- Bài Cầu Hợp Đồng (Contract Bridge) -

Đặng Lương Mô

(Life Master , Japan Contract Bridge League)

1. Mở đầu

Nhà văn người Anh Somerset Maugham đă từng viết: "Bridge is the most entertaining game that the art of man has ever devised" (Bài Cầu là tṛ chơi lư thú nhất mà tài nghệ của con người đă sáng chế ra). Một mặt, ai đă đọc tiểu thuyết bí ẩn (mystery) Anh-Mỹ hẳn đă gặp nhiều cảnh chơi Bài Cầu rồi. Nói khác đi, nếu không hiểu thấu tṛ chơi này, th́ sự thưởng thức tiểu thuyết bí ẩn Anh-Mỹ như vậy cũng có phần nào kém lư thú. Bài Cầu là một tṛ chơi trí tuệ khá phổ biến ở các nước Âu Mỹ, nên ngôn ngữ của Bài Cầu nhiều khi đă trở thành ngôn ngữ thông dụng. Một ví dụ thường được kể ra, là từ Grand Slam. Từ này được dùng trong Bóng Chày (Dă cầu, Baseball) có nghĩa là Home Run. Khi dùng trong Golf, hay trong Tennis, nó nghĩa là đoạt cả 4 giải lớn thế giới.

Bài Cầu là tṛ đánh bài duy nhất được chơi trên khắp thế giới bằng cùng một quy luật nhất định, dùng cỗ bài tây. Hiện nay, Bài Cầu thịnh hành nhất ở Mỹ, rồi đến Anh (nơi phát sinh ra Bài Cầu), và các nước Âu châu khác. Trong các nước Âu châu, th́ Italia đă có thời kỳ làm mưa làm gió trên thế giới với hệ thống rao giá nhân tạo (artificial bidding system) cách mạng, một Hệ thống Chuồn Nhân tạo (artificial club system) gọi là Blue Club (Chuồn Xanh). Ở châu Á, th́ Bài Cầu thịnh hành ở Ấn độ, Pakistan , tức là những nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa tiếng Anh. Pakistan là nơi đă sản xuất ra một tay chơi Bài Cầu vô địch thế giới trong nhiều năm gần đây. Trung Quốc cũng là nơi có khá nhiều người chơi Bài Cầu v́ ảnh hưởng của nhà lănh đạo giai đoạn mở cửa Đặng Tiểu B́nh. Ông này là người say mê chơi Bài Cầu. Một tay chơi Bài Cầu gốc người Hoa ở Mỹ đă sáng chế một Hệ thống Chuồn Nhân tạo phổ biến trên khắp thế giới gọi là Precision System (Hệ thống Chính xác). Nhật Bản cũng là nước khá thịnh hành môn chơi Bài Cầu này. Ngoài ra, Philippines , Hongkong,... cũng là những nơi có đội ngũ tay chơi Bài Cầu mạnh mẽ, thường hay đoạt những giải quan trong của khu vực. Tiếc rằng ở VN hiện nay, tṛ chơi Bài Cầu hầu như chưa được biết đến.

Singapore Contract Bridge Association

Tṛ chơi bài bằng cỗ bài tây có thể chia làm hai loại khác nhau. Loại thứ nhất, đại diện bởi X́ Phé (poker), là tṛ chơi trong đó các tay chơi đọ nhau một bộ 5 cây bài và sự hơn thua được quyết định bởi tổ hợp (combination) khác nhau của 5 cây bài đó. Trong loại thứ hai, mà đại biểu là Bài Cầu (bridge), th́ sự hơn thua được quyết định bằng số ṿng bài (trick) ăn hoặc thua; mỗi ṿng bài là một lần ra bài bởi tất cả các tay chơi của bàn bài (table). Nếu Xí Phé đáng được gọi là tṛ cờ bạc (gambling) th́ Bài Cầu xứng đáng là tṛ chơi (game), tṛ giải trí (entertainment). Xí Phé sẽ trở nên "nhàm" nếu không có cá độ, trong khi Bài Cầu là tṛ chơi thuần túy trí tuệ, có đậm tính chất toán học, không cần cá độ mà vẫn lư thú.

2. Sơ lược về Bài Cầu

Bài cầu (Bridge) có nguồn gốc là Whist, một tṛ chơi dùng bài tây ở Anh và đă phát triển thành h́nh thức như ngày nay vào những năm 1930, 1940.

Bài Cầu dùng cỗ bài tây (card deck) bỏ những cây Giô-kề đi, tức là cỗ bài với 52 cây bài, và do 4 người, hoặc tay chơi (player), chơi. Bốn tay chơi như vậy làm thành một bàn (table). Họ ngồi đối diện nhau vào bốn vị trí với tên gọi thứ tự theo chiều kim đồng hồ là Bắc (North, N), Đông (East, E), Nam (South, S), Tây (West, W). Bốn tay chơi chia làm hai phe (partnership), hoặc cặp (pair), gọi là cặp Bắc-Nam (NS pair) và cặp Đông-Tây (EW pair). Sau đây, để tiện, ta sẽ gọi tắt hai cặp này là cặp BN và cặp ĐT. Mỗi ván bài (deal) là một lần chơi, theo đó cỗ bài 52 cây được chia đều cho 4 tay chơi để cho mỗi tay chơi nhận được một mớ bài (hand) 13 cây bài. Một ṿng bài (trick) là 4 cây bài mà 4 tay chơi mỗi người đưa ra một cây. Người nào có cây bài cao nhất sẽ thắng, tức là ăn (win) ṿng bài đó.

Cỗ bài 52 cây chia làm 4 chuỗi bài (suite), thứ tự từ trên xuống dưới là Bích (Spade, S), Cơ (Heart, H), Rô (Diamond, D), Chuồn (Club, C). Bích và Cơ gọi là chuỗi Trưởng (major suit) trong khi đó Rô và Chuồn là chuỗi Thứ (minor suit). Thứ tự cao thấp của các cây bài trong mỗi chuỗi bài là Ách A (Ace), Vua K (King), Đầm Q (Queen), Giô-kề J (Jack), Mười (10 , Ten), Chín (9, Nine), Tám (8, Eight), Bảy (7, Seven), Sáu (6, Six), Năm (5, Five), Bốn (4,  Four), Ba (3, Three), Hai (2, Two hoặc Deuce).

3. Cơ chế vận hành

Trong mỗi ván bài (deal), một trong 4 chuỗi bài sẽ được chỉ định làm chuỗi trùm (trump suit) hoặc giản đơn là trùm (trump). Chuỗi trùm được chỉ định bằng một cuộc đấu giá (auction). Cách thức đấu giá sẽ được giải thích sau đây. Chuỗi trùm là chuỗi bài có uy lực tuyệt đối trong ván bài nhất định đó. Trong khi tất cả những cây bài của chuỗi trùm vẫn có thứ tự trên dưới như đă kể trên, mỗi cây bài trùm, dù là cây Hai, đều ăn được những cây bài của các chuỗi khác, kể cả cây Ách của các chuỗi khác ấy.

Người nào ăn ṿng bài trước sẽ được quyền dẫn (lead) ṿng bài kế tiếp. Những người khác mỗi người sẽ phải chơi một cây bài trong cùng chuỗi với người dẫn bài. Việc xuất ra cây bài cùng chuỗi như thế gọi là theo chuỗi (follow suit). Trường hợp không có cây bài nào của chuỗi đó, người chơi có thể đưa một cây bài của bất cứ chuỗi bài nào khác, kể cả một cây của chuỗi trùm. Sự đưa ra cây bài không cùng chuỗi với cây bài của chuỗi được dẫn, trừ chuỗi trùm, gọi là loại bỏ bài (discard). Trong khi đó, việc dùng bài trùm để thắng ṿng bài, gọi là trùm (trump).

Trường hợp có một hay nhiều người đưa bài trùm ra, th́ người đưa cây bài trùm cao nhất, sẽ ăn ṿng bài đó.

Sau khi chơi hết cả 13 ṿng bài của một ván bài, th́ số ṿng thu hoạch được của mỗi cặp sẽ được tổng kết. Sự thắng bại của mỗi ván bài sẽ được giải thích dưới đây.

Mỗi ván bài được tiến hành chia làm 2 giai đoạn: đấu giá (auction) và chơi (play).

4. Đấu giá mua hợp đồng.

Giả sử một người lănh phận sự người chia bài (dealer) và coi như bài đă chia xong rồi. Cuộc đấu giá bắt đầu từ người chia bài. Mỗi bên BN và ĐT sẽ nỗ lực đấu giá để đoạt được hợp đồng (contract) cao hơn, hoặc lấy một chuỗi bài làm chuỗi trùm hoặc không chỉ định chuỗi trùm nào cả. Hợp đồng có một chuỗi trùm được chỉ định, gọi là hợp đồng chuỗi (suit contract). Hợp đồng trong đó không có chuỗi trùm nào được chỉ định cả, gọi là hợp đồng phi-trùm (no-trump contract).

Như trên đă nói, mỗi ván bài có 13 ṿng bài. Vậy, nếu thế lực quân bằng th́ ắt mỗi bên BN và ĐT sẽ ăn được một nửa số ṿng chơi đó. Bên nào có bài tốt hơn, nghĩa là có nhiều quân bài cao, sẽ có hi vọng ăn được nhiều ṿng hơn.

Đấu giá là đưa ra những lời trả giá (bid) cao hơn. Giá cả được tính như sau.

V́ một nửa của số 13 ṿng là 6 ṿng, cho nên bên nào nghĩ rằng phe ḿnh có thể sẽ ăn được nhiều hơn 1 ṿng, nghĩa là 7 trong số 13 ṿng, sẽ trả giá (bid) hoặc, rao giá (call) "Một của một chuỗi (One of suit)." Ví dụ: Nếu rao giá "Một Chuồn (one club)," th́ đó có nghĩa là "Nếu dùng Chuồn làm Trùm, phe tôi cam kết sẽ ăn ít nhất 7 ṿng trong số 13 ṿng của ván bài." Tương tự, trả giá "Hai Rô (Two Diamond - xem thêm chú thích *)," "Ba Cơ (Three Heart)," "Bốn Bích (Four Spade)," hoặc "Ba Phi-trùm (Three No-trump)" có nghĩa là: "Nếu dùng Rô, Cơ, Bích làm Trùm hoặc không chỉ định chuỗi trùm, th́ số ṿng cam kết ăn được thứ tự là 8 ṿng, 9 ṿng, 10 ṿng và 9 ṿng."

Bên nào đấu giá cao hơn sẽ thắng đấu giá và lời trả giá cao nhất của phe thắng đấu giá sẽ trở thành hợp đồng của ván bài. Trong quá tŕnh đấu giá, hợp đồng sẽ thành lập (established) nếu có ba tiếng rao “bỏ qua (pass)” liên tục. Người phát ra lời rao giá đầu tiên của chuỗi trùm (hoặc phi-trùm) của hợp đồng trở thành nhà cái (declarer). Bên được hợp đồng có bổn phận phải hoàn thành hợp đồng, trong khi bên đối phương nỗ lực cản trở không cho hoàn thành. Nếu hợp đồng được hoàn thành mỹ măn th́ bên hợp đồng sẽ được điểm thắng, tức là điểm dương (plus score), nếu không hoàn thành hợp đồng sẽ bị điểm phạt, tức là điểm âm (minus score).

Mỗi ṿng của số ṿng đă được hợp đồng, được tính điểm như sau. Mỗi ṿng của hợp đồng chuỗi Trưởng là 30 điểm và mỗi ṿng của chuỗi Thứ là 20 điểm. Nếu là hợp đồng Phi-trùm, th́ ṿng đầu tiên được 40 điểm và những ṿng kế tiếp mỗi ṿng được 30 điểm. Ví dụ, hợp đồng "Hai Cơ (Two Heart)" là 60 điểm, hợp đồng Hai Phi-trùm (Two no-trump) là 70 điểm, trong khi một hợp đồng Hai Chuồn (Two club) chỉ được 40 điểm. Số điểm của hợp đồng tính theo số ṿng đă giao ước như vậy, gọi là điểm ṿng (trick score).

Số điểm ṿng dưới 100 của một hợp đồng gọi là điểm thắng lẻ (part score) c̣n số điểm ṿng trên 100, gọi là điểm thắng đủ (game score). Vậy muốn đạt được điểm thắng đủ với một chuỗi Thứ, cần phải làm hợp đồng ở mức Năm (100 điểm), trong khi đó chỉ cần một hợp đồng ở mức Bốn của một chuỗi Trưởng (120 điểm) và ở mức Ba nếu là một hợp đồng Phi-trùm (chẵn 100 điểm). Ván bài có điểm thắng trên 100 điểm gọi là ván đủ (game). Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của các hợp đồng chuỗi Trưởng và hợp đồng Phi-trùm. Chỉ khi nào không có hi vọng làm (make) hợp đồng bằng chuỗi Trưởng hay Phi-trùm, th́ khi ấy mới xét tới khả năng hợp đồng bằng chuỗi Thứ.

5. Điểm thưởng (bonus)

Ngoài điểm ṿng kể trên, hợp đồng hoàn thành c̣n được điểm thưởng lớn hơn điểm ṿng rất nhiều. Điểm thưởng được ấn định tùy theo h́nh thức chơi bài cầu. Nói chung, có hai h́nh thức khác nhau như kể sau đây. Ngoài điểm thưởng theo h́nh thức chơi, c̣n có điểm thưởng cho những hợp đồng rất cao, gọi là hợp đồng toàn thắng (slam contract). Những hợp đồng Sáu (ăn 12 ṿng) và Bảy (ăn cả 13 ṿng) lần lượt gọi là hợp đồng toàn thắng nhỏ (small slam) và hợp đồng toàn thắng lớn (grand slam).

   5.1 H́nh thức bài cầu hiệp (rubber bridge)

Được kể là hết một hiệp (rubber) sau khi một trong hai phe hoàn thành 2 ván đủ. Trong trường hợp này, mỗi ván đủ có thể là tổng cộng của nhiều ván lẻ. Nghĩa là khi số điểm lẻ sau một số ván cộng lại thành trên 100 điểm, th́ thời điểm đó coi như là hoàn tất một ván đủ, và những ván tiếp sau đó được kể là điểm lẻ cho ván đủ thứ hai. Tuy nhiên, trong quá tŕnh tích lũy điểm lẻ để hoàn thành một ván đủ, nếu phe đối phương hoàn thành trước một ván đủ, th́ số điểm lẻ đang tích lũy như vậy, sẽ bị mất quyền tích lũy.

Bên nào hoàn tất 2 ván đủ trước, được thưởng một số điểm gọi là điểm thưởng hiệp (rubber bonus). Số điểm này là 500 hoặc 300 tùy theo đối phương đă hay chưa đạt được một ván đủ nào cả. Cặp nào đă hoàn tất một ván đủ, cặp đó trở thành dễ tổn thương (vulnerable), trong khi chưa đạt được ván đủ nào th́ gọi là không tổn thương (non-vulnerable).

5.2 H́nh thức bài cầu sao chép (duplicate bridge)

Đây là h́nh thức chơi mà nhiều cặp cùng chơi những cỗ bài đă chia sẵn (deck) để phân định hơn kém. Trong trường hợp này, điểm thưởng hiệp nói ở 5.1 không có, nhưng điểm thưởng cho mỗi ván được ấn định như sau.

Nếu là ván lẻ, điểm thưởng là 50 điểm cho mỗi hợp đồng lẻ được hoàn tất.

Nếu là ván đủ, điểm thưởng sẽ tùy theo t́nh trạng dễ tổn thương hay không tổn thương, như nói ở trên. T́nh trạng dễ tổn thương hay không tổn thương này thường được ấn định trước theo một thứ tự nhất định: hai bên không tổn thương (both non-vulnerable), BN dễ tổn thương (NS vulnerable), ĐT dễ tổn thương (EW vulnerable) và hai bên đều dễ tổn thương (both vulnerable), rồi cứ thế tiếp diễn nếu số ván bài chơi được định là trên 4 ván.

5.3 Điểm thưởng cho ván bài toàn thắng (slam bonus)

Điểm thưởng này cũng tùy thuộc t́nh trạng dễ tổn thương hay không tổn thương.

Không tổn thương: toàn thắng nhỏ 500 điểm, toàn thắng lớn 1000 điểm.

Dễ tổn thương: toàn thắng nhỏ 750 điểm, toàn thắng lớn 1500 điểm.

Lấy vài thí dụ về tính điểm cho dễ nắm. Giả sử h́nh thức bài cầu sao chép.

Thí dụ 1: Không tổn thương, hợp đồng Sáu Cơ, nhưng ăn cả 13 ṿng. Số điểm được tính như sau.

Điểm hợp đồng 30x6=180 điểm

Điểm ṿng cho ṿng thứ 13=30 điểm (điểm ṿng dư, over-trick score)

Điểm thưởng ṿng đủ=300 điểm (điểm hợp đồng 180>100)

Điểm thưởng toàn thắng nhỏ=500 điểm (hoàn tất hợp đồng ăn 12 ṿng)

Tổng cộng=1010 điểm

Thí dụ 2: Như trên nhưng hợp đồng là 7 Cơ và cũng hoàn tất tốt hợp đồng.

Điểm hợp đồng=210 điểm

Điểm thưởng ṿng đủ=300 điểm

Điểm thưởng toàn thắng lớn=1000 điểm

Tổng cộng=1510 điểm.

Thí dụ 3: Dễ tổn thương, hợp đồng 7 Phi-trùm, hoàn tất tốt.

Điểm hợp đồng=220 điểm

Điểm thưởng ṿng đủ=500 điểm

Điểm thưởng toàn thắng lớn=1500 điểm

Tổng cộng=2220 điểm.

Thí dụ 4: Dễ tổn thương, hợp đồng 2 Phi-trùm, ăn 9 ṿng.

Điểm hợp đồng=70 điểm

Điểm thêm 1 ṿng=30 điểm

Điểm thưởng ṿng lẻ=50 điểm

Tổng cộng=150 điểm.

6. Điểm phạt (Penalty points)

Nếu hoàn thành hợp đồng được điểm thưởng cao như trên, th́ ngược lại, nếu không hoàn thành hợp đồng, sẽ bị điểm phạt.

Giống như điểm thưởng, điểm phạt cũng tùy thuộc vào t́nh trạng dễ tổn thương hay không. Dưới đây là bảng giá điểm phạt theo số ṿng bài bị hụt (undertrick) so với số ṿng đă hợp đồng.

Không dễ tổn thương: 50 điểm/ ṿng hụt.

Dễ tổn thương: 100 điểm/ ṿng hụt.

7. Trường hợp rao phạt "Gấp đôi (Double)" và "Gấp đôi nữa (Redouble)"

Trong quá tŕnh đấu giá, nếu một phe thấy rằng phe ḿnh có căn cứ đánh bại hợp đồng của đối phương, phe đó có thể chọn rút khỏi cuộc đấu giá và rao phạt "gấp đôi (double)." Nếu hợp đồng sau đó thành lập, nghĩa là sau đó có ba tiếng rao "bỏ qua (pass)" liên tiếp, th́ số điểm phạt cũng như điểm thưởng sẽ được tính khác đi, như dưới đây. Ngược lại, nếu phe thắng thầu có tự tin là sẽ hoàn thành tốt hợp đồng mặc dầu bị phe đối phương rao phạt gấp đôi, th́ phe này có thể rao "gấp đôi nữa (redouble)." Trong trường hợp này, nếu hoàn thành tốt hợp đồng th́ điểm thưởng tăng lên, nhưng nếu không hoàn thành hợp đồng th́ điểm phạt sẽ lại tăng gấp đôi nữa.

Trước nhất là số điểm phạt.

Không dễ tổn thương: 100 điểm cho ṿng hụt đầu tiên, 200 điểm cho ṿng hụt 2 và 3, 300 điểm cho mỗi ṿng hụt sau đó.

Dễ tổn thương: 200 điểm cho ṿng hụt thứ nhất, 300 điểm cho những ṿng hụt sau đó.

Nếu phe nhà cái đă rao "gấp đôi nữa," th́ điểm phạt sẽ tăng gấp đôi số điểm kê trên. Ngược lại, mặc dầu bị đối phương rao phạt gấp đôi, nhưng nếu phe nhà cái vẫn hoàn thành tốt hợp đồng, th́ điểm thưởng sẽ tính như sau.

Điểm thưởng hoàn thành hợp đồng (không thay đổi): 50 điểm

Điểm thưởng cho mỗi ṿng bài dư: 100 điểm nếu là Không dễ tổn thương, 200 điểm nếu là Dễ tổn thương.

Nếu phe nhà cái đă rao "gấp đôi nữa," th́ điểm thưởng cho các ṿng dư cũng tăng gấp đôi. Duy điểm thưởng hoàn thành hợp đồng th́ không thay đổi.

8. Trị giá mớ bài trong tay

Để có thể tham gia đấu giá, mớ bài cầm trong tay phải là bài tốt. Muốn vậy, phải có một phương pháp đánh giá mớ bài này. Sau đây là phương pháp đánh giá thông dụng.

     8.1 Điểm lá bài cao (High-Card Point, HCP)

Bốn lá bài cao nhất của mỗi chuỗi có điểm thứ tự như sau: Ách 4 điểm, Vua 3 điểm, Đầm 2 điểm và Giô-kề 1 điểm. Những lá bài khác không được gán cho điểm nào cả. Như vậy, mỗi chuỗi có 10 điểm lá bài cao và mỗi cỗ bài gồm bốn chuỗi có 40 điểm lá bài cao.

Số điểm 40 trên, nếu đem chia cho 13 ṿng bài, ta thấy mỗi ṿng bài có trị giá là 3 điểm. Đây chỉ là trị giá xấp xỉ và trung b́nh dùng để đánh giá mỗi mớ bài mới chia xong mà thôi. Bởi v́ trên thực tế, một lá bài Ách có trị giá là 4 điểm, như nói ở trên, song cũng chỉ ăn được một ṿng bài, trong khi đó những lá bài nhỏ, tức là những lá bài dưới Giô-kề không có trị giá tính thành điểm, cũng có thể ăn được một ṿng bài sau khi những lá bài lớn đă ra hết rồi.

8.2 Điểm phân bố (Distributional Point)

Có hai loại điểm phân bố: Điểm chuỗi ngắn (short suit point) và điểm chuỗi dài (long suit point).

Mỗi mớ bài cầm lên tay sẽ có một phân bố nhất định của 4 chuỗi (Bích, Cơ, Rô, Chuồn). Ví dụ: 4333, 4432, 4441, 5431, 5332, 5521,... Khi có một hay nhiều chuỗi ngắn trong mớ bài 13 cây trên tay, th́ khi hết bài của chuỗi ngắn đó rồi, người chơi có thể dùng bài trùm để thắng một ṿng bài. V́ vậy, những chuỗi ngắn trong tay cũng có thể gán cho một giá trị nhất định. Thông thường người ta thêm số điểm như sau cho một chuỗi ngắn: 1 điểm cho chuỗi hai cây bài (doubleton), 2 điểm cho chuỗi một cây bài (singleton) và 3 điểm cho chuỗi rỗng (void) tức là chuỗi không có cây bài nào cả.

Điểm phân bố cũng có thể tính cho chuỗi bài dài, v́ sau khi đối phương đă hết bài trùm rồi, th́ một chuỗi bài dài sẽ trở nên có uy lực lớn và nó có thể giúp ăn được thêm nhiều ṿng bài bằng những quân bài nhỏ. Phương pháp thông thường là thêm 1 điểm cho mỗi cây bài từ cây bài thứ năm trở đi.

Tuy nhiên, số điểm phân bố như kể trên phải được sử dụng khéo léo, chứ không thể coi hoàn toàn giống như điểm lá bài cao được. Do đó, một nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá mớ bài trong tay là dùng điểm lá bài cao để vào cuộc đấu giá và chỉ khi nào một t́nh trạng khớp bài (fit) với bạn đồng phe (partner) đă được phát hiện rồi, th́ điểm phân bố mới được cộng thêm vào để tính giá trị thực chất của mớ bài trong tay.

8.3 Những điểm chuẩn đáng nhớ

Kinh nghiệm cho thấy khi một phe (partnership) có tổng số điểm bao nhiêu sẽ có khả năng hoàn thành những hợp đồng tương ứng như thế nào, được kê dưới đây.

1. Hợp đồng ván đủ Phi-Trùm: trên 26 điểm lá bài cao (không kể điểm phân bố).

2. Hợp đồng ván đủ Chuỗi Trưởng: trên 26 điểm (kể cả điểm phân bố).

3. Hợp đồng ván đủ Chuỗi Thứ: trên 28 điểm (kể cả điểm phân bố).

4. Hợp đồng ván toàn thắng nhỏ Phi-Trùm: trên 33 điểm lá bài cao (không kể điểm phân bố).

5. Hợp đồng ván toàn thắng nhỏ Chuỗi (Trưởng hoặc Thứ): trên 33 điểm (kể cả điểm phân bố, nếu phe đối phương không có hai lá bài Ách).

6. Hợp đồng ván toàn thắng lớn Phi-Trùm: trên 37 điểm lá bào cao (không kể điểm phân bố).

7. Hợp đồng ván toàn thắng lớn Chuỗi: trên 37 điểm (kể cả điểm phân bố, nếu biết rơ phe đối phương không có một lá bài Ách nào cả).

Trong quá tŕnh đấu giá, nếu cảm thấy phe ḿnh có đủ số điểm như kê trên, th́ phải nỗ lực đạt bằng được hợp đồng tương ứng, v́ số điểm thưởng tương ứng rất lớn.

Tóm tắt là, "Bài Cầu chẳng qua là tṛ chơi làm sao đạt được hai mục tiêu: một là chơi ở đâu (where to play) và chơi cao đến đâu (how high to play)."

Chơi ở đâu tức là chọn chuỗi nào làm Trùm, hoặc chơi Phi-Trùm. Chơi cao đến đâu là ấn định hợp đồng ở mức cao nào.

9. Một hiệp bài cầu mẫu - H́nh thức bài cầu hiệp

H́nh 1 là mẫu tờ ghi điểm (score sheet) dùng cho Bài cầu Hiệp ( Rubber Bridge ). Tờ giấy được chia làm hai cột dọc; cột bên trái đề WE (Phe ta) và cột bên phải đề THEY (Phe đối phương). Ở khoảng giữa tờ giấy có hai vạch ngang. Phần trên hai vạch là để ghi điểm thưởng (bonus point), và phần dưới để ghi điểm ván (score).

Sau đây, hăy xem một hiệp (rubber) tiến hành như thế nào.

Trước hết một hộp 2 cỗ bài khác màu nhau được bày ra một bàn vuông có bốn ghế ngồi xung quanh. Một trong 4 tay chơi rút một cỗ bài ra trải sấp xuống mặt bàn để cho bốn người chọn lấy mỗi người một lá bài rồi lật ngửa lá bài lên mặt bàn. Hai người rút được hai lá bài cao hơn sẽ cặp đôi với nhau, và hai người rút được hai lá bài thấp hơn làm thành đôi thứ hai.

             

WE  

THEY

 

 

 

 

 

 

 

                H́nh 1

 

WE 

THEY

 

      30

 

    120

 

 

 

                H́nh 2

WE 

THEY

      30

      30

 

    120

      70

 

 

                H́nh 3

WE 

THEY

      30

      30

 

    120

      70

 

 

    100

                H́nh 4

WE 

THEY

      30

      30

 

    100

    120

      70

 

 

    100

                H́nh 5

WE 

THEY

 

      30

      30

    500

      20

    100

    120

      70

 

 

 


Cộng

    250

 

    100

 

    100

 

Cộng

    820

Trừ

    570

 

                H́nh 6

 

Hai cặp tùy nghi ngồi vào vị trí BN và ĐT và như vậy thứ tự trờ thành cặp BN và cặp ĐT của bàn bài.

Tây (T, West) cầm một cỗ bài lên, trang bài (shuffle) cho kỹ, rồi đặt trước mặt Đông (Đ, East) mời cắt (cut). Cắt là chia cỗ bài đă trang làm hai phần (không cần đều) rồi chồng hai phần lên nhau theo thứ tự ngược với thứ tự trước khi cắt. Thay v́ cắt, cũng có thể trang lại. Đây là cử chỉ cho thấy không có sự gian lận về phía người trang. Cắt hoặc trang lai xong, Đ đặt cỗ bài đă trang và cắt như vậy cho Nam (N, South).

N bắt đầu chia bài từ người ở bên tay trái ḿnh, tức là từ T, theo chiều kim đồng hồ với thứ tự T-B-Đ-N-T và cứ như vậy cho đến hết cỗ bài 52 cây. Lá bài cuối cùng phải rơi vào vị trí N. Nếu chia nửa chừng mà N quên mất thứ tự đă chia đến đâu, th́ N chỉ việc chia tiếp từ đầu kia của cỗ bài, nghĩa là chia từ cây bài đáng lẽ là bài cuối trở ngược lại theo chiều ngược kim đồng hồ bắt đầu từ vị trí của ḿnh. Như vậy mỗi người hẳn phải nhận được một mớ bài (hand) đủ 13 lá bài. Chú ư là trong lúc N chia, không ai được cầm bài lên. Đây là phép lịch sự của Bài Cầu. Trong lúc N chia bài, th́ B trang cỗ bài thứ hai, v́ sau đó T sẽ trở thành người chia bài cho ván kế tiếp.

Sau khi N chia xong, mọi người cầm mớ bài trước mặt ḿnh lên, giữ cho các cây bài ở tư thế úp mà đếm xem có đủ 13 lá bài, hay không. Nếu mọi người đều có đủ mỗi người 13 lá bài, th́ lúc đó mọi người mới mở mớ bài ra xem. Nếu, thản hoặc, có một người thiếu bài th́ hẳn nhiên phải có một người khác thừa bài. Chừng đó, có hai cách xử lư: một là chia lại toàn cỗ bài theo tŕnh tự từ đầu như kể trên, tức là kể từ T trang bài trở đi; hai là, để đơn giản hóa vấn đề, người thiếu bài sẽ rút một lá bài tùy ư trong mớ bài của người thừa bài.

Mọi người xếp bài thành bốn chuỗi Bích, Cơ, Rô, Chuồn cho dễ nh́n và dễ tính điểm.

N là người chia bài (dealer) nên bắt đầu cuộc đấu giá (auction). Tuy nhiên, N không có bài tốt, nên đă rao (call) "Bỏ Qua (pass)," nghĩa là nhường quyền đấu giá cho T. T cũng rao Bỏ Qua và quyền rao giá nay thuộc về B. B rao "Một Cơ (One Heart)." Đến phiên Đ, Đ rao "Một Bích." Lời rao của Đ như vậy gọi là "rao đè (overcall)," tức là rao cao hơn lời rao trước. V́ Bích là chuỗi trên chuỗi Cơ, nên có thể rao đè ở mức Một. Nếu muốn rao đè bằng một chuỗi Thứ, như Rô hoặc Chuồn, th́ phải rao giá ở mức Hai, v́ hai chuỗi này ở dưới Bích. Bây giờ lại tới lượt N rao giá. N bèn rao "Hai Cơ (Two Heart)." Cơ cũng là chuỗi ở dưới Bích nên phải rao ở mức Hai. Lời rao Hai Cơ của N là nâng lời rao trước của B từ Một lên Hai, nên gọi là "rao nâng (raise)." Lại đến phiên T rao. T cũng nâng lời rao của bạn cặp đôi (partner) của ḿnh từ Một Bích lên Hai Bích. B liền rao "nhảy (jump)" lên Bốn Cơ. Sau đó có ba tiếng rao Bỏ Qua, và như vậy cuộc đấu giá chấm dứt. Nói cách khác, một cuộc đấu giá chỉ chấm dứt sau ba tiếng rao Bỏ Qua liên tiếp.

Hợp đồng đă thành lập, tức là hợp đồng Bốn Cơ, do cặp BN đấu giá thắng. B là người đầu tiên rao giá bằng Cơ, nên B trở thành nhà cái (declarer). Bạn cặp đôi của B, tức là N, trở thành người nộm (dummy), nghĩa là người chỉ ngồi làm v́, sẽ không được phép tham gia có tính cách chỉ bảo vào sự chơi bài sau đó của B và ĐT nữa. Người nộm chỉ được phép tham gia chơi dưới sự chỉ huy điều khiển của nhà cái mà thôi.

Người ngồi bên trái nhà cái (cũng gọi là đối phương tay trái = LHO, left hand opponent), tức là Đ, được phép dẫn cây bài dẫn đầu (leading card). Sau khi cây bài đầu tiên được dẫn ra, th́ N x̣e ngửa cả mớ bài của ḿnh lên trên bàn, sao cho B nh́n thấy các lá bài đều nằm thuận theo thứ tự từng chuỗi một. Chuỗi Trùm (Trump), tức là Cơ trong trường hợp này, được xếp ở phía ngoài cùng bên trái trước mặt B. Cuộc chơi bây giờ chỉ c̣n ba người: nhà cái B, và phe đối lập (opponent) hoặc phe thủ chiến (defender), gồm Đ và T. Người Nộm N sẽ theo chỉ thị của B mà đưa từng cây bài của mớ bài đă trải ra dưới bàn mà thôi.

N thắng ṿng bài thứ nhất, nên nhà cái được phép dẫn ṿng bài kế tiếp từ mớ bài của người nộm đă trải ra mặt bàn. Cuộc chơi cứ tiến hành như vậy cho đến hết 13 ṿng bài. Nhà cái ăn được 11 ṿng, và phe thủ chiến chỉ ăn được 2 ṿng. Mỗi cây bài ăn được úp dọc xuống, trong khi những cây bài thua th́ úp ngang ra để dễ phân biệt. Kết quả được ghi vào tờ ghi điểm như H́nh 2. Hợp đồng Bốn Cơ đă được hoàn thành tốt, v́ nhà cái đă ăn được 11 ṿng bài, tức là 1 ṿng nhiều hơn hợp đồng 10 ṿng. Số điểm 120 là điểm hợp đồng Bốn Cơ (30 x 4 = 120). Số điểm này viết ở dưới 2 vạch ngang. Số điểm 30 viết ở trên 2 vạch ngang, là điểm thưởng cho ṿng ăn dư (overtrick bonus), tức là ṿng ăn thứ 11. Với số điểm 120, phe BN như vậy đă ăn được một ván đủ (game). Một vạch ngang được kẻ dưới hàng số 120, là để chỉ một ván đủ đă xong. Phe BN bây giờ trở thành dễ thương tổn (vulnerable).

Sang ván thứ hai. Cỗ bài thứ hai đă được B trang xong từ trước. B bèn đưa cho N cắt hoặc trang lại theo quy định rồi T chia bài. Chia bài xong, T mở đầu cuộc rao đấu, nhưng kết cục N trở thành nhà cái với hợp đồng Hai Phi-Trùm. N hoàn tất hợp đồng sau khi ăn được 9 ṿng bài. Kết quả được ghi điểm như ở H́nh 3. 70 điểm ở dưới 2 vạch ngang là điểm ván lẻ (part score) cho hợp đồng Hai Phi-Trùm (40 điểm + 30 điểm) và 30 điểm trên 2 vạch ngang là điểm thưởng cho ṿng ăn dư. Chú ư là nếu phe BN đă rao Ba Phi-Trùm, tức là rao giá ván đủ (game bid) và nếu họ cũng hoàn thành tốt với 9 ṿng ăn như vừa rồi, th́ như vậy là họ đă ăn liền 2 ván đủ, nghĩa là thắng cả hiệp rồi. Bây giờ, với số điểm lẻ 70 điểm, phe WE cần làm (make) thêm một ván lẻ nữa ít nhất 30 điểm mới có thể hoàn thành một ván đủ nữa. Quyền ăn tiếp một ván lẻ nữa cho tṛn một ván đủ như vậy c̣n được bỏ ngỏ chừng nào phe THEY chưa ăn được một ván đủ nào cả.

Sang ván thứ ba. Lần này T trở thành nhà cái với hợp đồng Ba Phi-Trùm. T hoàn thành tốt hợp đồng và kết quả được ghi vào tờ ghi điểm như H́nh 4. Lần này phe ĐT làm được (make) một ván đủ, nên một vạch ngang cũng được kẻ dưới hàng số 100 của cột THEY. Chú ư là vạch ngang này đồng thời hủy bỏ quyền tiếp tục làm ván đủ của phe WE, nghĩa là số điểm 70 không c̣n được tính như là một phần của một ván đủ nữa. Chú ư thêm nữa là phe ĐT bây giờ cũng đă trở thành dễ tổn thương. Nghĩa là cả đôi bên đều dễ tổn thương (both vulnerable).

Ván thứ tư, Đ chia bài nhưng N trở thành nhà cái với hợp đồng Bốn Bích (Four Spade), nhưng chỉ ăn được 9 ṿng bài, và như vậy thiếu 1 ṿng (down one) mới hoàn thành được hợp đồng. Kết quả được ghi như H́nh 5. Số điểm phạt (penalty point) 100 điểm đối với phe BN (WE) được ghi như điểm thưởng (bonus point) cho phe ĐT (THEY).

Ván thứ năm cũng do Đ thắng đấu giá với hợp đồng Năm Rô, và Đ đă hoàn thành tốt hợp đồng bằng cách ăn được 12 ṿng bài. Kết quả được ghi như H́nh 6: 100 điểm ở dưới 2 vạch ngang và 20 điểm trên 2 vạch ngang. Đây là ván đủ thứ hai liên tục do phe ĐT (THEY) ăn, và như vậy họ đă làm xong một hiệp (rubber) nên họ được điểm thưởng hiệp (rubber bonus). Số điểm 500 bên cột THEY ở phía trên 2 vạch ngang của H́nh 6 là điểm như vậy. Chú ư là phe BN (WE) cũng dễ tổn thương, nên điểm thưởng hiệp là 500 chứ không phải là 300.

Kết quả là phe BN (WE) đă thua với số điểm là 570 điểm.

                          (Hết phần giải thích sơ lược-C̣n tiếp nhiều phần khác)

Phần thêm:

Xem như trên, Bài Cầu tuy rất lư thú nhưng không dễ chơi. So với Xí Phé chỉ cần vài phút đồng hồ là chơi được, th́ Bài Cầu phải mất ít nhất nhiều giờ đồng hồ học tập một cách bài bản. Mặc dầu vậy, sau khi đọc xong phần giới thiệu trên, bạn nào thấy Bài Cầu lư thú và muốn học chơi, th́ làm như sau.

1.                Hăy vào trang web của Liên Minh Bài Cầu Hợp Đồng Mỹ (American Contract Bridge League = ACBL) http://www.acbl.org/index/html.

2.                Trong khung Learn như sau, hăy chọn “Free Lesson Software.”

   Từ đó click Download Volumes I and II Today-Free.

   Sau đó, install vào computer, rồi học chơi theo software này.

   Đây là Software tuyệt diệu. Nếu học theo nó một cách nghiêm chỉnh, chắc chắn người học sẽ trở thành một tay chơi Bài Cầu khá.

   Chúc các bạn may mắn.

  Đặng Lương Mô - Exryu Việt Nam

.........................

Chú thích : * "Ngôn ngữ Bridge tiếng Anh, chỉ gồm có 22 chữ: one, two, three, four, five, six, seven, eight, nine, ten, Jack, Queen, King, Ace, Spade, Heart, Diamond, Club (hay Clover), No-trump, Pass, Double, Redouble". Ngoài ra, khi rao "two Heart" hay "three Spade," v.v., người ta thường không thêm chữ "s" vào sau chữ Heart hay Spade, như quy luật ngữ pháp tiếng Anh. Bởi đây không phải là "2 lá bài Cơ" hay "3 lá bài Bích" mà nghĩa đúng là "a contract of Two at Heart," "a contract of Three at Spade," cho nên không cần thêm chữ "s" để chỉ số nhiều của tiếng Anh. Tuy nhiên, trong bàn bài, có rất nhiều người vẫn nói thêm chữ "s," một là theo thói quen, hai là không hiểu rơ như vừa giải thích.


Bị chú của ERCT :

1. Xem Google Japan với keyword là : コントラクトブリッジ - Kontorakuto Burijji (h́nh)

2. Xem Google Japan với keyword là : コントラクトブリッジ - Kontorakuto Burijji (web)

3. Xem Google với keyword là : Contract Bridge : (h́nh)

4. Xem Google với keyword là : Contract Bridge - (web)