào?
Thu sương Dinh Trấn màu thẫm đỏ
kêu nhau chim nhạn
bao nhiêu cánh
Ngổn ngang cung kiếm gác giữa thành
Giờ đây trăng đó sáng nơi nào?
Đêm khuya dưới trăng thành quách đổ
Trăng sáng như xưa có nhớ chi?
Rong rêu tường mục vô nhân ảnh
Gió rung cành Tùng cất tiếng rao
Trên trời cảnh vật nào có đổi
Vinh quan phú quí đến bao lần
Chốn ấy giờ đây có khác xưa?
Trăng khuya thổn thức khóc hoang thành...
Nhờ có bài thơ trên người nghe nhạc càng hiểu thêm
tâm trạng của Rentaro khi soạn ra nó. Đồng thời bài thơ cũng cho ta
thấy cái khí khái của Bansui, một kẻ sĩ có ḷng trung hiếu với
truyền thống cổ lai. V́ thế ngày nay nhiều người c̣n nhắc đến ông
và tri ơn thi nhân như một anh kiệt của đất nước.
Đài các xưa kia dùng để ngắm hoa
Khi là một kiệt tác bài nhạc hay tự nó sẽ có chỗ đứng trên đời.
Bài nhạc "Kojo no tsuki" đă mang đến sự thanh tao huyền diệu cho tâm
hồn của người nghe. Như nhiều tinh hoa nghệ thuật của Nhật Bản, bài
nhạc nầy được người ngoại quốc ái mộ trước khi trở về làm điệp khúc
muôn thuở cho xứ Phù Tang.
Đối với người trí thức Nhật bài thơ của Bansui gợi
lại cái ưu ẩn của ḷng người sau bao năm chứng kiến nhiều đổi thay.
Qua 250 năm chế độ Mạc Phủ Edo ( (江戸幕府)
đă mang sự an b́nh thịnh vượng làm chói lọi cho văn hóa NB. Sự ra đi
của nhà Edo nào có khác ǵ với sự ra đi của nhà Đường hay nhà Minh
của Trung Hoa? Nh́n những lâu đài nguy nga bị sụp đổ thiêu hủy, kẻ
có ḷng người chắc phải sửng sốt chạnh ḷng! Thử hỏi người Tần nghĩ
ǵ khi nh́n Sở vương Hạng Vũ đến đốt thành Hàm Dương (咸陽宮)?
Bài thơ của Bansui gợi lại nỗi buồn của Vi Trang (韋荘)
qua câu than thở "Sơn sắc bất tri Tần uyển phế, Thủy thanh không
bàng Hán cung lưu" (6)
山色不知秦苑廢
水聲空傍漢宮流
Theo tôi nghĩ Rentaro và Bansui cả hai đều muốn phủ
một "giải khăn tang" để nhớ người quá cố của thành xưa - đó là Oka
và Tsurugajo!
Doi Bansui về hưu năm 1932 với chức Danh Dự Giáo Thụ ̣̣̣(名誉教授・Professor
emeritus) rồi tiếp tục viết và dịch sách. Sau Đệ nhị thế chiến nước
Nhật đổ nát, ông mất hết vợ con và niềm tin để sống. Nhà và kho
sách quí với trên 3 vạn cuốn đă bị thiêu hủy do máy bay Mỹ thả bom.
Sự thảm thương đó nào có khác ǵ với cái đă xảy ra trong thành
"Tsuru"(鶴ヶ城) khi
chủ thành và chiến sĩ trung liệt đă phải dựng kiếm ra hàng quân địch
hay tự hủy ḿnh? Để giúp đỡ Bansui, thị dân Sendai và đệ tử của
ông đă bỏ tiền ra xây lại ngôi nhà ông ở Sendai. Ngày nay nếu ta có
dịp lên vùng Tohoku th́ có thế ghé viếng thành Tsuru và căn nhà của
nhà thơ muôn thuở. Bansui mất ngày 19 tháng 10, năm 1952, hưởng thọ
được 81 tuổi.
Huỳnh Văn Ba
Mủa Đông 2010
Chú thích
(1)Theo Kawabata Yasunari trong "千羽鶴"
(Ngàn cánh Hạc) trang 240 có câu "山紫水明、竹田美人”
khi đề cập đến vùng đất của thành Oka.
(2) Minamoto no Yoshitsune(源義経)là
em khác mẹ của Minamoto no Yoritomo (源頼朝)
Shogun (将軍),
người lập ra chính quyền Mạc Phủ Kamakura (鎌倉幕府). Yoshitsune v́
chống anh nên bị Yorimoto cho lịnh truy nă phải bỏ chạy về Kyushu
được Ogata che chở trong thành Oka. Về sau ông tự tử bằng cách cắt
bụng.
(3) Cuộc chiến năm Mậu Th́nh (1868-69) giữa quân cần vương ủng
hộ Thiên hoàng Minh Trị và quân tá Edo Mạc phủ ủng hộ nhà Tokugawa (徳川).
(4) Yamamoto Yaeko là con gái của Yamamoto Gonpachi (山本権八)
- một pháo thuật sư (砲術師範・gunnery
instructor) trung thành với Aizu Han (会津藩).
Lúc thành nầy bị bao vây bởi quân cần vương Satsuma Han (薩摩藩),
bà đổi nam trang tham chiến cùng với ngưới anh. Sau khi thành Aizu
thất thủ, theo anh là tù binh bị thương và giam ở Kyoto để săn sóc
cho anh. Sau đó người anh được ân xá rồi cùng Niijima Jo (新島襄) lập
ra trường Doshisa (同志社大学)
- trường đại học công giáo đầu tiên ở Kansai. Bà ly hôn trước cuộc
chiến rồi tái hôn với Niijima. Trong đời sống sau thời chiến bà rất
tích cực với lối suy nghĩ Tây Phương, chủ trương "Lady first", ngoài
đường đi trước chồng và gọi chồng bằng first name (tên) v.v. V́ thế
bị sinh viên thời đó chế giễu và đặt cho nickname là "Nue" ( 鵺
- có
nghĩa là con thú không giống ai trong truyền thuyết NB), hay là "Ác
phụ", "Ác thê" . Tuy nhiên chồng bà rất tán đồng với quan niệm sống
của bà, đă từng viết cho bạn kể rằng: "nhà tôi tuy không phải đẹp
lắm, nhưng có lối sống rất là handsome….". Bà đă t́nh nguyện làm y
tá trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật và Nhật-Thanh. Con người có khí
khái nầy quả xứng đáng là một "nữ hổ tướng". Ngày nay có rất nhiều
drama diễn lại đời Yamamoto Yaeko, trong đó nổi tiếng nhất là "Onna
no tatakai - Aizu kara Kyoto e" (女のたたかいー会津から京都へ/Sự
tranh đấu của người phụ nữ - từ Aizu đến Kyoto)do
cô Kurihara Komaki (栗原小巻)
diễn và "Byakkotai"(白虎隊・bạch
hổ đội) do cô Tanaka Yoshiko (田中好子)
diễn.
(5) Lời thơ Nhật của Bansui:
1.
Haru Kōrō no Hana no En 春高楼の 花の宴 meguru Sakazuki, Kage sashite;
めぐる盃 かげさして chiyo no Matsu-ga-E, wake ideshi,
千代の松が枝 わけいでし Mukashi no hikari, ima izuko?
昔の光 いまいずこ
2.
Aki Jin'ei no, Shimo no iro, 秋陣営の 霜の色 nakiyuku Kari no, Kazu misete;
鳴き行く雁の 数見せて u'uru Tsurugi ni, terisoishi,
植うる剣に 照りそいし mukashi no Hikari, ima izu ko?
昔の光 いまいずこ
3.
ima Kōjō no Yowa no Tsuki 今荒城の 夜半の月 kawaranu Hikari ta-ga-tame zo
かわらぬ光 誰がためぞ Kaki ni nokoru wa tada Katsura
垣に残るは ただかつら Matsu ni utau wa tada Arashi
松に歌うは ただ嵐
4.
Tenjō Kage wa kawaranedo 天井影は かわらねど Eiko wa utsuru Yo no Sugata
栄枯は移る 世の姿 Utsusan tote ka ima mo nao
写さんとてか 今もなお Aa kōjō no Yowa no Tsuki
ああ荒城の 夜半の月
Tóm
tắt ư nghĩa bài thơ: (1) Ngày Xuân xưa kia trên lâu đài nguy nga đó
khách tấp nập vui say yến tiệc với chén rượu trong lúc xem hoa Anh
Đào nở. Nhưng giờ đây họ ở nơi nào sao chỉ thấy ánh trăng đêm sáng
soi qua cành thông cổ ngàn năm? (2) Nhớ ngày chiều Thu sương thấm,
cung kiếm vứt bỏ ngỗn ngang trên băi chiến trường (v́ không c̣n đủ
sức giữ thành), dưới ánh trăng đêm đoàn nhạn** bay đi bao nhiêu
cánh, trăng ơi trăng c̣n có nhớ chăng? (3) Nửa đêm trăng sáng v́ ai
trên bức hoang thành? Ôi tường thành nay đă cỏ mọc phong sương, bên
tai chỉ c̣n nghe tiếng thông reo. (4) Trên thiên đàng cảnh vật chẳng
đổi thay, dưới thế gian nầy hưng thịnh đă mấy lần di dời, ôi nào
khác ǵ với hoang thành dưới ánh trăng khuya. **Chim Nhạn (雁)
là loài chim đi tránh đông từ Bắc (như Siberia hay Canada) xuống
Nam. Tiếng Anh dịch từ nầy là "goose" như con ngỗng (eg. Canadian
Goose). Người Tàu và Nhật hay dùng nó trong thi văn. Trong Nam xưa
kia có lúc ám chỉ con chim én (yến), có lẽ v́ én cũng là loài chim
migration trong mùa đông chăng?
(6) trong bài thơ Hàm Dương Hoài Cổ (咸陽懷古). Nghĩa:
Núi non ơi người có biết chăng cung Hàm Dương đă bị thiêu hủy rồi?!
Kojo no tsuki có
lời
荒城の月~ Koujou no tsuki ~ The moon
over the ruined castle
Kojo no tsuki không lời
荒城の月(歌詩付き) / 大分県竹田市、岡城跡散策
Hana
花 (唱歌♪春のうららの隅田川)- 安田姉妹
Menuet
滝廉太郎 《メヌエット》/ Rentaro Taki Menuet 1900 (Piano:Eiko
SUDOH)
* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei
- Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong
gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên
về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh
Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi
khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những
lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp
nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại
Ohio.