|

Một Thoáng Tương Đối
Đoàn Tất Trung
Năm 2000
tạp chí Time đă chọn Albert Einstein là “Man of the Century”, người
có ảnh hưởng nhất trong suốt 100 năm. Điều này chẳng làm ai ngạc
nhiên, mặc dù trong thế kỷ này có những biến động lớn như hai trận
thế chiến (F. D. Roosevelt, W. Churchill), bom nguyên tử năm 1945,
con người lên mặt trăng năm 1969 …. Kể từ năm 1905 học thuyết của
Einstein luôn là đề tài được bàn tán. Tuy Einstein được giải Nobel
Vật Lư với lư thuyết lượng tử ánh sáng, Thuyết Tương Đối mới thật sự
là đỉnh cao trong sự nghiệp của ông. Einstein có hai Thuyết Tương
Đối, ra đời cách nhau 10 năm.
·
The Special Theory of Relativity (c̣n gọi là Special Relativity, tạm
dịch Thuyết Tương Đối Giới Hạn - TTĐGH) : 1905
·
The General Theory of Relativity (c̣n gọi là General Relativity, tạm
dịch Thuyết Tương Đối Tổng Quát - TTĐTQ) : 1915
Cả hai thuyết đều độc đáo, có tính
cách mạng, đột phá. TTĐGH phổ biến rộng răi, c̣n TTĐTQ th́ không v́
Toán và lư thuyết đều rất khó hiểu. Bài này giới thiệu một vài nét
về TTĐGH.
Nan đề của thế kỷ 19
Chúng ta biết rằng tốc độ là một lượng
tương đối. Nó có nhiều giá trị khác nhau tùy theo quan sát viên. Thí
dụ người bên đường thấy một chiếc xe chạy với tốc độ v=100 km/hr,
nhưng tài xế thấy ḿnh ngồi yên, v=0 km/hr. Nếu mỗi quan sát viên
được thay thế bằng một trục tọa độ, chúng ta có “Nguyên Lư Tương Đối”
của Galileo Galilei (1564 – 1642) cho các hệ quán tính. Giả sử
S(x,y,z) là trục tọa độ cố định và S’(x’,y‘,z’) là một trục di
chuyển với tốc độ v so với S theo chiều x.

Lúc t=0, 2 trục trùng nhau. Ở thời
điểm t một điểm P sẽ có 2 tọa độ (x,y,z) và (x’,y‘,z’), chúng có
liên hệ như sau.
x’ = x – vt hay x = x’ + vt
y‘ = y
z’ = z
Những công thức này được gọi là sự
chuyển hoán Galileo (Galileo transformation). Tuy đơn giản nhưng
nguyên lư tương đối có một ư nghĩa quan trọng : “thí nghiệm Vật Lư
tại một pḥng thí nghiệm cố định hay di chuyển với một tốc độ cố
định có kết quả như nhau”.
Nếu P di chuyển với tốc độ u so với S,
ta sẽ có
u‘ = u – v hay u = u‘ + v (u, u‘ ở đây có
nghĩa là ux, ux‘)
Thí dụ một người lái xe với v = 100
km/hr, ném một vật thể theo chiều x với tốc độ 50 km/hr. Người bên
đường sẽ thấy tốc độ của vật thể là 150 km/hr. Chúng ta có thể hiểu
những chuyện này một cách dễ dàng từ kiến thức tổng quát, không cần
tới vật lư. Nhưng … chuyện ǵ cũng có ngoại lệ. Giả sử người tài xế
thay v́ ném một vật thể, đă chiếu một tia sáng với tốc độ c =
300,000 km/s hay 3,600 * 300,000 km/hr. Theo lập luận vừa kể người
bên đường sẽ đo được tốc độ của tia sáng là v+c (100 + 3,600 *
300,000 km/hr). Nhưng … thực tế không phải vậy. Họ vẫn thấy tốc độ
tia sáng là … “c” ! Tại sao ? Chẳng lẽ nguyên lư của Galileo sai ?
Tại sao tốc độ của ánh sáng là tuyệt đối ?
Các nhà vật lư
của thế kỷ 19 điên đầu
v́ tốc độ tuyệt
đối của ánh sáng. Để
giải thích, họ cho rằng vũ trụ
được bao trùm bởi aether (c̣n gọi là ether). Theo suy luận
của họ đây là một chất
không màu, không mùi, không phản ứng
và nó là môi trường mà ánh sáng di chuyển.
Nhưng chẳng có
thí nghiệm nào xác nhận
được sự tồn tại của
aether. Lúc đầu họ nghĩ rằng do thí nghiệm không chính xác,
dụng cụ thô sơ … Nhưng
thí nghiệm năm 1887 của
hai khoa học gia người
Mỹ, Albert Michelson
và Edward Morley, đă chứng minh dứt khoát rằng tốc
độ của ánh sáng là cố định
300,000 km/hr. Họ cho ánh sáng
đi thẳng, rồi
ngược chiều và thẳng góc, với mục
đích t́m sự khác biệt trong tốc
độ do sự tồn tại (giả định)
của aether. Họ vẫn thấy tốc độ
ánh sáng là c=300,000 km/hr trong mọi
trường hợp và không xác nhận
được aether.
Mặt khác những công thức, phương tŕnh
chuyển động của Newton đều nhất quán (compatible) với sự chuyển hoán
Galileo. Vào thế kỷ thứ 19, qua lư thuyết điện từ, James Clerk
Maxwell đă lập ra 4 phương tŕnh, được gọi là phương tŕnh Maxwell.
Sự chuyển hoán Galileo không c̣n nhất quán với những phương tŕnh
mới này. Năm 1904 giáo sư người Ḥa Lan, Hendrik Lorentz, đă giải
quyết chuyện này bằng sự chuyển hoán Lorentz (Lorentz
Transformation) a).



v : tốc
độ của trục tọa độ S’ đo từ S.
t, t’ : thời gian đo theo hệ S và S’.
c = 300,000 km/hr là tốc độ của ánh sáng trong chân không.
ɣ c̣n gọi là hệ số Lorentz (Lorentz factor).
Nếu v=0, ɣ=1, sự chuyển hoán Lorentz
sẽ trở thành chuyển hoán Galileo. Công thức của ɣ cho thấy v phải
nhỏ hơn c, nghĩa là ɣ > 1.
Những công thức trên đây sẽ được dùng
nhiều lần trong bài này.

Albert
Einstein và Hendrik A. Lorentz (Nguồn internet)
Trong chuyển hoán Galileo, chúng ta
không chú ư tới t’, v́ coi t = t’ là chuyện đương nhiên. Nói cách
khác đồng hồ của người lái xe và của người đứng yên đều chạy như
nhau. Chúng ta đă quen với khái niệm thời gian là tuyệt đối. Dù có
đi máy bay phản lực, đồng hồ (hay thời gian) vẫn chạy như đang đứng
yên trên mặt đất. Khái niệm thời gian tuyệt đối này cũng là quan
điểm của Newton. Trong sự chuyển hoán Lorentz t ≠ t’, chẳng lẽ thời
gian không c̣n tuyệt đối ? Lorentz, người lập ra công thức này, đă
không dám phủ nhận quan điểm của Newton.
x ≠ x’
có nghĩa là ǵ ? Vật lư cổ điển của Newton quan niệm rằng không gian
và thời gian là tuyệt đối (hay bất biến). Nhưng sự chuyển hoán
Lorentz cho thấy cả hai đều thay đổi. Điều này có nghĩa là Newton …
sai ? Chúng ta nên nhớ rằng vào thế kỷ thứ 19, vật lư Newton đă ngự
trị hơn 200 năm. Liệu thành tŕ này có bị sụp đổ ? Lorentz đă cố
gắng giải thích công thức của ḿnh, nhưng bị coi là gượng ép, không
được chấp nhận, mặc dù Lorentz là một tên tuổi lớn, nhận giải Nobel
Vật Lư năm 1902 b).
Tóm lại cho tới đầu thế kỷ 20, những
câu hỏi sau đây không có câu trả lời.
·
Aether có thực sự tồn tại ?
·
Chuyển hoán Lorentz thay thế được
chuyển hoán Galileo, nhưng thách thức quan niệm tuyệt đối trong
không gian / thời gian của Newton. Newton sai hay Lorentz sai ?
·
Tại sao tốc độ ánh sáng là tuyệt đối ?
Thuyết Tương Đối Giới Hạn
Năm 1905 Einstein, lúc đó 26 tuổi,
đang làm việc tại Swiss Patent Office (Văn Pḥng Giám Định Bằng Sáng
Chế). Những lúc rảnh rỗi ở văn pḥng, Einstein thường đọc sách Vật
Lư. Anh chàng công chức này cũng nhức đầu cả năm trời với tốc độ
tuyệt đối của ánh sáng, sự hiệu lực của chuyển hoán Galileo /
Lorentz. Einstein đem thắc mắc này ra bàn với người bạn đồng nghiệp
là kỹ sư Michele Besso. Besso chẳng giúp được ǵ. Cuối cùng Einstein
tuyên bố với Besso là … “chịu thua”. Nhưng chỉ vài ngày sau Einstein
vui vẻ loan tin đă t́m được giải đáp. Năm tuần sau Thuyết Tương Đối
Giới Hạn (The Special Theory of Relativity) ra đời 4).
Tựa đề bài này được dịch qua Anh Ngữ là “On the electrodynamics of
Moving Bodies”. Bài nghiên cứu này chính là “The Special Theory of
Relativity”. Tháng 2 năm 1944 bản thảo viết tay của bài này bán đấu
giá được US $6 triệu. Số tiền này được tặng vào ngân quỹ chiến tranh
của Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến.
Thuyết này có 2 nguyên lư (postulate).
·
Định luật Vật Lư nghiệm đúng trên tất
cả hệ quán tính (inertial frame of reference).
·
Tốc độ của ánh sáng là cố định, c =
300,000 km/s, bất kể vị trí và tốc độ của nguồn sáng.

Einstein với người vợ đầu tiên Mileva Maric Einstein (Nguồn
internet).
Khảo Sát
* Nguyên
lư thứ nhất là tổng quát hóa nguyên lư tương đối của Galileo, bao
gồm phương tŕnh của Maxwell. Nó hàm chứa sự chuyển hoán Lorentz. Từ
hai nguyên lư này của Einstein, chúng ta có thể t́m ra công thức
chuyển hoán Lorentz. Có một sư trùng hợp trong lịch sử khoa học. Năm
Galileo Galilei qua đời cũng là năm Isaac Newton chào đời. Newton
tiếp tục sự nghiệp của Galileo. Năm James Clerk Maxwell qua đời cũng
là năm Einstein ra đời. Einstein thích lư thuyết điện từ của Maxwell
và Thuyết Tương Đối Giới Hạn của ông có khởi nguồn từ lư thuyết này.
Nếu tin vào công thức của Lorentz, có
nghĩa là Einstein dứt khoát phủ nhận quan niệm “không gian / thời
gian là tuyệt đối” của Newton. Và cuối cùng Einstein … đúng !
Nguyên lư thứ hai có ư nghĩa sâu xa.
Nếu chúng ta chấp nhận tốc độ ánh sáng là cố định, sự tồn tại của
aether không c̣n cần thiết. Nói cách khác Einstein khai tử khái niệm
này. Với kỹ thuật hiện đại ngày nay, chưa ai chứng minh được sự tồn
tại của aether.
Công thức của ɣ chỉ có nghĩa nếu v <
c, nên c = 300,000 km/s được coi là tốc độ tối đa mà chúng ta có thể
đạt được (universal speed limit). Cơ quan nguyên tử năng Âu Châu,
CERN, cách đây hơn 10 năm cho biết đă t́m được tốc độ của 1 hạt
nhanh hơn tốc độ của ánh sáng vài nanometer. Tin này làm chấn động
giới Vật Lư. Sau hơn nửa năm kiểm điểm kết quả thực nghiệm, họ cho
biết có sai sót trong tính toán. Cả thế giới thở phào !
* Length
Contraction (Khoảng cách rút ngắn) :
Trên một phi thuyền bay với tốc độ cố
định theo chiều x, chúng ta đặt một cây thước AB theo hướng di động.
Chiều dài của cây thước nh́n từ người trên phi thuyền là x’B
– x’A = l’. Chiều dài nh́n từ
người trên trái đất là xB – xA = l. Theo công
thức chuyển hoán Lorentz

v́ v < c. Có nghĩa là người trên trái
đất thấy chiều dài theo hướng x ngắn đi, trong khi chiều y, z không
thay đổi. Hiện tượng này được gọi là length contraction (hay
Lorentz-Fitzgerald contraction). Không gian không c̣n tuyệt đối
như quan niệm của Newton. Đây là h́nh minh họa.

Tốc độ càng tăng, chiều dài theo hướng di động càng rút ngắn
(những chiều khác không thay đổi). (Nguồn internet)
Trong đời sống hằng ngày chưa bao giờ
chúng ta thấy chuyện này v́ tốc độ mà chúng ta trải nghiệm quá chậm
so với tốc độ của ánh sáng. Hiện tại khoa học gia đă thực hiện được
99.99% tốc độ của ánh sáng cho những hạt cực nhỏ (subatomic
particle, 10-32 kg, Đại Học Stanford), trong một thời
gian thật ngắn. Dĩ nhiên không thể quan sát length contraction trong
trường hợp này.
* Time Dilation (Thời gian giăn nở) :
Thời gian giữa 2 sự kiện, Δt và Δt’
của 2 hệ S và S’, có liên quan như sau theo công thức của Lorentz.

(v́ ɣ >
1). Nghĩa là thời gian trôi chậm hơn trong một hệ di động. Hiện
tượng này được gọi là time dilation. Hiện tượng này có thể hiểu đơn
giản như sau : “Trên một hệ di động thời gian trôi chậm hơn. Tốc độ
càng nhanh, thời gian trôi càng chậm”. Nghĩa là thời gian không là
một lượng tuyệt đối như Newton nghĩ. Cũng như length contraction,
chúng ta không cảm nhận điều này khi di chuyển v́ tốc độ quá chậm so
với tốc độ của ánh sáng. Với những đồng hồ thật chính xác như đồng
hồ nguyên tử (atomic clock), hiện tượng này đă được xác nhận.
Năm 1971 hai nhà khoa học Mỹ, Joseph
C. Hafele và Richard E. Keating, đă xác nhận time dilation với thí
nghiệm bằng 2 đồng hồ nguyên tử. Một cái đặt tại US Naval
Observatory, một cái đặt trên phi cơ bay ṿng quanh trái đất trên vĩ
tuyến 39 với tốc độ 900 km/hr. Phi cơ bay theo 2 hướng đông và tây.
Sự sai biệt giữa đồng hồ trên phi cơ và đồng hồ trên mặt đất được
đăng trên tạp chí Science năm 1972 (nguồn Wikipedia).

Nếu chúng ta thay 2 đồng hồ nguyên tử
bằng 2 chị em song sinh, sẽ thấy một kết quả tương tự nhưng … rất
khó tin. Giả sử vào ngày sinh nhật 25 tuổi, cô chị đi du lịch trên
một phi thuyền với tốc độ 0.95c, cô em ở lại trái đất. Cô chị bay
tới một hành tinh cách trái đất 9.5 light years, sau đó quay về.
Light year là khoảng cách ánh sáng di chuyển trong 1 năm. Đối với
đồng hồ của cô em, phải mất 20 năm để bay khứ hồi. Nhưng v́ thời
gian trên phi thuyền trôi chậm, cô chị chỉ mất 6 năm 3 tháng để hoàn
thành chuyến bay ! Lúc tái ngộ cô em 45 tuổi, c̣n cô chị mới 31 tuổi
3 tháng (twin paradox) 2) d).
Ảnh hưởng của time dilation được bao
gồm trong tính toán vị trí của GPS (Global Positioning System, hệ
thống định vị toàn cầu).
Trong đời sống hằng ngày chúng ta
không thể cảm nhận được hiện tượng time dilation, v́ tốc độ mà chúng
ta trải nghiệm quá chậm so với tốc độ của ánh sáng, ɣ = 1. Cáng tiến
gần đến tốc độ của ánh sáng, sự khác biệt càng rơ. Theo công thức
của Lorentz, nếu đạt tới tốc độ của ánh sáng, ɣ trở thành vô cực,
thời gian sẽ ngừng trôi (trẻ măi không già !). Giả sử một trái táo
ĺa cánh, b́nh thường mất 2 giây để rơi xuống đất. Nếu thời gian
ngừng trôi, nó sẽ lơ lửng trong không gian vĩnh viễn hay vẫn rơi
theo định luật của Newton ? Chúng ta chỉ có thể đoán và dựa vào trực
quan, suy luận V́ tốc độ ánh sáng quá nhanh, rất khó thực hiện,
trong khi khoa học kỹ thuật cách đây 100 năm c̣n thô sơ chưa kiểm
chứng được, các nhà Vật Lư phải tùy thuộc vào lư luận. Đây là một
trong những lư do ra đời của ngành Lư Luận Vật Lư (Theoretical
Physics). Tuy không có cơ sở thực nghiệm, Einstein vẫn tin 100% vào
công thức của Lorentz, không phải v́ mù quáng mà v́ một khả năng đặc
biệt của Einstein. Từ những chuyện b́nh thường ai cũng biết,
Einstein có cái nh́n thấu đáo (deep insight) nhận ra bản chất của
hiện tượng. Không riêng Thuyết Tương Đối Giới Hạn, Einstein c̣n biểu
lộ khả năng này trong nhiều trường hợp khác.
* Có
hiện tượng đồng thời ? (Relativity of Simultaneity) :
Nguyên lư thứ 2 có một kết quả không
ngờ là “không có hiện tượng đồng thời”. Giả sử một phi thuyền bay
với tốc độ 0.8c. Ở giữa phi thuyền có một ngọn đèn. Lúc đèn bật lên,
đối với người trên phi thuyền, ánh sáng chạm đầu và đuôi phi thuyền
cùng một lúc v́ di chuyển cùng tốc độ và cùng khoảng cách. Đối với
người này, đây là hiện tượng đồng thời. Nhưng đối với người trên
trái đất, ánh sáng sau khi rời bóng đèn sẽ chạm đuôi phi thuyền
trước vi`sự di chuyển làm khoảng cách tới 2 đầu thay đổi. Nếu chiều
dài phi thuyền là 2L, người trên trái đất sẽ thấy thời gian ánh sáng
chạm đuôi là L/3c, c̣n thời gian chạm đầu phi thuyền là 3L/c, theo
sự chuyển hoán Lorentz 3). Nói cách khác “đồng thời” chỉ
là hiện tượng tương đối. Một hiện tượng “đồng thời” với người này
không c̣n “đồng thời” với người khác.
* Tương quan giữa khối lượng và năng lượng :
Dùng nguyên lư thứ hai chúng ta có thể
suy ra công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2. V́ c là
hằng số, năng lượng E tỉ lệ thuận với khối lượng m. Nói cách khác
năng lượng và khối lượng là hai hiện tượng có cùng một bản chất, hay
hai mặt của một đồng tiền. Năng lượng và khối lượng có thể chuyển
hóa qua lại. Trong phản ứng phân hạch của uranium, khối lượng trước
và sau phản ứng không được bảo toàn. Người giải thích được hiện
tượng này là nhà Vật Lư người Áo Lise Meitner. Bà cho rằng khối
lượng mất đi đă chuyển thành năng lượng theo công thức của Einstein.
Công thức đầy đủ của năng lượng E từ
thuyết tương đối là
E2 = (pc)2
+ (mc2)2
p = mv (xung
lượng, momentum)
Trong trường hợp photon (quang tử)
m = 0, E
= hc/λ (h : Planck constant 6.63 x 10-34 Js), λ : độ dài
sóng
à E = pc = hc/ λ à λ = h/p
Điều này có nghĩa là nếu coi vật chất
có thuộc tính của sóng (theo Louis De Broglie), độ dài sóng có thể
suy ra từ thuyết tương đối.
Nếu chúng ta chạy, đông năng tăng lên,
công thức E = mc2 chỉ ra rằng khối lượng m của chúng ta
cũng tăng theo. Nhưng sự khác biệt này quá nhỏ để nhận ra. Sau đây
là một câu chuyện thú vị.
Năm 2007 có người đă email cho giáo sư
Leonard Susskind (Đại Học Stanford) đặt một câu hỏi đại khái như sau
2).
“Einstein đă sai lầm khi cho rằng tốc độ ánh sáng là tối đa. Tôi có
viết thư cho bạn ông là Stephen Hawkins, nhưng ông ấy không trả lời.
Theo
công thức của Newton, F=ma, nếu F cố định, gia tốc a cũng sẽ cố định.
Nếu tôi đẩy một người nặng 220 lbs (khoảng 100 kg) với một lực cố
định 224 lbs force, người đó sẽ tăng tốc với một gia tốc cố định.
Nếu tôi đẩy liên tục trong một năm, người đó sẽ chạy mau hơn ánh
sáng. Chỉ dùng công thức của Newton, tôi đă chứng minh Einstein sai.
Xin ông giúp tôi xuất bản câu hỏi này ”
Trong lập luận của người này, khối
lượng m được coi là hằng số (theo Vật Lư Học cổ điển). Nếu áp dụng
công thức E = mc2 của Einstein, m sẽ tăng theo tốc độ.
Nếu lực F không tăng, người đó sẽ chạy chậm dần hay đứng lại. Nghĩa
là không thể đạt được tốc độ của ánh sáng. Năm 2017 gs Susskind dành
trọn một chương trong sách mới xuất bản của ḿnh 2) để
trả lời câu hỏi này. Ông không dùng công thức E = mc2.
Kết luận của ông là lập luận này sai.
Khối lượng m được sử dụng trong nhiều
công thức Vật Lư. Nếu nó thay đổi theo năng lượng, những công thức
này cũng phải có phiên bản mới (relativistic momentum / energy …).
E = mc2
là công thức suy ra từ lư luận. Nó có nghĩa là một vật thể dù nhỏ và
nhẹ vẫn không thể đạt tới tốc độ của ánh sáng (v́ khối lượng tiếp
tục tăng). Nói chung length contraction, time dilation và nhiều hiện
tượng nữa không thể quan sát, kiểm chứng được vào thời Einstein
c).
Chúng ta biết rằng
Vận
tốc

Nếu khoảng cách và thời gian thay đổi
cùng tỉ lệ, vận tốc sẽ bất biến. Đây là lư do tại sao tốc độ của ánh
sáng là tuyệt đối.
Trong suốt bài này, “tốc độ cố định”
được lập lại nhiều lần v́ Special Relativity chỉ nghiệm đúng cho
chuyển động thẳng, với tốc độ cố định. Chính v́ lư do này tôi tạm
dịch thuyết này là “Thuyết Tương Đối Giới Hạn”.
Tóm lại tuy Lorentz là người t́m ra sự
chuyển hoán Lorentz, nhưng người thấu hiểu và mang lại ư nghĩa sâu
xa cho nó chính là Einstein. Tuy TTĐGH không được tŕnh bày chi tiết,
bạn đọc cũng thấy rằng Einstein, chàng công chức 26 tuổi, đă giải
đáp được những nan đề của thế kỷ 19. TTĐGH và E = mc2 là
hai trong số năm bài nghiên cứu Einstein xuất bản năm 1905. Năm này
được gọi là “năm của phép lạ” (The Miracle Year).
New Jersey, tháng 8 năm 2024
Đoàn Tất Trung
Ghi Chú :
a)
Vế bên phải của những công thức
Lorentz đều có x hay x’ và t hay t’. Nên Einstein đưa ra ư niệm
“không thời gian” (spacetime). Tọa độ của một điểm không c̣n là (x,y,z)
mà là (ct,x,y,z). ct được dùng thay cho t v́ nó có cùng đơn vị với
x,y,z. Trong trường hợp này chuyển hoán Lorentz c̣n được viết dưới
dạng ma trận (Lorentz transformation matrix).

V́ tọa độ có 4 thành phần, nên được gọi là Four Position hay Four
Vector, sau đó là Four Velocity, Four Momentum, Four Force.
b)
Tuy Hendrik Lorentz là người lănh giải
Nobel Vật Lư, nhưng ngày nay người ta chỉ biết ông qua Lorentz
transformation, thông qua Thuyết Tương Đối của Einstein.
c)
Lư thuyết của Einstein độc đáo nhưng
lại không kiểm chứng được vào thời của ông. Điều này khiến nhiều
người đặt vấn đề với Lư Luận Vật Lư (Theoretical Physics). Năm 1936
nhà Vật Lư người Đức, Johannes Stark (Nobel năm 1919), đă viết báo
công kích Theoretical Physics, gọi đó là “Jewish Physics” (Vật Lư
Học của người Do Thái). Werner Heisenberg, giáo sư Đại Học Leipzig
và là nhà Lư Luận Vật Lư, đă phản bác. Ông liền bị gán là “White
Jew” và không yêu nước 5). Vào thời đó “white Jew” dùng
để chỉ những người không phải Do Thái nhưng có lập trường bênh vực
người Do Thái. Dưới chế độ Đức Quốc Xă, không những người Do Thái bị
bức hại, mà ngay chính người Đức cũng gặp rắc rối nếu không tỏ ra
trung thành.
d)
Theo tôi sự chính xác của GPS đă chứng minh hiện tượng time
dilation. Tuy nhiên tôi vẫn c̣n nghi ngờ về twin paradox. Quá tŕnh
lăo hóa của con người tùy thuộc vào thời gian mà chúng ta đang trải
nghiệm. Nếu thời gian bị làm chậm đi một cách nhân tạo bằng tốc độ
của phi thuyền, chắc ǵ quá tŕnh lăo hóa sẽ thay đổi đột ngột ?
Thượng nghị sĩ Mark Kelly của tiểu bang Arizona đă từng là phi hành
gia ở lâu nhất trong không gian. Lúc về lại trái đất, ông cao thêm
7cm ! Tôi có đi nghe ông nói chuyện. Ông ta tỏ ra vẫn b́nh thường.
Khoa học gia giải thích triệu chứng này là do lực thủy triều (tidal
force), tương tự như sự lên xuống hằng ngày của thủy triều, và cho
biết ông ta sẽ trở lại chiều cao b́nh thường.
Tài Liệu Tham Khảo :
1)
Randall D. Knight, “Physics for Sientists and Engineers”, vol. 4, 3rd
edition, 2013, Pearson.
2)
Leonard Susskind, Art Friedman, “Special Relativity and the
Classical Field Theory”, 2017, Basic Books.
3)
Jose Natario, “General Relativity Without Calculus – A Concise
Introduction to the Geometry of Relativity”, 2011, Springer.
4)
Walter Isaacson, “Einstein – His Life and Universe”, 2007, Simon &
Schuster.
5)
Richard Brennan, “Heisenberg Probably Slept Here”, 1997, John Wiley
& Sons.
Tựa đề cuốn sách này có một ư nghĩa đặc biệt. Tháng 5 năm 1945 vào
thời điểm Đức đầu hàng, quân đội Mỹ đă bắt và giam lỏng một số khoa
học gia hàng đầu của Đức tại Anh. Mục đích là để họ không bị bắt đưa
về Nga v́ hồng quân Nga tiến vào Berlin trước quân đồng minh. Đầu
năm 1946 họ được trả về Tây Đức.
6)
Length contraction - Wikipedia
7)
Một số tài liệu trên internet (Google,
Youtube).
|