|
Con c̣ng cọc
hay chim cốc
Huỳnh Văn Ba - Exryu USA (*)
(click
vào đây xem photo slide show)


ảnh từ Geogle
C̣ng cọc là loài chim nước cùng hệ với "bồ nông"
hay pelican, chân có màn, cổ họ có túi để chứa cá sau khi bắt .
C̣ng cọc sống hầu như ở trên mọi địa phận của Thế
giới, cả nước mặn lẫn nước ngọt - trừ Bắc và Nam Cực. Trong tiếng
Anh người ta gọi chim nầy là "cormorant" hoặc "shag", có danh pháp
khoa học là "Phalacrocoracidae" với số chi chưa được dứt khoát
(40?).
"Cormorant" có ngữ nguyên Latin là "con quạ
biển"(corvus marinus,).
Bên TQ con c̣ng cọc hay cốc được viết là "鸕鷀" hay
"鸕鷥" (âm Hán Việt: lô tư). Tục gọi là "đào hà" (淘河) hay "đào nga"
(淘鵝). C̣n có tên khác là "gia lam điểu" (伽藍鳥), "ô quỷ" (烏鬼) và "thủy
lăo nha" (水老鴉). Con chim ǵ rắc rối như chữ Hán 鸕biểu hiện cho nó
(27 strokes). Có lẽ v́ thế nên người Nhật họ tránh và dùng chữ "wasei
kanji" (made-in Hán tự) là 鵜 (đề) hay "う" cho gọn chăng?
Đặc điểm về chim nầy

Chim c̣ng cọc hay cốc lặn và bắt cá rất giỏi.
Trong hồ hay trên sông họ lội với phần dưới ch́m đến cổ. V́ thế khi
nh́n từ xa ta tưởng là những con rắn kỳ quái trong hồ Ness hay ống
nḥm periscope của tàu ngầm "tiềm thủy đỉnh". Có một điều lạ là chim
nầy không có túi dầu để giúp long chống thấm nuớc như các loài thủy
điểu khác. V́ thế sau khi lặn, chim phải t́m chỗ để phơi long cho
khô - thường là trên những đảo nhỏ, ngọn cây hay thành tàu (ở xứ tự
do only!). Khi đồng chí đồng đội đến gần với nhau họ hay "ko rô"
(quarrel - cải cọ) kọ kẹ tranh luận biện chứng như dân biểu "ngoài
ngoăi" nghe thật là vui tai... Đúng như tiến sĩ "Đực" nào đó thường
nói: "chẳng có "lô dzít" chút nào" - né sờ pa? (n'est ce pas?).
Bên Nhật họ gọi chim cốc là "u"(鵜 - đề )."Ukai"
(鵜飼 - đề tự) là nghề

Tranh cổ của Kumashiro Yuuhi (熊代
熊斐 – 1712-1773)
của "ujô" (鵜匠), tức là người nuôi con c̣ng cọc để
bắt cá "ayu"(鮎 – cá hương). Thường họ cột chim bằng dây để khỏi trốn
và trên cổ có cái ṿng để không cho chim nuốt cá như dân lao động ở
Bắc Hàn. Khi bắt xong ông "ujô" mới kéo chim lên ghe đ̣i lại cá như
ông làng xứ ta. So với cắn câu hay sa lưới cá hương được bắt như thế
nầy c̣n rất tươi v́ cá không chết hay bị thương (có người bảo là như
Việt kiều?). Thường ngư phủ đi săn cá vào đêm. Truyền thống nầy đă
có từ 13 thế kỷ trước ở bên Trung Quốc và NB. Theo tôi nghĩ ở xứ Cao
Ly và Việt Nam ta cũng có cách đánh cá tương tợ. Nhưng truyền thống
đó có c̣n hay mất là tùy dân nước đó có muốn giữ hay không thôi.

ông "ujô" của TQ vùng Quế Lâm đang
săn cá (ảnh từ Geogle)
Ngày nay bên Nhật và Trung Quốc có ngành du lịch
thu hút du khách đến các làng đánh cá do chim cốc "thực hiện" chẳng
thua ǵ những cuộc "tua sinh thái" (eco tour). Để làm được việc nầy
trước nhất ta phải biết bảo vệ chim c̣ng cọc - v́ nó chính là người
đóng vai chánh của vở tuồng kinh tế "xanh". V́ nếu không có con "c̣ng
cọc" th́ "cốc" có thứ ǵ để mà làm ăn! Tôi đố mấy cha t́m cho tôi
con tê giác con cọp nào c̣n sống ở xứ Tây Nguyên của ḿnh để làm "tua
dă sinh" như bên Ấn Độ hay Kenya. Ngay như rừng Thiên tổ tiên ta hy
sinh để bạo vệ, Mỹ bỏ bom bỏ thuốc cam cũng không chết, đă lần hồi
mọc chân t́m đường ḅ sang Thái Lan Trung Quốc để xuất ngoại. C̣n
lại là mảnh đất chết vàng khô chờ ngày trở thành xa mạc thôi...
Trong tiếng Anh nghĩa bóng của "cormorarant" là "kẻ
tham lam". Có lẽ hồi đó người ta thấy con c̣ng cọc bắt cá ăn tối
ngày, chỉ nghỉ để phơi long và cánh thôi. Theo tôi nghĩ, c̣ng cọc
hay chim cốc có hoạt tính metabolism cao như xe cần săn "high
octane". Để lặn được sâu thân chim không chứa mở (v́ mở nhẹ hơn nước).
Vả lại không có túi dầu như nói phía trên, để giữ cho cơ thể ấm nó
phải ăn thật nhiều cá mới đủ calorie. Đây là một điểm khác với con
người. Nhân loại có thứ thoái hóa, người ta ăn không cần nghĩ, ăn
không phải để sống mà để thỏa măn cái thú tính. Ăn đến sinh bịnh.
Cái tham của con người mới là không đáy. Với nghĩa đó con c̣ng cọc
chỉ làm theo bản năng do trời đặt ra thôi. Họ c̣n cao thượng hơn ta
nhiều. Né sờ pa?
Văn hóa ẩm thực xứ ta

mại dô món ăn hấp dẫn miền Tây
Xứ ta có nhiều món ăn "exotic" kỳ lạ. Người ta ăn
thịt cầy, chuột, chim, rắn rít, thú rừng không chủ, sâu bọ, con đô
la...."They eat everything" gần đến tuyệt chủng như ông giáo sư Đại
Học Cali - Mỹ (Joel Brinkley) nào đó có chỉ trích. Nhưng đây là văn
hóa ẩm thực của xứ tôi, các ông xía vào làm chi? Ở VN sau 75 bây giờ
chúng tôi cũng có nhiều "siêu xa" chạy ton ton trên xa lộ Đại Hàn,
biết uống rượu "cô nhác "XO"(nghĩa là ǵ ḱa?), biết ăn sushi và kim-chi
chứ bộ. Ai như dân nhà quê Hoa kỳ toàn chạy xe pickup truck, xe
hybrid, xe đời trước thế chiến, ăn hăm-ba-gờ, đồ oot-ga-nit
(organic), uống nước lọc chai....Ai văn minh hơn ai!?
Chuyện đời xưa
Ngày xưa lúc c̣n nhỏ ba má tôi đi buôn bán lam lủ
tối ngày không có nghỉ như nhà công chức "Ngụy". Anh em chúng tôi
được bà nuôi. Thỉnh thoảng bà dẫn chúng tôi về quê trong ruộng nơi
ấy có nhiều chim c̣ và thú dă sinh. Chính nhờ đó tôi mới biết được
con c̣ trắng, c̣ xanh, con vạc, con diệc, kênh kênh, bồ nông hay
chàng bè, b́m bịp, c̣ng cọc, le le, v.v. Khi nào cháu không nghe lời
bà tôi thường dọa là để cho con chàng bè ăn là bọn tôi sợ xanh mặt.
Xứ Ba Tri tôi hồi đó có nhiều khu rừng đước "mangrove", tràm, bần
nên chim tối về cả đàn bay mịt trời. Người dân quê thỉnh thoảng đi
lượm trứng chim và bẫy chim về ăn hay đem bán ngoài chợ. Tuy thế
trong nầy v́ sợ thánh thần nên họ không tham đến mức bắt chim ăn đến
tuyệt chủng. Nhờ có ḷng tin "dzu dzơ" vậy mà hay. Con cháu sau nầy
c̣n có dịp nh́n thấy được cái lạ của quê hương ḿnh.

Tôi rất phấn khởi khi đọc tin thấy một số huyện
trong Nam bắt đầu chú tâm đến việc bảo vệ môi sinh trong đó có cả
vườn chim, vườn khỉ. Bây giờ nhiều nơi được thăng cấp đến vườn quốc
gia. Tuy hơi trể nhưng c̣n tốt hơn không. Đúng là thời đại đổi mới
có khác phải không mấy chú khỉ đột, le le, bồng bồng? Khi nào có dịp
về thăm quê hương "ua" sẽ đến viếng những nơi nầy để thỏa ḷng nhớ
thương!
Let’s keep the dream alive nghe mấy chú….
Naruhodo!









|