|

Giai Thoại Của Một Số Nhà Khoa Học
Đoàn
Tất Trung
Lúc c̣n
trẻ tôi cho rằng Lịch Sử là môn học nhàm chán, v́ nó chỉ ghi chép
những ǵ đă xảy ra. Nhưng càng lớn tuổi, tôi càng say mê những đề
tài lịch sử. Lư do là có nhiều điều ḿnh chưa biết hoặc biết mà
không đúng. Thông tin từ sách báo nhiều lúc phải kiểm chứng lại. Gần
đây qua Youtube tôi biết được một số chuyện thú vị, chẳng có sách sử
nào ghi chép.
* Mạc Đĩnh Chi lúc đi sứ sang Tàu,
có qua sống ở Triều Tiên một thời gian ngắn và có … vợ con tại đây !
* Người Đại Hàn c̣n giữ bản thư
pháp viết cách đây 232 năm của học giả Phan Huy Ích.
* Cựu Tông Thư Kư Liên Hiệp Quốc
Ban Ki Moon (Phan Cơ Văn 潘基文) là hâu duệ của học giả Phan Huy Chú.
Trước đây
tôi chỉ biết hậu duệ của Hoàng Tử Lư Long Tường (đời nhà Lư) ở Đại
Hàn có liên lạc với VN. Một cách tổng quát tôi cho rằng sách của Mỹ
(hay Âu Mỹ) ghi rất rơ xuất xứ của sự kiện, để người đọc tham khảo.
Tuy vậy cũng có trường hợp người viết “sáng tác” ra chi tiết, hay
không t́m hiểu cẩn thận. Bài này trong phần nói về Newton, có đề cập
vấn đề bất nhất trong tư liệu.
Những
người nổi tiếng, ngoài khả năng vượt trội trong lănh vực nào đó,
cũng là người b́nh thường. Tuy nhiên đôi lúc họ có những giai thoại
độc đáo.
Trong 27
năm sống ở Vienne, Beethoven đă dọn nhà … 68 lần v́ không có tiền !
Ngày nay những chỗ Beethoven từng ở, có gắn một tấm bảng lưu niệm.
Giáo sư
Sigmund Freud thường ăn sáng ở một tiệm cà phê gần đại học nơi ông
dạy tại Vienne. Ở đây ông gặp đủ loại người, với những hoàn cảnh,
cảm xúc khác nhau : vui, buồn, nóng giận, chán đời … Chứng kiến cảnh
này một thời gian dài, ông quyết định chọn nghiên cứu Tâm Lư Trị
Liệu.
Robert
Oppenheimer (1904 – 1967) là nhà Vật Lư hàng đầu của Mỹ, nói được 8
thứ tiếng. Nhưng lúc cuộc Đại Suy Thoái (Great Depression) xảy ra
năm 1929, ông hoàn toàn không hay biết ! Mặc dù đó là một biến cố
kinh tế, xă hội lớn, ảnh hưởng nhiều nước trên thế giới. Ông chỉ
biết sự kiện này 6 tháng sau, lúc học tṛ ông không t́m được việc
làm.
Peter
Higgs, nhà Vật Lư người Anh 93 tuổi, biết tin ḿnh được giải Nobel
năm 2013 từ … một người hàng xóm ! Ủy ban Nobel không liên lạc được
v́ con trai ông vừa cắt dịch vụ điện thoại (rotary phone) và chưa
đăng kư cell phone. Ngoài cái điện thoại cũ kỹ, ông vần c̣n xài
analog TV !
Isaac
Newton (1642 – 1727)

Sir Isaac
Newton – nhà Toán Học, Vật Lư Học người Anh.
Newton là
nhà Toán Học, Vật Lư Học nổi tiếng, nhưng ông đă tạo ra tranh
căi v́
… có tật làm biếng viết !
Câu
chuyện trái táo :
Chúng ta
quen thuộc với Thuyết Vạn Vật Hấp Dẫn của Newton. Kèm theo đó là câu
chuyện về trái táo rơi. Theo truyền thuyết này, năm 1666 một hôm
Newton đang ở trong vườn nhà th́ chứng kiến một trái táo rơi từ cành
xuống đất. Đây không phải là chuyện lạ, và chắc cũng không phải lần
đầu Newton thấy. Nhưng ở giây phút đặc biệt đó, h́nh ảnh này đă tạo
ra những suy luận để sau đó ông đưa ra Thuyết Vạn Vật Hấp Dẫn.
Chuyện
này có thật không ? Nói có sách mách có chứng. Ở Mỹ rất dễ t́m câu
chuyện trái táo trong sách Vật Lư. Bản thân tôi đă đọc vài phiên bản
khác nhau, nên đă bỏ th́ giờ t́m hiểu. Có những phiên bản sau đây.
1)
1. Trái táo rơi trúng đầu,
làm Newton chú ư và suy luận. Bạn đọc có thể đă gặp những mô tả đại
khái như :
We’ve all heard the story. A young Isaac Newton is sitting beneath
an apple tree contemplating the mysterious universe. Suddenly – boink! -an
apple hits him on the head. “Aha!” he shouts, or perhaps, “Eureka!”
In a flash he understands that the very same force that brought the
apple crashing toward the ground also keeps the moon falling toward
the Earth and the Earth falling toward the sun: gravity.
Tạm
dịch :
Tất cả
chúng ta đều nghe kể chuyện này. Chàng Isaac Newton trẻ tuổi đang
ngồi dưới một cây táo, suy nghĩ về vũ trụ huyền bí. Th́nh ĺnh -
“bốp” – một trái táo rơi trúng đầu. Newton kêu lên “Aha”, cũng có
thể là “Eureka”. Trong một thoáng anh chợt hiểu rằng lực đem trái
táo chạm mặt đất, cũng là lực làm cho mặt trăng quay quanh trái đất
và trái đất quay quanh mặt trời : trọng lực.
Giả
thuyết
này
bị nhiều người (bao gồm Stephen Hawking) cho là đáng nghi ngờ v́
không có cơ sở. Nhưng cũng có sách, web site sử dụng.
2)
2.
Câu chuyện trái táo rơi là không có thật, theo “Isaac Newton – The
Last Sorcerer” của Michael White. Mặc dù tác giả xem xét nhiều chi
tiết liên quan nhưng vẫn cho rằng chuyện này đa phần là bịa đặt. Tác
giả không phải là người duy nhất có quan điểm này, mặc dù con số
không nhiều.
3)
“Tôi đang ngồi tư lự dưới một cây táo,
chợt loé lên ư nghĩ về trọng lực (notion of gravitation), cùng lúc
đó một trái táo rơi xuống đất. Tôi tự hỏi tại sao trái táo luôn luôn
rơi thẳng góc với mặt đất ?”
3.
Trên đây là lời kể của Newton với bạn ông, William Stukeley, một nhà
khảo cổ, một năm trước khi qua đời. Lúc đó Newton mời Stukeley tới
nhà ăn cơm. Sau đó hai người ra vườn, ngồi uống trà dưới một cây táo
và Newton đem sự tích này ra kể.
Stukeley
đă xuất bản tiểu sử của Newton năm 1752, “Memoirs of Sir Isaac
Newton’s Life”. Trong đó có kể về truyền thuyết này. V́ bản thân
Newton chưa bao giờ đặt bút viết câu chuyện này, nên cuốn sách của
Stukeley trở thành nguồn đáng tin cậy nhất và được nhiều người chấp
nhận. Năm 2010 Hiệp Hội Royal Society đă đưa cuốn sách lên
website của ho.

Sách của
William Stukeley, có thể đọc được trên website của Royal Society –
Nguồn : link
bên trên
V́ Newton
là người nổi tiếng, nhiều người ở xa muốn t́m gặp. Vào thế kỷ thứ
17, thư từ và giao thông rất chậm chạp. Có nhiều người tới Anh mà
không gặp được. Trong số này có Peter Đại Đế của Nga, nhà lập pháp
và phát minh người Mỹ Benjamin Franklin, Voltaire từ Pháp … Những
trường hợp này cháu gái của Newton là Catherin Barton thay mặt đón
tiếp. Cô này đem chuyện trái táo ra kể và từ đó nó lan ra khắp thế
giới. Riêng Voltaire đă viết một cuốn sách về Newton, trong đó có kể
chuyện này, “Elements de la philasophie de Newton” (1736).
Giáo sư
G.R. Keesing của Đại Học Oxford có một bài nghiên cứu công phu về
cây táo trong vườn nhà Newton, “The History of Newton’s apple tree”,
1998, Contemporary Physics.

H́nh chụp
cây táo phía sau nhà Newton ngày 21/3/1998 tại Woolsthorpe, phía bắc
London, bởi R.G. Keesing. Cây táo này được trồng lại. Cây nguyên
thủy đă bị đổ sau một trận băo khoảng năm 1817 – Nguồn : bài viết
nêu trên của Keesing.
2)
Tranh căi về Toán Giải Tích :
Cũng tại
làm biếng viết, Newton lại có một tranh căi khác. Lần này với nhà
Toán Học người Đức, Gottfried Wilhelm Leibniz. Cả hai đều cho rằng
ḿnh là người đầu tiên t́m ra Toán Giải Tích (vi phân, tích phân).
Leibniz bắt đầu nghiên cứu đề tài này từ năm 1675 và xuất bản “Nova
Methodus pro Maximis et Minimis”. Newton gọi môn toán này là “The
method of Fluxion” và xuất bản phương pháp này vào năm 1693 và 1704.
Tuy công bố trễ hơn, nhưng Newton cho biết đă nghĩ ra môn toán này
năm 1666, lúc 23 tuổi. Lúc đó ông chỉ viết bản thảo và không xuất
bản. Nội dung bài viết của hai người có hai cách tiếp cận khác nhau,
tuy cuối cùng cũng dẫn đến vi phân và tích phân. Vấn đề là những nhà
Toán Học bạn của Newton cũng giao thiệp với Leibniz. Newton cho rằng
qua những người này, Leibniz đă có được bản thảo của ông. Cuộc tranh
chấp sở hữu trí tuệ xảy ra. Tại Anh đa số ủng hộ Newton, vừa danh
tiếng vừa là hội trưởng của Royal Society. Leibniz là hội viên ngoại
quốc (foreign member). C̣n tại Đức và các nước Âu Châu khác, người
ta nghiêng về Leibniz v́ xuất bản đầu tiên.
Sau khi
hai người qua đời, các nhà Toán Học mở một cuộc điều tra và kết luận
cả hai đều t́m ra Toán Giải Tích môt cách độc lập, cùng khoảng thời
gian, không có chuyện sao chép. Ngày nay sách Calculus ở Mỹ đa số
ghi là của Newton, một số có phụ chú về Leibniz. Tuy nhiên danh từ
“Calculus” và những kư hiệu dùng trong vi phân, tích phân là của
Leibniz.


Hay là

Trong
định nghĩa trên vế tay trái là kư hiệu của Leibniz, vế tay phải là
của nhà Toán Học Pháp Joseph Louis Lagrange. Kư hiệu vi phân của
Leibniz lấy từ chữ Latin differentia, c̣n tích phân từ chữ
Summa.

Tượng của
Gottfried Wilhelm Leibniz và Isaac Newton trong khuôn viên của Bảo
Tàng Viện Museum of Natural History thuộc Oxford University – Nguồn
: Internet.
Albert
Einstein (1879 – 1955)

Albert
Einstein – nhà Vật Lư Học người Mỹ gốc Đức
Einstein
là người có rất nhiều giai thoại v́ tính cách độc đáo của lư thuyết
và con người ông.
1) Ư
tưởng tuyệt vời nhất của đời tôi :
Newton
nh́n trái táo rơi đă liên tưởng đến quỹ đạo của mặt trăng, trái đất
… và t́m ra Thuyết Vạn Vật Hấp Dẫn. Einstein cũng có một câu chuyện
tương tự. Năm 1907 trong lúc viết bài về Thuyết Tương Đối Giới Hạn (TTĐGH,
The Special Theory of Relativity), Einstein bỗng nảy sinh ra ư nghĩ
lạ : “Nếu một người nhảy từ nóc nhà, anh ta sẽ không cảm thấy trọng
lực”. Nguyên văn là
“…
Because for an observer in free fall from the roof of a house, there
is during the fall – at least in his immediate vicinity – no
gravitational field …”
Sau này
Einstein hồi tưởng lại
“I was
sitting in a chair in the patent office at Bern when all of a sudden
a thought occurred to me : If a person falls freely, he will not
feel his own weight. I was startled. This simple thought made a deep
impression on me. It impelled me to a theory of gravitation.”
Tạm dịch
“Tôi
đang ngồi trên ghế trong văn pḥng của Sở Cấp Bằng Sáng Chế ở Bern (thủ
đô của Thụy Sĩ), bất chợt một ư tưởng lóe lên trong tôi : Nếu một
người rơi tự do, anh ta không cảm thấy trọng lực của ḿnh. Tôi cảm
thấy bàng hoàng. Một ư tưởng đơn giản như vậy lại tạo một ấn tượng
sâu đậm trong tôi. Nó đưa tôi đến với lư thuyết về trọng lực.”
Nghĩa là
thay trái táo của Newton bằng một quan sát viện. Trái táo là vật vô
tri, nhưng quan sát viên có nhận xét và nhận xét này giúp Einstein
hoàn thành Thuyết Tương Đối Tổng Quát (The General Theory of
Relativity).
Einstein
gọi đây là “ư tưởng tuyệt vời nhất của đời tôi” (the happiest
thought of my life). Ở đây chúng ta thấy hai khoa học gia có hai
cách giải thích khác nhau cho cùng một hiện tượng.
2)
Không thời gian (Spacetime) :
Einstein
có những câu nói rất khó hiểu, thí dụ như “nếu không gian biến mất,
thời gian cũng biến mất theo”. Chúng ta thường hiểu “không gian” là
tập hợp của nhà cửa, phong cảnh … Nếu những thứ này biến mất, thời
gian vô h́nh vẫn c̣n đó. Trong một thời gian dài tôi không hiểu nổi
câu này. Phải mất th́ giờ t́m hiểu, tôi mới tạm cho là hiểu được sơ
sơ.
Trong đời
sống hàng ngày, khi dự định làm chuyện ǵ, chúng ta phải xác định
hai yếu tố : thời gian và địa điểm. Trong TTĐGH Einstein đưa ra ư
niệm “Không Thời Gian” (spacetime). Nghĩa là không gian không phải
chỉ có 3 chiều (x,y,z), mà là 4 chiều (t,x,y,z), với thời gian là
chiều thứ tư. Ư tưởng này độc đáo, nhưng cũng nêu lên nhiều vấn đề.
Chúng ta có thể hiển thị địa điểm (x,y,z) trên một trục tọa độ.
Nhưng làm sao hiển thị tọa độ của không gian 4 chiều ? Chúng ta có
thể thăm viếng một địa điểm (x,y,z) nhiều lần, nhưng với (t,x,y,z)
th́ sao ? Chẳng lẽ chúng ta có thể du hành về quá khứ ? Không có
định luật hay công thức Vật Lư nào cấm thời gian trôi về quá khứ,
nhưng liệu nó có thể trôi ngược chiều không ?
Trước
Einstein Vật Lư là môn khoa học chính xác, có thể cho biết bước kế
tiếp của một chuyển động (deterministic). Không có yếu tố mơ hồ.
Nhưng lư thuyết của Einstein mang lại nhiều khái niệm trừu tượng, mơ
hồ, thực thực ảo ảo ! Không Thời Gian là một thí dụ. Dù vậy Thuyết
Tương Đối đă được kiểm chứng trong suốt 100 năm qua và được chấp
nhận.
Ông thầy
Toán của Einstein thời đại học là Hermann Minkowski. Lúc đọc TTĐGH
ông tỏ ra ngạc nhiên, không ngờ cậu học tṛ làm biếng của ḿnh ngày
nào có những ư tưởng độc đáo như vậy. Ông đặc biệt thích khái niệm
Không Thời Gian. Ông dùng khả năng toán của ḿnh để nghiên cứu đề
tài này. Nghiên cứu của ông làm sâu sắc thêm TTĐGH. Ngày nay chúng
ta có Minkowski spacetime, Minkowski diagram, Minkowski metric …
Trong diền văn đọc tại Hội Nghị Khoa Học Gia (Congress of
Scientists) tại Đức năm 1908, ông có câu nói trở thành nổi tiếng
Henceforth space by itself, and time by itself, are doomed to fade
away into mere shadows, and only a kind of union of the two will
preserve an independent reality
Tạm dịch
Từ nay
về sau không gian, thời gian, tự nó, sẽ mờ dần thành một cái bóng.
Chỉ có sự kết hợp của cả hai mới tồn tại như một thực thể độc lập.
Sự kết
hợp (union) mà ông nói tới là khái niệm Không Thời Gian của
Einstein.
Ngoài
việc kết hợp không gian và thời gian, Einstein c̣n cho rằng không có
ngăn cách giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Nghĩa là cả ba cùng
tồn tại trong mọi thời điểm. Đây là quan niệm bên lề của cá nhân
Einstein, không phải lư thuyết hay công thức để có thể kiểm chứng,
nên không được khoa học gia quan tâm lắm. Điều làm tôi ngạc nhiên là
quan niệm này được đưa vào …. Triết Học !
Gần đây
tôi biết một số danh từ mới như Multiverse, Blocking Universe Theory
(BUT), Growing Blocking Universe Theory … Multiverse (Đa Vũ Trụ ?)
có lẽ được dùng để thay Universe, theo một thuyết mới trong thiên
văn ? Tôi không biết về Triết Học, nhưng đọc qua một bài giới thiệu
th́ thấy “Block Universe Theory” chính là Không Thời Gian của
Einstein, có điều nó không sử dụng Toán như Vật Lư. Tất cả những
định nghĩa dưới đây của BUT là từ TTĐGH.
According to the block universe theory, the universe is a giant
block of all the things that ever happen at any time and at any
place. On this view, the past, present and future all exist — and
are equally real.
How can this be?
The block has four dimensions: three spatial dimensions — say
length, height and width — plus a fourth temporal dimension, or
time….

(Trích từ bài viết “The
block universe theory, where time travel is possible but time
passing is
an illusion” của Kristie Miller, posted Sept. 1, 2018, Catalyst.)
V́ chúng
ta không thể hiển thị Không Thời Gian 4 chiều, trong h́nh trên một
chiều không gian (spatial dimension) đă bị bỏ bớt. Chiều cao và
chiều ngang là 2 chiều không gian, c̣n chiều dài là thời gian.
“Beginning of time” là điểm khởi nguyên của thời gian, lúc vũ trụ
được h́nh thành theo thuyết Big Bang. Mỗi sự kiện (t,x,y,z) là một
khoanh time slice trong h́nh bên phải. Đại khái bài viết này cho
thấy BUT là tên mới của TTĐGH của Einstein trong Triết Học và TTĐGH
cũng được trực tiếp đề cập.
Qua mô
h́nh này chúng ta bây giờ có thể hiểu được câu nói của Einstein :
“Nếu không gian biến mất, thời gian cũng biến mất theo”, nghĩa là
block universe biến mất.
Hideki
Yukawa (湯川
秀樹
1907 – 1981)
Chúng ta
biết trong hạt nhân nguyên tử (nucleus) có proton và neutron. Proton
được khám phá năm 1919 và neutron năm 1932. Tại sao các hạt proton
mang điện tích dương không đẩy nhau (repulsive force) để phá vỡ hạt
nhân ? Năm 1934 giáo sư Hideki Yukawa đưa ra giả thuyết có một lực
(nuclear force) nối kết những hạt này lại. Theo thuyết này, các hạt
proton và neutron liên tục phóng thích và hấp thụ một hạt trung gian
mà ông gọi là meson, lấy từ tiếng Hy Lạp mesos có nghĩa là “chuyển
tiếp”. Hạt meson chỉ tồn tại khoảng 1/100 của microsecond. Quá
tŕnh “phóng thích và hấp thụ” này đă tạo ra nuclear force. Cường độ
và tính chất (repulsive / attractive) của lực này tùy thuộc vào
khoảng cách của các hạt proton và neutron. Hạt nhân của đa số nguyên
tử an định v́ nuclear force này lớn hơn lực đẩy của các proton nhiều.
Thuyết này được biết dưới nhiều tên
Yukawa
theory of nuclear force
Meson theory of nuclear force
Exchange particle theory of nuclear force
Ông giảng
thuyết này tại Osaka University và sau này tại Columbia University
(New York).

Giáo
sư Yukawa trong một lần giảng bài tại Columbia University năm 1949 –
Nguồn
: Internet.
Năm 1947
trong lúc nghiên cứu về vũ trụ tuyến, các nhà Vật Lư của University
of Bristol ở Anh, Cecil Powell …, đă t́m ra nhiều hạt meson. Một
trong những hạt này, pi-meson hay pion, có khối lượng gần giống như
ước tính của Yukawa theory. Những thí nghiệm sau đó đă xác nhận
pi-meson chính là hạt trung gian trong lư thuyết này.
Năm 1949
ông trở thành giáo sư Columbia University và nhận giải Nobel cùng
năm. Điều đặc biệt là một người bạn cùng lớp thời sinh viên,
Shinichiro Tomonaga (朝永
振一郎,
1906 – 1979), sau này cũng nhận giải Nobel năm 1965.
Năm 1953 để thuyết phục ông về Nhật
làm việc, Kyoto University đă xây Institute for Fundamental Physics
Research (基礎物理学研究所) và mời ông làm Viện Trưởng (Director) đầu tiên.
Sau này viện đổi tên English thành “Yukawa Institute for Theoretical
Physics”.
Năm
2014 tấm bảng mà ông dùng để giảng Yukawa Theory tại Columbia
University được gởi về Osaka University để lưu niệm. Rất có thể là
tấm bảng trong h́nh trên. Đây là chuyện hi hữu. Thông thường sau 65
năm tấm bảng không c̣n nữa. Ở Mỹ các tổng thống lúc rời Ṭa Bạch Ốc,
có truyền thống mang chiếc ghế trong Oval Office về nhà làm kỷ niệm.
Trên đây là những chuyện xưa cũ, nhưng t́m hiểu họ chúng ta mới thấy
họ giải quyết nan đề một cách tài t́nh. Trong đời sống hiện tại, tôi
rất thích cách các chuyên gia điện toán giải quyết một số nan đề.
Thí dụ sau khi bạn mua vé máy bay và chọn chỗ, một giây sau không ai
có thể mua chỗ đó ! Chúng ta phải sign on nhiều website để mua sắm,
làm dịch vụ ngân hàng … Những thông tin cá nhân như user ID,
password chẳng có nghĩa ǵ với hackers. Nhưng tại sao chúng ta vẫn
có thể sử dụng dịch vụ online một cách an toàn (tương đối thôi) ? Đó
là nhờ lối giải quyết tài t́nh của các chuyên gia điện toán. Khoa
học, kỹ thuật phát triển không ngừng … Cũng có những người chỉ trích
lư thuyết của Newton, Einstein, Yukawa … chưa chắc họ đă đúng. Theo
tôi con người không ai hoàn hảo, những khoa học gia này đă có những
đóng góp lớn và có vị trí nhất định trong khoa học sử, dù một ngày
kia lư thuyết của họ bị lật đổ.
New
Jersey, tháng 11 năm 2022
Đoàn Tất Trung
Tài
liệu tham khảo :
Leonard
Susskind, Art Friedman, “Special Relativity and Classical Field
Theory”, 2017, Basic Books.
Một số
tài liệu trên internet.
|