|
|
Lá thư Bắc Kinh - 3 Đào Tơ (64, Tokodai) Lá thư từ Bắc Kinh kỳ này không phải được viết từ Bắc Kinh, mà từ tùm lum nơi, bất cứ nơi nào mà Skype có thể "chạy" được. Đó chỉ v́ một lư do rất dễ hiểu là, cứ nơi nào có Skype, mỗi lần tôi mở máy, bất luận máy của ai, desktop hay laptop, là y như rằng ERCT đều hiện lên "đ̣i nợ" - "Chị viết bài xong chưa?, sao lâu quá mà không thấy gửi?". Mới chân ướt chân ráo đến Melbourne, vừa được anh Trung đưa về nhà, hay một bữa đến thưởng thức món bún ḅ Huế ở nhà ông SB sau một buổi chạy bộ đua ở công viên gần nhà anh Trung, ngay cả đến lúc vừa về lại nhà ở Redwood, chưa kịp thở sau mười mấy giờ mất ngủ trên máy bay từ Sydney... cứ hễ đụng đến cái máy là y như rằng đă thấy ông chủ nợ đ̣i bài. H́nh như ERCT không bao giờ ngủ v́ giờ nào mở máy cũng thấy ông online. Hèn ǵ mà bài vở ERCT lúc nào cũng phong phú và "nóng hổi, vừa thổi vừa ăn". Thôi, tả oán ERCT đến đây
tạm đủ rồi, bây giờ phải
trở lại chuyên Bắc Kinh vậy. Lần trước
tôi viết đến đâu rồi nhỉ, và
đă hứa hẹn sẽ viết thêm những ǵ?
Nếu có hứa, th́ mấy lời hứa đó
chắc chắn đă "tan tành" theo
những cơn mưa lúc rả rít, lúc tầm
tả, theo những tiếng cười rộn
rả khi tay bắt mặt mừng với
những khuôn mặt đă một thời thân
quen, theo những giọt lệ âm thầm rơi
trong từng khoé mắt hôm đến thắp nén
hương trước bàn thờ vị sempai
khả kính, theo từng lượn sóng êm đềm
đập khẽ vào những băi cát trắng
mịn, theo những giọt mưa bong bóng trên
mặt biển xanh lơ... của khoảng
thời gian ngắn ngủi mà chan ḥa t́nh cảm
trong chuyến Úc du vừa qua. Nhưng dù có t́m
được cơ man nào là lư do để
khỏi viết "Lá Thư Từ Bắc Kinh
3" này, chắc tôi cũng không làm sao lọt
khỏi sự truy nả sát cánh của ông
chủ nợ tài t́nh ERCT, thôi th́ đành ráng bóp
cái đầu hai ba thứ tóc này mà nhă cho ra cái
bài đă lỡ hứa, về mùa đông đầu
tiên ở Bắc Kinh. Vừa trở về từ vùng cây cối xanh um một màu xanh mát mắt, nắng trong, nước ấm, băi cát trắng phau chạy dọc ven bờ biển với những hàng dừa và hàng dương lả lướt, mà lại phải nhớ lại mùa đông, nhất là mùa đông khắc nghiệt ở một nơi như Bắc Kinh, thật là một đề tài có sức hấp dẫn của một ly nước đá lạnh khi đứng đợi xe bus ngoài trời trong một hôm băo tuyết. Eo ôi, cứ tưởng tượng cái hôm đứng đón, không, phải nói là dành giật, taxi trong cái rét căm căm giữa một rừng người vào giờ tan sở của thành phố Bắc Kinh buổi tối trước ngày về lại Mỹ lần trước, tôi đă hết muốn trở lại thành phố đó. Tay quảy nặng những gói hàng mua vào giờ chót để mang về Mỹ theo lời yêu cầu của mỗi người quen, tôi không cách ǵ nhanh tay lẹ chân bằng đám người hăm hở ra về để tránh cái lạnh. < H́nh xe tương tự. Xe kể trong câu chuyện c̣n cũ kỹ và tệ hơn nữa>
Cuối cùng, không muốn đứng chết
lạnh giữa rừng người qua lại
đó, tôi đă mạo hiểm làm một
việc mà nhà tôi đă căn đi dặn
lại là không được làm: xiêu ḷng theo
lời mời của một ông lái cái xe - không
biết gọi là xe ǵ, chỉ biết nó là
một loại scooter, bên sau kéo thêm một
chiếc hộp vuông vức, bên trong có hai cái băng
có thể chứa 2 người ngồi, na ná như
xe lambretta của Saigon thuở trước, nhưng
thô sơ xấu xí và nhỏ hơn. Thấy tôi
đứng thiểu năo dành không nổi taxi, ông
trờ xe tới hỏi có đi không. Tôi lắc
đầu, một lần. Ông mời nữa, tôi
lắc đầu hai lần. Đến cái
lắc thứ năm thi cái hộp vuông vức như
cái ḥm của ông bây giờ trông có vẻ
hấp dẫn mời mọc làm sao: bên trong đó
chắc chắn phải ấm cúng hơn cái rét mà
tôi đang đương đầu không biết
cho đến lúc nào ngoài này. Tôi hỏi giá. Ông
hỏi tôi đi đâu. Tôi nói tên apartment của
tôi, ông không biết. Cũng phải thôi, v́
apartment của tôi khá mới, chưa đến
một năm. Tôi tả cách đi đến
đó, dùng tên Soho, cái apartment lâu đời
ở bên kia con đường mà ai cũng
biết để làm tham khảo. Ông nói 10 yuan. Tôi
nói taxi chạy cũng chưa hết 10 yuan (giá
thấp nhất của taxi là 10 yuan). Ông nói 8 yuan
vậy. Tôi tự mở cửa cái "ḥm" vuông
leo vào. Quẳng những gói hàng lên cái băng, tôi
thở phào, ḷng tự hào sẽ về khoe
với nhà tôi hôm nay tôi đă làm một việc
mà anh chưa hề hay chưa dám làm. Nhưng
niềm tự hào này sống chưa được
ba mươi giây th́ nổi hối hận không
nghe lời chồng đă bắt đầu nhen nhúm
trong tôi. Vừa bước chân vào, chưa
kịp kéo cái cửa rất lắc lẽo mà
mấy phút sau tôi mới biết là không hề
đóng kín bao giờ, một mùi thuốc lá
nồng nặc đă tấn công chiếc mũi
rất nhạy cảm của tôi. Và, tôi cả
quyết là nhiệt độ bên trong cái ḥm vuông
này không cao hơn bên ngoài đến 0.00001 độ
Celsius. Ngồi trong cái hộp lạnh ngắt, hôi
ŕnh, chạy cà ́ cà ịch không hơn tốc
độ đi bộ của tôi la bao này, tôi
chỉ c̣n mỗi an ủi là ít ra, rồi tôi cũng
sẽ yên ổn về đến nhà, thay v́
chạy đôn chạy đáo dành giật taxi hay
đầu hàng dậm chân tại chỗ đứng
chờ vận hên vớ được một
chiếc. Nhưng rồi niềm an ủi khiêm nhường
của tôi cũng ngắn số như ḷng tự
hào của tôi khi năy. Đến trước Soho,
cái apartment mà tôi đă đưa ra làm tham
khảo, ông lái ḥm không chịu đi nữa,
bảo là ban năy tôi nói đối diện với
Soho, thi bây giờ đến Soho rồi. Đúng là
đối diện, nhưng đây là một đại
lộ 2 chiều, với 4 lanes mỗi chiều, ngăn
đôi chính giữa bởi 1 bức tường
thấp kiên cố, muốn băng qua phải
đi bộ tới ngả tư cách đó hàng trăm
thước mới có cây cầu bắc ngang cho
bộ hành. Tức là nếu xuống xe nơi này,
tôi phải cuốc bộ mấy trăm thước,
leo cả trăm bậc thang lên cây cầu bộ
hành, băng ngang con đại lộ, leo xuống
trăm nấc thang, ṿng trở lại mấy trăm
thước nữa, vị chi là lội bộ thêm
tổng cộng cả cây số đường
nữa mới về đến trước
cửa ṭa apartment của tôi. Tôi phân trần
với ông lái ḥm như vậy và nhắc
rằng ông đă đồng ư chở tôi đến
bên kia đường th́ ông làm ơn giữ
lời giùm. Ông lầu bầu và nhất định
không đi. Bây giờ tôi mới hiểu v́ sao nhà
tôi một căn mười dặn bảo tôi
đừng bao giờ leo lên bất cứ loại
xe ǵ ngoài taxi. Tôi nhữ ông thêm hai yuan nữa th́
ông ngưng lầu bầu ngay, mở máy chiếc
xe cà tàng, theo ḍng giao thông như mắc cửi,
đánh ṿng chữ U qua ngả tư, đưa tôi
qua bên kia đường. Khi tôi khệ nệ mang
hàng mua sắm lên đến apartment ở tầng
29 của ḿnh, nhà tôi đă có mặt ở nhà
từ bao giờ và đang sốt ruột chờ
tôi. Trái với những lần trước, hôm
nay tôi không ba hoa về những "thành tích"
đă đạt được mỗi lần ra
phố một ḿnh nữa. Trở lại chuyện mùa đông
Bắc Kinh, bây giờ tôi chỉ c̣n mỗi
một an ủi là, giữa tháng hai, lúc tôi
phải trở lại nơi đó, th́ những
ngày lạnh nhất cũng đă trôi qua rồi.
Hơn nữa, tôi sẽ c̣n dư âm những ngày
nắng ấm ở Cairns để sưởi ḷng
trong lúc chờ mùa xuân đến. Tôi không rơ mùa
đông ở Bắc Kinh bắt đầu ngày nào
và sẽ chấm dứt lúc nào, nhưng tuần
lễ đầu tháng 11, khi tôi trở lại
Bắc Kinh sau gần hai tháng ở Cali, cái
lạnh đă đủ để trong nhà
phải mở máy sưởi. Thật sự, tôi
được cho biết là mỗi năm mùa
đông được "chính thức khởi
sự" vào ngày 15 tháng 11 dương lịch.
Đó là ngày mà các công sở và tất cả
những nơi cư trú thuộc sở hữu
của chính phủ, máy sưởi bắt đầu
được mở, trong tất cả những
tỉnh lỵ nằm về phía bắc con sông Dương
Tử. C̣n đối với nhà nước,
những tỉnh phía nam sông Dương Tử không
có mùa đông. Chắc chắn họ phải nghĩ
vậy, v́ ở tất cả những tỉnh
lỵ hay thành phố đó, không có hệ
thống sưởi do nhà nước cung cấp.
Những tỉnh nào ở sát phía nam con sông này,
như Thượng Hải chẳng hạn, th́ dân
đi làm công sở giữa những tháng mùa
đông cứ chịu khó mà ... co ro. Ngay cả
hiện tại, trong ṭa nhà tôi ngụ, mỗi
apartment đều được gắn liền
với hệ thống sưởi từ trung
ương, chung cho cả ṭa nhà. Hệ thống này
không do người cư trú điều khiển
mà được cơ quan nào đó mở
từ 15 tháng 11 đến cuối tháng hai hay tháng
ba ǵ đó và người cư ngụ không
phải đài thọ chi phí sưởi này. Ngoài
hệ thống này, c̣n có những đơn
vị sưởi cá biệt cho từng apartment mà
người cư ngụ có thể mở lúc nào
tùy ư. Dĩ nhiên, tiền sưởi này sẽ
phải do người cư ngụ apartment tự
đài thọ lấy. Mà cái lạnh ở Bắc
Kinh th́ thật ra cũng không thể cho là hơn
cái lạnh ở Missouri, một tiểu bang vùng
Midwest, nơi tôi đă cư ngụ mười
mấy năm khi đặt chân lên nước
Mỹ. Không phải cái lạnh ôn ḥa của
miền duyên hải, ở Missouri, đó là cái
lạnh khô buốt lục địa, làm lạnh
thêm bởi gió nồm thổi từ những cánh
đồng phẳng ĺ chung quanh, không có một
ngọn núi nào ngăn cản, c̣n ở Bắc
Kinh th́ là từ vùng sa mạc phía bắc thổi
xuống, khiến ḿnh cảm thấy cái lạnh
tăng lên như thể nhiệt độ
xuống hàng chục độ. Nhưng sự khác
biệt lớn nhất so với hồi tôi ở
Missouri là ở đó tôi không phải bước
chân ra ngoài đường một thời gian nào
dài đến độ không chịu nổi cái
gió cái lạnh chung quanh, v́ có đi đâu,
phần lớn vừa ra khỏi cửa đă bước
liền lên xe đậu ngay trong garage nhà ḿnh, lái
thẳng đến nơi muốn đi, thường
th́ chỉ phải bước vài bước, cùng
lắm cũng không quá một vài chục thước
đă vào đến bên trong. Một ngày trước khi tôi
phải đi lại Bắc Kinh, trời bên
ấy gửi xuống trần xấp xỉ hai
tấc tuyết, một kỷ lục trong
những năm gần đây, để gọi là
quà đón tôi trở lại sau gần hai tháng
trốn lạnh. Tôi được cho biết
đây là một trong khoảng 10 ngày hiếm hoi
mỗi năm mà bầu trời nơi đây trong
xanh nhất, v́ sau khi tuyết rơi nhiều như
vậy, không khí như được lọc
sạch những chất ô nhiễm. Khi máy bay
đáp xuống phi trường Bắc Kinh,
giọng cô chiêu đăi viên nhỏ nhẹ báo
nhiệt độ bên ngoài vừa vặn trừ
hai mươi bốn độ C. Thế là cái
niềm vui c̣n sót lại của tôi - rằng khi tôi
trở lại Bắc Kinh, th́ những ngày
lạnh nhất đă qua rồi - cũng đă
cao bay xa chạy. Tuy vậy, tôi quyết định
t́m niềm an ủi khác. Khi từ phi trường
về nhà, qua cửa kính xe, thấy hai bên
đường tuyết đă được
dọn sạch sang hai bên lề thành những
đóng băng khổng lồ, tôi níu lấy
niềm an ủi mới, rằng ít ra tôi cũng
không phải h́ hà h́ hục lội trong hai
tấc tuyết những ngày sắp tới khi
phải đi bộ ra đường. Có lẽ nhờ vào niềm an
ủi này mà hai ngày sau đó, tôi gồng cái
lạnh theo nhà tôi đi xem Hội Hoa Đăng,
một lễ tổ chức vào rằm tháng giêng
mỗi năm, đánh dấu ngày liên hoan cuối
cùng của Tết Nguyên Đán. Đây là lễ
mà ngày xưa nhà nhà treo đèn lồng đốt
bằng đèn cầy, ăn chè trôi nước,
và con nít xách đèn lồng đi chơi như
Tết Trung Thu bên ḿnh. Bây giờ dĩ nhiên người
ta không treo đèn lồng ở nhà, mà tôi cũng
chẳng thấy đứa con nít nào xách đèn
lồng đi chơi, chỉ c̣n bánh trôi nước
th́ thấy có bán ngoài chợ để người
ta mua về nấu chè. (Tôi phải mở dấu
ngoặc nói thêm về chè trôi nước của
người Tàu: na ná như chè trôi nước
của Việt Nam ḿnh, khác ở chỗ là nước
chè lạt nhách v́ không có đường, và
mỗi viên bánh th́ nhỏ hơn, đường
kính chừng 2.5 cm, bên trong có nhân đậu đỏ,
đậu phọng pha đường cát hột,
hay mè đen). Hội Hoa Đăng bây giờ
đă chuyển ra bên ngoài phạm vi của
mỗi gia đ́nh với quy mô rộng lớn hơn
nhiều, do các đoàn thể của cộng
đồng địa phương và các cơ
sở thương măi hợp tác nhau, thành một
chương tŕnh lễ lộc hàng năm kiểu
như Tết Nguyên Đán của cộng đồng
Việt Nam ở San Jose bây giờ. Cái khác là
yếu tố chính và hấp dẫn nhất ở
đây là những đèn lồng, nên Hội Hoa
Đăng được diễn ra vào lúc
trời bắt đầu chạng vạng cho
đến khoảng nửa đêm. Tôi cũng
đă có đi xem Hội Hoa Đăng trong
mấy năm hai vợ chồng tôi làm việc
ở Đài Loan 7, 8 năm về trước.
Hội Hoa Đăng ở đó được
diễn ra nơi chiếc sân rộng thênh thang
trong đền kỷ niệm Tưởng Giới
Thạch. Ở Bắc Kinh ngày nay Hội Hoa
Đăng được tổ chức lớn
nhỏ nhiều nơi, nhưng có lẽ to
nhất là trong công viên vĩ đại thuộc
khu Triều Dương, một trong những khu thương
mại cũng như cư trú lớn nhất
Bắc Kinh. Bây giờ xin nói thêm về hai chữ
"đèn lồng". Dĩ nhiên, đèn ở
đây không được đốt bằng
đèn cầy nữa, mà là đèn điện. C̣n
về h́nh dạng, và nhất là kích thước,
chỉ có những chiếc đèn treo cao hai bên các
con đường trong công viên là có h́nh thù
của những chiếc đèn, tuy kích thước
có hơi khổng lồ so với đèn
đường thông thường. C̣n những
"chiếc đèn" triển lăm kia ư?
đó là lại là chuyện khác! Không
thể xếp trong phạm vi định nghĩa
của danh từ "đèn" nữa, đây là
những h́nh vật đủ cỡ với
những h́nh thù từ các động vật
nhỏ, xinh như bươm bướm, ong,
chuồn chuồn, ..., chó, nhất là chó, cho năm
Bính Tuất, đến những ṭa kiến trúc
khổng lồ như tháp chùa cao hàng mấy
tầng, cung điện,..., cả đến không
thuyền. Không thể đến sát bởi
những dây thừng bao chung quanh không cho
người xem đến quá gần, tôi không
biết những đèn triển lăm đó làm
bằng ǵ. Có thể là giấy, nhưng tôi nghĩ
đúng hơn là một loại hàng vải
chắc chắn nhưng đủ mỏng để
ánh đèn lọt qua. Tôi đoán cũng phải
đến hơn trăm đèn triển lăm như
vậy, với đủ màu đủ kiểu,
phần lớn đứng yên nhưng cũng không
ít những đèn múa may di động, như
đèn mô tả một số nhân vật trong Tam
Quốc Chí. Trời lạnh như cắt,
những con kinh trong công viên đóng băng
một màu xám ngắt, nhưng chung quanh tôi, người
xem dập d́u tấp nập, ai ai cũng có vẻ
hớn hở vui tươi, nhất là các em bé
được bố cồng kềnh lên vai,
được nh́n rơ mọi vật hơn ai
hết. Đi trong cái lạnh một hồi,
cảnh vật chung quanh có hấp dẫn mấy,
hai tay tôi đă bắt đầu cóng và chân
đă mỏi. Vừa muốn đ̣i với nhà tôi
ra về, th́ tôi thấy, trong đám người
tới lui như mắc cửi, những cây
kẹo bông g̣n trắng toát như mây. H́nh
ảnh những buổi tối bon-odori của bao
nhiêu ngày hè ung dung thuở nào bỗng kéo nhau
trở về trong kư ức, làm ấm lại ít
nhiều cái không gian mờ mờ ảo ảo
của cơ man nào là ánh đèn màu chung quanh tôi,
giục tôi mau chân len lỏi chen cho được
vào gian hàng bán kẹo bông g̣n. Một tay cầm cây
kẹo đôi lúc bị gió thổi tạt qua
một bên, cắn một miếng cho nó tan ngay trên
đầu lưỡi, hân hoan và măn nguyện như
đứa bé vừa được mẹ cho quà
từ chợ về, tay kia ngoan ngoăn níu tay nhà tôi,
tôi im lặng theo anh đi xem tiếp số đèn
c̣n lại. Khi nhà tôi tuyên bố đă xem hết
các đèn hôm ấy, tôi nghe ḿnh thở phào
thật nhẹ. Hai vợ chồng lại níu tay
nhau tươm tả đi ngược ḍng người
vẫn c̣n nườm mượp tiến vào công
viên, để ra đầu cổng t́m taxi ra
về. Cơm tối hôm đó, dĩ nhiên chúng tôi
tráng miệng bằng chè trôi nước, nhưng
nấu theo kiểu Việt Nam, tức là trong nước
chè có bỏ đường thẻ nâu và rất
nhiều lát gừng thái mỏng, vừa thơm
nức lại vừa ấm bụng. Cái lạnh nhất của mùa
đông đă qua rồi, mấy hôm nay tôi cứ
nghe người chung quanh trấn an tôi như
vậy. Và họ c̣n báo thêm cho tôi biết
rằng cái nóng khắc nghiệt của vùng
lục địa rồi sẽ đến không
bao lâu sau đâu, trước khi tôi kịp
chuẩn bị tâm tư để chờ đón
nó! Tôi nghĩ thầm tôi sẽ đương
đầu với cái nóng về sau, bây giờ tôi
chỉ biết là tôi sẽ bằng ḷng đổi
cái lạnh này để lấy bất cứ mùa
nào của những ngày c̣n lại trong năm. Bắc Kinh, tháng hai năm 2006. Cảm tưởng xin gởi
về : dt@erct.com |