|
Nguyên tác của : Sakaiya Taichi Người dịch : Đặng Lương Mô Chương II : Hikaru Genji Người mẫu chính khách thanh nhă Hikaru
Genji có thật không? Không
cần nói, ai cũng biết Hikaru Genji là nhân
vật tưởng tượng, vai chính của
Truyện Genji (Genji Monogatari)[1]. Tại
sao một nhân vật tưởng tượng
lại có thể là một người đă
lập ra nước Nhật được? Người
như vậy có ảnh hưởng ǵ tới
thời nay? Hẳn có nhiều độc giả
cảm thấy lạ lùng, ngờ vực, cho nên
chúng tôi xin tŕnh bày điểm này trước
hết. Thời
Taisho[2]
và Showa[3]
có một sử gia tên tuổi, là tiến sĩ
Tsuda Soukichi, nổi tiếng với lối nghiên
cứu thực chứng. Triệt để
gạt bỏ những t́nh cảm lăng mạn, ông
đă thẳng thắn tuyên bố trong tác
phẩm của ông rằng những ǵ viết
trong Kojiki (Cổ Sự Kư) và Nihon Shoki (Nhật
Bản Thư Kỷ) đều không là sự
thật, mà chỉ là huyền thoại. Nói cách khác,
trong tác phẩm của ông nhan đề "Nghiên
cứu lịch sử đời thần thánh,"
ông đă chỉ trích thuyết "thiên tôn giáng
lâm[4]"
bằng cách nói rằng hai sách Kư Kỷ vừa
kể, chẳng qua đă được soạn
ra căn cứ vào những tư liệu cổ,
"Đế Kỷ" và "Cựu Từ,"
tức là những tư liệu ghi chép lại
những truyện cổ lưu truyền trong cung
đ́nh nhằm chính đáng hóa chế độ
"thiên hoàng," mà thôi. Đến
thập kỷ Showa thứ X (1926-1935), ông bị nhóm
tôn thờ chủ nghĩa "Nhật Bản
quốc túy" phê b́nh là ông đă "phạm
thượng," đă xâm phạm tới sự
"tôn nghiêm của hoàng tộc."
Họ nói "Tsuda viết nhảm, dám nghi ngờ
sự h́nh thành của hoàng tộc." Họ đă thưa kiện ông
về tội
vi phạm luật xuất bản. Rút
cục, v́ lư do "thời hiệu" nên ông
đă được "miễn tố," song
trước ṭa án, ông đă có lời biện
minh tuyệt diệu như sau: "Truyện
thần thoại Nhật Bản không phải là
đă kể lại những sự thật
lịch sử, nhưng đáng được lưu
ư về cấu trúc tư tưởng!" Nói
cách khác, "Mọi người tin là như
vậy cho nên về mặt tư tưởng,
đó là một cấu trúc không phủ nhận
được. Bản thân ông cũng không
phủ nhận. Tuy nhiên, đó không phải là
những sự thật đă diễn ra trong
lịch sử. Chẳng hạn, trên trời làm ǵ
có đất đai, v́ thế làm ǵ có người
từ trên trời rơi xuống! Do đó, đây
chỉ là truyện thần thoại, và có là
thần thoại th́ những lời thuật
của Cổ Sự Kư mới đứng vững
được." Ở
vào thời đó th́ việc làm của ông như
vậy là chuyện không thể tránh được,
song đó là một cách nói chạy, nói lẩn tránh
khá g̣ bó. Để lấy một thí dụ điển
h́nh chứng tỏ rằng một
cấu trúc trong tư tưởng tuy không
phải là một sự thật lịch sử,
vẫn có thể tồn tại được,
tiến sĩ Tsuda đă viện dẫn vai Hikaru
Genji. Nghĩa
là, Hikaru Genji là nhân vật tưởng tượng
được bịa ra trong Truyện Genji, cho nên
Truyện Genji không phải là sự thực
lịch sử. Thế nhưng, một chính khách
quư tộc "hao hao" như vậy đă có
tồn tại ở thời Heian, th́ rơ ràng
lại là một sự thực. Trên
thực tế, ngày nay không c̣n thấy có "nhân
vật" nào đủ truyền lại
được cái mẫu người quư tộc
hoặc chính trị gia quư tộc thời Heian như
Hikaru Genji nữa. Với
ư nghĩa trên, th́ Hikaru Genji là một nhân vật
tưởng tượng và sự tồn tại
của một nhân
vật như vậy không phải là một
sự kiện lịch sử. Song có thể nói
rằng cái cấu trúc lịch sử có ảnh hưởng
tới người Nhật như vậy, th́
đă thực sự tồn tại. Đây là
lời thuyết minh của tiến sĩ Tsuda. Đúng
như vậy, khi chúng ta h́nh dung con người quư
tộc thời Heian, tưởng tượng
lối sinh hoạt hay thế giới tinh thần
của họ, th́ Truyện Genji là đại
biểu dễ hiểu nhất. V́ thế, nó đă
có ảnh hưởng lớn tới lối suy tư
hay tiêu chuẩn giá trị của người
Nhật ngày nay. Bởi
thế, nhân vật tưởng tượng do
Murasaki Shikibu sáng tạo ra, đă được
chọn làm một trong
số "Mười hai người lập ra nước
Nhật" vậy. Đại
biểu cho lớp người quư tộc thời
đại Heian Vậy
nhân vật chính Hikaru Genji mô tả trong Truyện
Genji quá quen biết này, là con người có lai
lịch ra sao? So với sự kiện tên Hikaru
Genji đă trở nên rất quen thuộc, th́ lai
lịch, sự tích của người ấy
lại ít được biết tới. Người
ta cho rằng Hikaru Genji đă sống vào thời
đại cũ hơn thời đại tác
giả Murasaki Shikibu chừng vài chục năm. Nói
kiểu ngày nay, sự kiện này tựa hồ như
việc một tác giả thời hậu chiến
viết lại cảnh tượng diễn ra
ở thời kỳ đầu của đời
vua Showa (niên hiệu Showa: 1925-1989) vậy. Có khác
chăng là thời ấy không có sự tăng trưởng
kinh tế cao độ, không có những biến
đổi kỹ thuật, nên dạng thức sinh
hoạt không thay đổi mấy. Nói về niên
hiệu th́ đó là lúc niên hiệu Engi (đọc
là ên-ghi, 901-923) đổi sang niên hiệu Tenryaku
(947-957), nghĩa là khoảng từ năm 901
tới năm 957. Truyện Genji lấy thời
đại đó làm sân khấu, đă có vài nhân
vật tưởng tượng chủ yếu như
sau xuất hiện. Trước
hết là vua Kiritsubo. Người con trai thứ hai
được nưng như trứng hứng như
hoa của nhà vua, chính là hoàng tử Hikaru. Thân
mẫu của cậu tuy là cung nữ của vua
Kiritsubo, song vốn xuất thân hèn hạ, nên
cậu bị giáng xuống hàng thần hạ mang
họ Genji. Rồi v́ đẹp trai, cậu
được gọi là Hikaru Genji[5].
Cậu yêu hết cô gái nọ tới cô gái kia,
rồi sau cùng rơi vào mối t́nh đau khổ
với một người đàn bà giống
địa vị mẹ cậu là cung nữ
Fujitsubo. Mà Fujitsubo lại là ái phi của vua cha.
Cuộc t́nh ngang trái đă sinh ra một hoàng
tử "hoang." Người con hoang này
lại được nuôi làm con vua Kiritsubo
rồi sau này lên ngôi thành vua Reizei. Về
sau, người anh khác mẹ của Genji lên ngôi,
tức là vua Suzaku, th́ sau khi vua Kiritsubo mất
đi, Genji bị ngược đăi và bị lưu
đầy hai năm ở vùng Suma, Akashi. Đây là
"đoạn Suma - Akashi" mô tả hoàng
tử trong cảnh bất hạnh. Thế
rồi vua Suzaku và mẫu hậu, tức là bà thái
hậu Hoằng Huy Điện[6]
lâm bệnh, nên thế lực yếu đi và
nhờ đó, Genji mới về kinh được
và lại nắm được quyền hành
ở trung ương. Sau
đó, ở địa vị người săn
sóc ấu chúa Reizei, Genji đă lần lượt
thăng chức tới Naidaijin[7],
rồi Dajodaijin[8]. Ngày một có thêm
vây cánh, Genji mới xây dinh thự riêng cho ḿnh
đặt tên là Rokujo-in. Rồi Genji cho người
ḿnh sủng ái nhất tức là Murasaki no Ue, cùng
những người đàn bà khác đă có quan
hệ với ḿnh, ở đó. Địa vị
của Genji lên tới bậc tương tự như
thái thượng hoàng. Đến đây là hết
phần Một của truyện. Trong
phần Hai, Hikaru Genji ở tuổi sơ lăo đă
tái hôn với công chúa thứ ba, con gái cưng
nhất của Suzakuin[9], rồi dần
dần về già. Ở đoạn này, Genji
trở thành một nhà chính trị có quyền
lực lớn. Trong
phần Ba th́ con trai của Genji là công tử Kaoru
xuất hiện, song ở đây chỉ có Hikaru
Genji được chọn, coi đó là người
mẫu của lớp nhà chính trị quư tộc
thời đại Heian. Vậy
th́, lớp người quư phái thời đại
Heian kể từ niên hiệu Engi tới niên
hiệu Tenryaku sinh hoạt trong trạng thái như
thế nào. Trước
thời này là thời Nara, thời đại mà các
hào trưởng lấy hoàng tộc làm trọng tâm
cho cuộc tranh giành quyền lực với nhau
trong quá tŕnh thành lập của chế độ
tập quyền trung ương. Nhưng
sang tới thời Heian, th́ nhà vua được
đôn lên trên "mây" và ở dưới th́
ḍng họ Fujiwara
trở thành trung tâm quyền lực của cái
gọi là thời đại quư tộc. Giới
quư tộc này có trang ấp, đồn điền,
nông trại ở khắp nước. Quyền
quản lư các trang ấp như vậy được
trao cho đám quản gia mà sau này trở thành vơ
sĩ[10].
Các địa chủ không sống ở trang
ấp mà chỉ ngồi mát thâu hoa lợi hàng năm. Đám
quản gia này được các quư tộc
ủy thác cho quyền hành, đă dùng bạo
lực bóc lột chiếm đoạt quá nửa
hoa lợi, coi đó là phí tổn quản lư. Quư
tộc và quản gia như vậy là có quan
hệ nương tựa lẫn nhau. Sự
kiện này tương tự như quan hệ ngày
nay giữa những bà quả phụ thừa hưởng
tài sản chứng khoán lớn với đám người
kinh doanh đắc lực vậy. Nói
như vậy không phải là giới quư tộc
thời Heian chỉ ngồi chơi xơi nước.
Ngược lại, tuy ở kinh đô, họ có
nhiệm vụ "chính trị" trọng
yếu là đảm đương việc
quốc chính, dẹp loạn. Vấn đề là
nội dung công tác "chính trị" đó
của họ. Việc
làm của một chính khách quư tộc Thời
đó, Nhật Bản có tổ chức triều
đ́nh rập khuôn theo kiểu nhà Đường bên
Trung Hoa nên có thể chế luật lệnh đàng
hoàng. Ở dưới chức Dajodaijin th́ có
Sadaijin[11],
Udaijin[12],
Dainagon[13], Shonagon[14],
v.v.. Những quan chức lớn này th́ chỉ có
ḍng dơi nhà vua, hoặc con cháu bốn họ Gen Pei
Tô Kitsu[15], đảm
đương mà thôi. Vậy
th́, nền chính trị do những người này
nắm giữ là như thế nào? Từ tướng
quốc trở xuống, các nhà chính trị quư
tộc này làm ǵ? Những điều này
được thấy rất rơ ở nhân
vật Hikaru Genji. Như
đă kể ở trên, Hikaru là con vua, và nhờ
đẹp trai nên chàng đă yêu hết người
này tới người khác. Trong khi đó, địa
vị của chàng cũng tăng dần lên. Song lúc
vua cha mất đi th́ chàng bị lôi cuốn vào
cuộc tranh giành quyền lực giữa các nhà
quư tộc, rồi bị lưu đày ra xứ
Suma, xứ Akashi. Ở
trong t́nh huống này, ai chẳng chán ngán cho cái không
may của ḿnh và oán hận những kẻ địch
chính trị của ḿnh? Hoặc, để
trở lại chính trường, ai chẳng
sẽ triển khai cuộc vận động chính
trị, tŕnh bầy đường lối chính
trị của ḿnh và kết nạp đồng chí?
Nhưng Hikaru hầu như chẳng làm ǵ cả!
Trong cả tập truyện dài như vậy, người
ta không hề thấy ǵ viết về chính
kiến của Hikaru, về chính sách mà Hikaru
muốn thực hiện, mặc dầu Hikaru đă
làm quan đại thần lâu năm và đă leo lên
tới địa vị tướng quốc. Ngay
cả sự kiện Hikaru được gọi
từ vùng lưu đày Suma - Akashi về kinh
rồi lại làm quan to nữa, cũng chẳng
phải là kết quả của một cuộc
vận động chính trị nào cả, mà
chỉ do một sự thay đổi bè phái
ở kinh đô mà thôi. Tuy
nhiên, "đoạn Suma - Akashi" kể lại
cuộc sống trong thời kỳ bị lưu
đầy, th́ lại có rất nhiều điểm
đáng tham khảo. Một điểm là ngay trong
trạng huống bất hạnh như vậy mà
Hikaru vẫn không hề bị trụy lạc, không
hề làm phản! Xa
kinh đô, buồn về đời sống nhà quê
tẻ nhạt, Hikaru đă than khóc nỗi niềm
nhớ kinh đô và cảnh ngộ phải kéo dài
cuộc sinh hoạt chán nản này, nhưng không
hề có ư định làm phản, cũng không
hề oán hận ǵ cả. Quư tộc thời
đó sống biệt lập với những thành
phần khác, và chỉ đắm ch́m trong thế
giới của ư thức thiện mỹ để
khắc phục cái bất măn của ḿnh. Đây
mới chính là lối sống quư tộc thời
đó, mới là nguyên gốc của cái "thanh
nhă Nhật Bản" cho tới ngày nay. Hikaru
sau hai năm lưu đày ở vùng Suma - Akashi
trở về kinh th́ lại càng nắm được
địa vị trọng yếu hơn trước.
Đến nỗi,
chàng đă leo lên tới bậc tướng
quốc, tức là tương đương
với chức thủ tướng ngày nay. Hơn
thế nữa, là tướng quốc, chàng c̣n làm
Chuẩn Thái thượng hoàng kia. Là
một nhà chính trị ở địa vị cao
sang như vậy mà đọc suốt
"Truyện Genji" ta không thấy Hikaru làm ǵ
"có vẻ chính trị" cả. Trong cả
tập truyện dài của Murasaki Shikibu người
ta không thấy nói ǵ tới vấn đề
ngoại giao, quốc pḥng hay trị an nào cả.
Cũng chẳng thấy có cục diện nào
thảo luận về vấn đề tài chính
hay chế độ thuế khóa. Thế mà, người
đọc vẫn không lấy thế làm lạ lùng,
kỳ cục. Ngược lại, người ta
gật đầu nh́n nhận rằng, với quư
tộc thời Heian th́ có khi như vậy là
phải. Nhật
Bản ở thời kỳ này về mặt
"công," th́ đường lối
"bế môn tỏa cảng" được
áp dụng, sau khi bỏ lệ gửi sứ sang nhà
Đường, do đề nghị của Sugawara
Michizane. Kể
từ khi Thái tử Shotoku bắt đầu
gửi sứ sang nhà Tùy, rồi khi nhà Đường
thay thế nhà Tùy, th́ thông lệ gửi sứ
sang Trung Hoa đă kéo dài trong suốt thời đại
Nara cho tới đầu thời đại Heian.
Song từ năm 857, nhà Đường có nội
loạn và không thấy có tiến bộ nữa
về mặt kỹ thuật cũng như văn
hóa trước con mắt người Nhật
thời đó, nên việc gửi sứ sang đó
đă bị gián đoạn lâu năm. Cho tới
năm 894, Sugawara Michizane mới đề nghị
rằng "dẫu có sang nhà Đường, th́ cũng
chẳng mang được ǵ về đáng cho ta
học hỏi," nên lệ gửi sứ sang
Trung Hoa đă bị băi bỏ hẳn. Trên
thực tế, từ loạn Vương Tiên Chi -
Hoàng Sào năm 875 trở đi, th́ Đường
triều bị suy thoái dần và rơi vào t́nh
trạng nội loạn liên miên, khiến mất
cả năng lực thống suất. Cho nên
dẫu cho có tới kinh đô Trường An
đi chăng nữa th́ cũng chẳng mang
về được văn vật nào đáng
kể cả! Ít nhất đây cũng là cái nh́n
của người Nhật thời đó.
Thực ra, thời kỳ gọi là "Đường
mạt ngũ đại" này mới chính là lúc
sắp thoát thai của đời Tống,
thời kỳ "cận hiện đại"
với những kỹ thuật mới như
"than đá," "kim nam châm,"
"thuốc nổ," v.v.. Thế mà người
Nhật quư tộc thời Heian đă hoàn toàn không
quan tâm tới những kỹ thuật công
nghiệp như vậy. Ở
trong nội bộ nước Nhật th́ thời
đại đó chẳng phải là thời đại
thong dong ǵ cả. Quyền thế và vơ lực
của giới quư tộc Heian đă yếu đi,
khiến miền đông th́ có loạn Taira no
Masakado (935-940), miền tây có loạn Fujiwara Sumitomo
(938-941). Hikaru Genji đă lên làm tướng
quốc trước đó, song vẫn sống b́nh
thản chứ không thấy lo lắng ǵ về
vấn đề trị an hoặc tài chính
cả. Ấy
thế mà, cả người đọc cũng như
người b́nh luận "Truyện Genji"
đều hiếm có ai phê b́nh Hikaru là nhà chính
trị vô vi vô tài. Ngược lại, sự
kiện những vấn đề hiện thực
như trị an hay tài chính th́ không phải do
giới quư tộc trực tiếp nắm giữ,
mà đă được giao phó cho các quản gia
ở trang ấp, tức là những người
sau này trở thành giai cấp vơ sĩ samurai, là
điều coi là đương nhiên vậy. Điểm
gốc của khái niệm "thanh nhă" Vậy
th́, công việc của người quư tộc
thời đó trong chính phủ trung ương do
họ chi phối, là ǵ? Công việc lớn
nhất của họ là tiêu dùng tiền thuế
do những người quản lư nông trại
đă trưng thu, vào những phí tổn ở
kinh đô cho việc cử hành những nghi
thức Phật giáo hay Thần đạo nhằm
truyền bá cái phong thái, cái dạng thức
của nhà nước ra toàn quốc, với
mục đích giữ được cái phong cách
Nhật Bản, duy tŕ được sự
thống nhất nhân tâm và văn hóa trong toàn
quốc. Vấn đề trị an hay duy tŕ
sản vật và ngành nghề của địa
phương nào th́ ủy thác cho quyền tự
trị của địa phương ấy. Thời
Nara, họ cho mở nhiều đường
quốc lộ, cho dựng chùa Quốc Phân Tự[16]
ở mỗi địa phương để hoàn
thành chế độ tập quyền trung
ương. Đến thời Heian th́ quyền hành
trung ương bị yếu dần đi, làm cho
nền tự trị địa phương
biến thành nền "phân lập" (độc
lập) địa phương. Chẳng
hạn, ngày nay khi người ta làm một
đường cao tốc và nếu người
ta quy hoạch một cách hợp lư th́ hầu như
con đường đó luôn luôn trùng với
quốc lộ ngày xưa. Nói cách khác, thời xưa
người ta đă lập ra một quốc gia
cổ đại với những con đường
đáng được gọi là "đường
viên đạn" chạy từ kinh đô Nara ra
khắp nơi trong nước. Nhưng
đến thời Heian th́ những con đường
này mất khí thế, rất hiếm người
đi lại nữa v́ sự di chuyển trên
những con đường này trở nên mất
thời gian và nguy hiểm. Nói cách khác, Nhật
Bản dần dần bước sang thời trung
cổ. Do
đó, quyền hạn và quyền lực của
chính phủ trung ương bị giảm đi,
"giá trị" của chính phủ cũng không
lấy ǵ làm "đắt" cho lắm
nữa. Mỗi địa phương đều
được phân quyền và lập ra một chính
phủ nhỏ bé của ḿnh. Việc làm của các
chính trị gia quư tộc chủ yếu là duy tŕ
những nghi thức tôn giáo có tính cách quốc
gia để làm mô phạm cho ư thức thiện
mỹ của toàn quốc. Có thể nói một cách
cực đoan rằng nước Nhật thời
đó đă được bảo tồn nhờ
một ư thức thiện mỹ chung vậy. Chính
ở thời kỳ như vậy mà Hikaru Genji,
ở địa vị một chính trị gia,
đă làm một "cấu trúc trên mặt tư
tưởng." Chính
phủ trung ương thời đại Heian là
một "chính phủ nhỏ," song việc
thu thuế để duy tŕ một chính phủ
nhỏ như vậy cũng không dễ dàng ǵ.
Truyện Genji có những đoạn mô tả
cảnh biệt thự hoang tàn của những
bậc công khanh nghèo nàn hoặc những nhân
vật quư tộc đă suy đồi. Hikaru Genji làm
tướng quốc mà không thấy nghiêm
chỉnh thảo luận vấn đề cứu
tế những nhà quư tộc suy đồi đó.
Ngược lại, thái độ của ông là
xa lánh, hoặc dẫu có nh́n thấy cũng làm
ngơ trước những nhân vật quư tộc
đáng thương đó. Đương nhiên là
với thứ dân, ông cũng làm như vậy. Cá
nhân ông th́ có coi những cảnh tượng
đó là tội nghiệp thật, song với tư
cách chính trị gia, ông đă không hề nghĩ
đến một chính sách phúc lợi nào cho
họ. Tướng
quốc Hikaru Genji đă chỉ miệt mài vào
thế giới của ư thức đẹp, ư
thức thẩm mỹ. Thơ ca hoặc trang
phục, cử chỉ hoặc sự xếp đặt
chỗ ngồi trên dưới trong nghi lễ, th́
thấy thảo luận rất nhiều. Rồi yêu
đương và tranh giành trong quan hệ với
nữ giới cũng thế. Thật ra, nếu
nghĩ rằng chính trị chẳng qua là vấn
đề bè phái, vấn đề máu mủ
ruột thịt, th́ yêu đương nhau cũng
là vấn đề chính trị trọng yếu
chăng. Ngày
nay, nếu các nhà chính trị không màng ǵ đến
ngoại giao, tài chính, mà chỉ miệt mài
với thẩm mỹ, th́ sẽ ra sao? Không
chừng, bọn quan liêu (công chức), tức là
những người tương đương
với đám quản gia thời Heian xưa,
lại làm cho mọi việc chạy trơn chu hơn
cũng nên. Trước đây đă có một
thủ tướng Nhật Bản chỉ bận
tâm tới cách quàng khăn cổ trong buổi
hội kiến với tổng thống Mỹ.
Biết đâu ông thủ tướng ấy
chẳng là "hậu duệ" của các nhà
quư tộc thời Heian? Và nếu nghĩ như
vậy, người ta có thể sẽ gật
đầu nghĩ thầm: "chí lư!" Có
điều lạ lùng là riêng với nhân vật
Hikaru Genji này, th́ dù chẳng làm chính trị ǵ
cả, mà không thấy có ǵ đáng ghét, không
bị nghĩ là ngu. Gần đây, từ lập
trường nhân quyền của phái nữ, h́nh
như có nhiều người cảm thấy ghê
tởm Truyện Hikaru Genji bởi v́ có quá
nhiều phụ nữ xuất hiện trong
truyện. Song ngay với những người như
vậy, th́ vai chính trị gia Hikaru Genji cũng không
đến nỗi bị người ta ghét
bỏ. Đây âu cũng là bởi chàng vốn có
"đức" chăng? Truyện
kể Hikaru Genji làm nhân vật điển h́nh
của lớp người quư tộc Heian và
được mọi người Nhật
biết cho đến ngày nay. Nếu trong lịch
sử không có Hikaru Genji, nghĩa là nếu bà
Murasaki Shikibu không viết ra Truyện Genji, th́ ngày
nay chúng ta làm sao biết được chi
tiết như vậy về địa vị,
về lối sống của lớp người
quư tộc Heian. Thế
rồi cái đó đă trở thành h́nh ảnh
của giới quư tộc, hay hơn thế
nữa, thành điểm gốc của khái
niệm "thanh nhă" của Nhật Bản. Người
Nhật th́ ngay ngày nay cũng vậy, vẫn
chấp nhận những người như Hikaru
Genji, dù chỉ là chấp nhận với điều
kiện nào đó. Sự kiện Hikaru Genji vẫn
có ảnh hưởng lớn tới cách sống
hoặc cách đánh giá trong xă hội của người
Nhật ngày nay, đủ chứng tỏ Hikaru
Genji đáng được đếm là một
trong số "Mười hai người lập
ra nước Nhật" vậy. Sự
xuất hiện của chính trị gia kiểu
"Hikaru Genji" Ảnh hưởng của "chính
trị gia chằng làm ǵ cả" kiểu Hikaru
Genji, đă hiện ra ở đâu và như
thế nào trong nước Nhật ngày nay? Trước nhất là sự phát
sinh ra mô h́nh "chính khách quư tộc kiểu
Nhật Bản," hay là loại "người
thanh lịch." Đúng vậy, ở nước
Nhật này, thỉnh thoảng người ta
lại thấy xuất hiện những chính
trị gia kiểu Hikaru Genji. Nghĩa là loại chính
trị gia trông tốt mă, tốt người, song
chẳng làm ǵ đáng gọi là làm chính trị,
thậm chí chẳng muốn làm ǵ, chẳng quan tâm
ǵ, chẳng hiểu ǵ về thực chất
của việc chính trị, tài chính phải làm
cả. Điển h́nh là Konoe Fumimaro, người
đă lập nội các năm 1937. Konoe Fumimaro cao 1m 80, ở thời
đó như vậy là cao vượt bực,
với vóc người hết sức bảnh bao.
Ông để râu mép, mặt mũi thanh tú. Hơn
tất cả nữa, ông lại là con ḍng chính
thống của họ Fujiwara, đồng thời
lại là công tước. Thật quả là
một chính khách quư tộc chính hiệu. Lúc đó Nhật Bản đang
ở vào thời kỳ vô cùng khó khăn: Từ
vụ Măn Châu qua diễn biến 26 tháng 2[17],
Nhật Bản đang bị cô lập hóa trên trường
quốc tế và t́nh h́nh quốc nội th́
rối beng. Đúng lúc đó th́ từ mọi
giới nổi lên như cồn lời kỳ
vọng: "Ngoài Konoe ra, chắc không c̣n ai có
thể trị nổi nước Nhật hiện
nay!" Đúng là người ta đang muốn t́m
ở Konoe h́nh bóng một Hikaru Genji vậy. Nhiều chính sách được
đề ra, nào phong trào Thể chế mới, nào
luật Tổng động viên toàn dân, v.v..
Tất cả đều chỉ là những
khẩu hiệu, những phiêu ngữ rộng
tuếch, không ra ngoài phạm vi ư thức về
vẻ đẹp. Dưới quyền một
thủ tướng vô vi vô tài như vậy,
nền chính trị thực tế là do quân nhân và
quan liêu (công chức) thực thi. Thật đúng
là phó mặc cho quản gia. Ấy thế mà dân
chúng chẳng ai phê phán, chẳng ai chê bai ǵ
cả, đến nỗi Konoe được làm
thủ tướng đến ba lần. Tiếng tăm của Konoe không
hề bị suy giảm mặc dầu ông không
hề thực sự làm chính trị, chỉ
lạm phát khẩu hiệu và làm điệu bộ thôi. Nội các Konoe thứ nhất
đă làm cho chiến tranh Nhật-Hoa sa vào bùn
lầy, rồi ông buông bỏ chính quyền mà cũng
chẳng bị ai chỉ trích ǵ cả. Đến năm
1940, ông lại đứng ra lập nội các
thứ hai. Với chiêu bài thúc đẩy phong trào
Thể chế mới, ông đă lập ra Hội
Đại chính Dực tán, theo đó mọi chính
đảng đều giải tán, và tất
cả nghị viên đều vui ḷng đặt ḿnh
dướI quyền chỉ huy của chính trị
gia vô vi vô tài Konoe này! V́ Konoe không có tài chỉ huy, nên
thực tế vấn đề chính trị đă
phó mặc cho quân nhân Bộ Lục quân, quan
chức Bộ Nội vụ và Bộ Kho bạc
thao túng. Kết quả là Nhật Bản đă
bị lôi cuốn vào trận chiến tranh Thái B́nh
Dương. Thực ra, tội của Konoe đối
với việc đưa Nhật Bản mạo
hiểm vào trận chiến tranh thế giới trước,
là vô cùng nặng. Thứ nhất, trong đợt
nội các thứ nhất (lập ra năm 1937),
Nhật Bản đă khởi đầu cuộc
chiến tranh Nhật-Hoa. Hơn thế nữa, năm
1938, nội các này đă tuyên bố: "Không thèm
bắt tay với Tưởng Giới
Thạch," khiến làm mất cơ hội
đ́nh chiến. Dĩ nhiên, đây là v́ Bộ
Nội vụ, tức là nhà đương
cục công an lúc đó, chứ không phải quân
đội, đă phản đối với lư do
rằng "Nếu thỏa hiệp với Tưởng
Giới Thạch th́ không thể kiềm chế
được bạo động của những
nhóm hữu khuynh," song Konoe làm thủ tướng
đă không thuyết phục nổi đám quan liêu
Bộ Nội vụ, cũng không cất chức
họ đi. Trong thời kỳ nội các Konoe
thứ hai, th́ Nhật Bản đă kết bè
với Đức, Italia thành phe trục Nhật - Đức
- Italia. Thế rồi năm 1941, tức là
thời nội các Konoe thứ ba, th́ một
mặt Nhật Bản tuyên bố "Phản
đối việc khai chiến
Nhật-Mỹ," nhưng mặt khác mỗi ngày
lại có những hành vi gây hấn như
chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp
chẳng hạn. Thế rồi đến lúc không
c̣n làm ǵ khác hơn được là phải
nhảy vào ṿng chiến, tức là tháng 10 năm
1941, th́ nội các Konoe tổng từ chức, nhường
bước cho nội các của Đại tướng
lục quân Tojo Hideki. Ai cũng biết rằng chính
nội các Tojo đă bắt đầu cuộc
chiến tranh. Lại nữa, ai ai cũng biết
rằng Tojo Hideki, Bộ trưởng Lục quân
trong nội các Konoe thứ ba, chính là phe chủ
chiến. Thế nhưng, làm cho quan hệ với
Mỹ bị hỏng một cách tuyệt vọng
khiến không c̣n con đường nào khác hơn
là chiến tranh, chính là trách nhiệm của
nội các của Konoe Fumimaro vậy. Mặc dầu có trách nhiệm là
đă gây nên sự kiện lớn lao như
vậy, song sự ngưỡng mộ của dân
chúng Nhật đối với Konoe vẫn không
hề suy giảm. Năm 1945, Konoe tâu vua Nhật
cho ḿnh sang Liên-Xô cầu ḥa, làm như chính ḿnh
không hề có trách nhiệm ǵ về cuộc
chiến tranh cả. Đây chính là thái độ thường
có của các chính trị gia quư tộc Nhật
Bản như được đại biểu
bởi Hikaru Genji vậy. Thời nay cũng thế, ở
Nhật Bản người ta vẫn quan niệm
rằng, người đứng trên chóp bu th́ không
nên để tâm đến những tiểu
tiết, nên có thái độ phó mặc cho bề
dưới muốn làm sao cho tốt th́ làm. Đây
chính là hiện tượng đă khởi
nguồn từ từng lớp quư tộc thời
Heian, được Hikaru Genji đại diện
vậy. Tính
cách vô lănh đạo của "Chủ nghĩa
tập thể" Cùng thời với Konoe, người
ta thấy có các nhà lănh đạo ngoại
quốc như Hitler, Churchill, Stalin, người nào
cũng quan niệm trách nhiệm và quyền
hạn của ḿnh một cách rất tỉ
mỉ. Tổng thống Mỹ Roosevelt cũng
vậy, khi bắt đầu vào cuộc chiến,
ông đă tham khảo ư kiến của các chuyên
gia để biết cần bao nhiêu chiến
hạm, cần chế tạo loại xe tăng nào,
v.v., và chính ông tự ḿnh quyết định.
Churchill cũng vậy, Mao Trạch Đông cũng
vậy. Thời Đại chiến thứ
nhất, thủ tướng Anh Lloyd George, thủ tướng
kiêm bộ trưởng Lục quân Pháp George Clémenceau
nổi tiếng độc tài, đă chính ḿnh
đứng ra chỉ huy chiến trận. Hơn
thế nữa, Lloyd George c̣n bất chấp sự
phản đối của hải quân thời
đó, đă cho thành lập đoàn tầu có
hộ tống. Kết quả là phương án này
đă thành công lớn lao, đă ém được
sự tấn công bằng tàu ngầm của Đức.
Chịu nghe ư kiến của các chuyên gia, song chính
ḿnh hạ quyết định cuối cùng. Đó là
thái độ của các chính khách ngoại
quốc. Dù là chủ nghĩa quân phiệt,
hay là chủ nghĩa dân chủ, th́ người
đứng ở chóp bu cũng phải nhận trách
nhiệm ra quyết định. Đó là bổn
phận của kẻ lĩnh lương cao
nhất vậy. Nếu là một tập thể
nhỏ của một xí nghiệp, th́ điều
này càng thấy quyết liệt hơn. Xí
nghiệp ở Mỹ hay ở châu Âu th́ nguyên
tắc là kinh doanh độc tài bởi một cá
nhân. Mọi việc đều phó mặc cho người
có trách nhiệm kinh doanh tối cao. Kinh doanh có
kết quả tốt, th́ tổng giám đốc,
mặc dầu cũng chỉ là người lĩnh
lương, sẽ nhận được thù lao
to lớn. Song, ngược lại, nếu kinh doanh
không suôn sẻ, th́ tức khắc bị giải
nhiệm. Nói cách khác, chính ḿnh nhận tất
cả trách nhiệm mà hạ quyết định.
Đó là bổn phận của kẻ ngồi trên chóp
bu vậy. Tuy nhiên, ở Nhật th́ người
ta quan niệm rằng người ở địa
vị cao không nên câu nệ chuyện nhỏ
nhặt. "Chỗ đó, tụi bay liệu mà làm
cho tốt!" hoặc "Khi nào phương án
của văn pḥng thảo xong, th́ cho tao
biết!"... Đó mới đáng mặt kẻ làm
lớn, kẻ "sang," kẻ "ăn trên
ngồi trốc." Sở dĩ có sự khác biệt như
trên là v́, quư tộc Âu Mỹ vốn là vơ tướng,
lúc nào cũng sống trong t́nh trạng chiến
tranh cướp giựt lănh địa, trang
ấp của nhau. Chứ quư tộc Heian của
Nhật phải chăng chỉ là những "văn
nhân" trong triều đ́nh, kiểu Hikaru Genji? Cái phong cách "người
sang," "người làm to" ngồi trên chóp
bu th́ không nên chi li, đă có ảnh hưởng
trọng đại đối với sự h́nh
thành xă hội ngày nay của Nhật Bản. Người
ngồi trên không lănh đạo ǵ cả, cho nên
mới sinh ra h́nh thức quyết định
tập thể của đông đảo người
ở cấp dưới. "Chủ nghĩa
tập thể" mới nghe th́ hay lắm, song
thật ra đó là h́nh thức thiếu lănh đạo,
mạnh nhóm nào nhóm ấy quyết định
theo ư riêng, khiến dễ sinh ra t́nh trạng không
c̣n biết trách nhiệm ở đâu nữa. Thời kỳ tao loạn, chẳng
hạn thời kỳ "chiến quốc,"
thời kỳ "Duy tân," th́ cần có
những người lănh đạo mạnh. Nhưng
thời b́nh th́ tức khắc xuất hiện
hiện tượng chối bỏ quyền lănh
đạo, khiến phát sinh ra cơ cấu "làm
quyết định (decision making) theo chủ nghĩa
tập thể." Kể từ Hikaru Genji trở
đi, đă sinh ra truyền thống theo đó nhân
sĩ thượng lưu không nhúng tay vào thực
vụ, người "thanh nhă" th́ "không
giám sát, không chỉ huy" người khác. Ở thế kỷ XX, sau trận
chiến tranh thế giới thứ hai, người
ta cũng thấy xuất hiện nhiều nhà lănh
đạo có cá tính mănh liệt trong giới chính
trị cũng như trong giới kinh doanh. Họ
nghĩ ra những chính sách mới, khởi đầu
những doanh nghiệp mới, và có nhiều trường
hợp đă thâu được thành công
lớn. Thế nhưng, ba chục năm sau
chiến tranh, tức là từ khoảng giữa
những năm 1970 trở đi, th́ cả ở
trong giới chính trị lẫn trong giới kinh
doanh, không c̣n những người có tinh thần
khởi nghiệp nữa, mà chỉ c̣n những người
vô lănh đạo thường được
gọi là kiểu "người điều
hợp" (coordinator). Cái ǵ cũng chủ trương
"thôi th́ mọi người cùng quyết định"
là tốt. Mọi người tụ tập nhau
lại, "quyết định" phiên
phiến theo bầu không khí, hay nói đúng ra là có
"cảm giác" đă quyết định.
Chẳng phải là có ai đă nói thế này,
đă nói thế khác, cũng chẳng phải
đă có quyết định đó từ đâu
rồi, mà thật ra chỉ là "v́ không có ai
phản đối cả" hoặc "trong phiên
họp đó, không có ai bàn ra tán vào ǵ cả, nên
phương án do văn pḥng đề ra đă
được thông qua." "Lănh đạo tập
thể" và "quyết định theo tinh
thần tập thể," là hai việc khác nhau
hoàn toàn. Lănh đạo tập thể là một
tổ chức rơ rệt gồm mấy người
hoặc mấy chục người (chẳng
hạn hội đồng nội các, hội đồng
quản trị công ty) làm quyết định,
rồi chỉ thị xuống cho cấp dưới
thi hành. C̣n quyết định theo tinh thần
tập thể, chẳng qua là sự thiếu sót
hẳn một cơ cấu có quyền làm
quyết định, cho nên việc quyết định
đă phải dựa vào bầu không khí của
toàn thể tổ chức hoặc vào cảm tính
của toàn thể thành viên của tổ
chức. Do đó, những người làm công tác
"tạo bầu không khí" phải họp thường
xuyên, "mặt đối mặt" để
trao đổi "T́nh huống lúc này là thế
nào?" "Bầu không khí lúc này là thế nào?" "Pḥng xalông" của Hikaru Genji
mô tả trong "Truyện Genji" chính là để
tạo ra cái bầu không khí như vậy. Đủ
hạng người ra vào đó, ngâm thơ,
ngắm trăng,...và từ đó đă tạo ra
cái bầu không khí chính trị của Nhật
Bản vậy. H́nh thức "pḥng xalông" như
trên, ngày nay cũng được giới chính
trị và giới kinh doanh bắt chước. Xí
nghiệp bỏ ra kinh phí rất lớn cho
việc giao tế, du lịch giao thông, cơ
sở phúc lợi. Theo thống kê thuế vụ năm
1994, th́ giao tế phí tổng cộng của toàn
thể xí nghiệp tư doanh Nhật Bản là
5.487 tỷ đồng Yen. Sau khi "bong bóng kinh
tế" bị xẹp, người ta đă
thắt lưng buộc bụng nên đă giảm
bớt kinh phí như vậy được 870
tỷ đồng Yen so với năm 1992. Song, so
với Mỹ, kinh phí như vậy vẫn
nhiều hơn gấp 3 lần, và so với Đức
th́ nhiều hơn gấp gần 16 lần. Tính trên
cơ sở GNP[18],
th́ giao tế phí của Nhật Bản nhiều
gấp 5 lần Mỹ, 6 lần Đức. Đây
mới chỉ là giao tế phí "dân thết
đăi dân," chứ những h́nh thức giao
tế phí khác, như giao tế phí "quan
tiếp đăi quan" cũng nhiều vô kể. Bảo rằng "giao tế phí"
th́ cần thiết cho kinh doanh, nhưng thật ra
đây chỉ là tiêu dùng cho mục đích
gặp mặt nhau để trao đổi thông
tin hoặc ở trong cùng một xí nghiệp
hoặc ở trong cùng một gia đ́nh xí
nghiệp. Nghĩa là, muốn cho bầu không khí
được h́nh thành mà chẳng phải v́ ai
đă muốn như vậy, th́ người ta
phải thường xuyên gặp mặt nhau, ḍ
dẫm t́m hiểu lẫn nhau bằng cách trao
đổi thông tin, sao cho đến một lúc nào
đó th́ cái ư chí của chính ḿnh cũng hướng
theo cùng chiều. Cái đó mới quan trọng. Kinh phí giao thông, du lịch, để
cho mọi người có dịp gặp gỡ nhau
trao đổi thông tin như thế này, cũng vô
cùng lớn. Cũng năm 1994, kinh phí cho du
lịch, giao thông như vậy của Nhật
Bản, là 14 ngàn tỷ đồng Yen. Kinh phí này
đem so với Mỹ hay Liên bang Âu (EU) th́
lớn hơn rất nhiều. Hơn thế
nữa, các xí nghiệp tư Nhật Bản c̣n
bỏ ra rất nhiều tiền để xây
dựng cơ sở, thiết bị phúc lợi,
nhằm cộng đồng hóa tập thể nhân
viên. Chẳng riêng ǵ ở các xí
nghiệp tư nhân. Ngay cả trong giới chính
trị gia ở "xóm" Nagata[19],
thậm chí trong văn đàn, họa đàn, thi
đàn, ca đàn,...người ta cũng thấy
h́nh thành "làng," nghĩa là sự xây
dựng quan hệ người với người
trong khuôn khổ xóm làng. Kết quả là, chẳng phải
những người vốn dĩ có năng
lực làm việc, mà chính những người
khéo xă giao, hay săn sóc bạn bè, không nói
phật ḷng người khác, nghĩa là những
người kiểu Hikaru Genji, là những người
sẽ được xung quanh đôn đẩy lên
địa vị cao. Hiện tượng như
vậy càng thấy nhiều khi thế gian bước
vào giai đoạn ổn định. Cái truyền thống về loại
người không quyết định ǵ cả
lại được ở địa vị cao
sang, nghĩa là loại người tuy không có năng
lực nhưng "thanh nhă" này, đă có
từ thời quư tộc Heian, tức là từ
thế kỷ thứ X, thời Hikaru Genji sinh
sống. Hơn thế nữa, trong lúc quan tể tướng
Hikaru Genji chỉ miệt mài với yêu
đương và thơ phú, th́ thế gian đă
xoay vần đổi thay. Miền đất phương đông
th́ Taira no Masakado làm phản rồi tự
diệt, mặt biển phía tây th́ Fujiwara Sumitomo
nổi loạn rồi bị Taira diệt. Ấy
thế mà bọn vơ sĩ samurai chẳng lấy
thế làm kiêu ngạo. Rồi xuất hiện
thời đại thái b́nh thịnh trị,
thời đại hoàng kim của giới quư
tộc Heian, tức là thời đại mà
Murasaki Shikibu, tác giả "Truyện Genji,"
sinh sống. Cái kư ức như trên c̣n có
ảnh hưởng lớn tới tính t́nh người
Nhật, tới sự khẳng định
kiểu mẫu chính trị gia Hikaru Genji. Chẳng hạn, ở thời đại
mạc phủ Tokugawa th́ vua Nhật chỉ coi
vấn đề văn hóa, tế lễ thần
đạo, c̣n mạc chúa Tokugawa th́ nắm
thực quyền chính trị. Song, chính mạc chúa
Tokugawa như vậy cũng không được nói
xen vào những chuyện tỉ mỉ. Thí dụ,
vị chúa Tokugawa đời thứ tư, tên là
Ietsuna thường được gọi với
hỗn danh "ngài làm thế đi." Ông này
chỉ nói "làm thế đi" mỗi khi
được quần thần tŕnh tấu
việc nước. Các vị chúa sau ông, trừ
vị chúa thứ năm Tsunayoshi và chúa thứ tám
Yoshimune, đều là chúa "làm thế đi"
như vậy cả. Thậm chí, các phiên chúa (lănh
chúa) cũng thuộc loại này. Nghĩa là, khi
thiên hạ được thái b́nh th́ cái "tính
di truyền cách đời" từ thời Heian
đă lại xuất hiện ra vậy. Nh́n qua các ví dụ ngoại
quốc, ta thấy vua chúa, hoàng đế nói chung
đều thuộc loại độc tài cả. Ngay ở Trung Hoa bên cạnh đây,
cũng thấy xuất hiện đủ loại
hoàng đế. Nếu có người "kỳ
cục" trật đường ray, th́ cũng
có người "ngu," "người
bệnh," "con nít," v.v.. Song, tất
cả các hoàng đế Trung Hoa đều là người
có quyền hành tuyệt đối cả. Nếu
c̣n nhỏ hoặc bị bệnh, th́ có nhiếp
chính phụ giúp. Trường hợp ấu đế
th́ nhiều khi bà mẫu hậu đứng làm
nhiếp chính, nhưng cũng có khi quyền bính
bị các ông cậu hay anh em họ chiếm đoạt. Tuy nhiên, cho dù là chính vị hoàng
đế, hay vị nhiếp chính đứng
cầm quyền, th́ người ở địa
vị quyền lực tối cao đó, cũng phát
huy quyền chỉ huy, quyền lănh đạo ghê
gớm. Quan đại thần có thực lực
mấy đi nữa, cũng không b́ được
với hoàng đế hoặc nhiếp chính. Khi hoàng
đế trưởng thành, nắm lấy
thực quyền, th́ lập tức nền chính
trị của quan nhiếp chính bị thay đổi,
các quan đại thần có thực quyền
lớn cũng dễ dàng bị bay cổ như chơi. Sự
khác nhau lớn giữa "quư phái" và
"thanh nhă" Điều kể trên c̣n có nghĩa
rằng quan niệm "thanh nhă" của người
Nhật và của ngoại quốc khác nhau xa. Đây
là cái ảnh hưởng thứ hai do Hikaru Genji,
tức là tầng lớp quư tộc thời đại
Heian, để lại. Ở Nhật Bản, khi nói "người
thanh nhă" chính là chỉ Hikaru Genji. Đây tức
là nói người không phát huy quyền lănh đạo,
đánh nhau yếu và thể lực cũng
yếu, không có sức chịu đựng dẻo
dai để sống c̣n trong cảnh hoang dă, lúc nào
cũng chỉ miệt mài trong thế giới
thẩm mỹ, thi ca, hiểu rơ phép xă giao, không làm
phật ḷng người khác. Nói cách khác, đây
là loại người "không đủ
mặn" đồng thời cũng "không
đủ mỡ màng." Nói chung, trong phim truyện hay trong
tiểu thuyết, "người thanh nhă" như
công khanh hoặc công tử đài các, thường
được mô tả là người ít
hoạt bát, chẳng có ǵ hấp dẫn cả.
Người quư tộc thanh nhă mà lại có vơ
nghệ siêu quần, như vị chúa thứ 13
của ḍng chúa Ashikaga, tên là Yoshiteru, th́ không
phải là không có, nhưng người ta coi như
vậy là không thích hợp! Thà ông ta miệt mài
với thơ phú, đá cầu[20],..
th́ phù hợp hơn. Cái khái niệm "thanh nhă"
này là nét độc đáo của Nhật
Bản. Ở xă hội quư tộc châu Âu, th́
"thanh nhă," nghĩa là "quư phái,"
phải hội đủ điều kiện
tiền đề là có "sức chịu đựng
và tính cẩn thận." Trong hai đức t́nh
này th́ "sức chịu đựng" quan
trọng. Thí dụ, bộ đội bị
lạc trong rừng sâu. Lương thực đă
hết mà mănh thú lại xuất hiện. Lúc
đó, thử hỏi ai sẽ là người
sống sót? Ở Nhật th́ trước hết
người ta nghĩ rằng binh sĩ xuất thân
từ nông dân hay giới lao động, sẽ
sống sót. Chứ người quư phái "thanh
nhă" th́ làm sao sống sót được trong
rừng sâu một năm, hai năm? Đó là thường
thức ở Nhật Bản. Thế nhưng, ở Anh quốc, người
ta hẳn sẽ nói: "Hắn ta sẽ sống sót.
V́ hắn là quư tộc. Cái ǵ chứ sống
trong rừng là chuyện b́nh thường! "
Ở Pháp cũng vậy, ở Đức cũng
vậy, câu trả lời cũng sẽ là như
vậy. Quư tộc châu Âu không những là
con cháu những chiến sĩ đă thắng
trận, chính bản thân họ cũng đang
chiến đấu để bảo tồn lănh
địa của ḿnh. V́ thế, quư tộc không những
đánh nhau khỏe, thể h́nh cũng to lớn.
Tự ḿnh quyết định mọi việc,
tự ư chí của ḿnh thích ứng với hoàn
cảnh. Nóng, lạnh cũng chịu đựng
được. Người quư tộc mùa hạ
cũng ăn mặc chỉnh tề, mùa đông không
mặc dầy xù mất vẻ thẩm mỹ. Đó
chính là v́ họ có sức chịu đựng,
chịu đựng được nóng cũng như
lạnh. Bị bệnh cũng không rên rỉ
đau đớn. Khi có chiến tranh, th́ tiên phong
tự nguyện đầu quân ra chiến trường.
Có can đảm không sợ chết. Đó mới là
điều kiện phải có của người
"quư phái," tức là người "thanh
nhă" châu Âu. Điều kiện thứ hai của quư
tộc châu Âu là "tính cẩn thận." Quư
tộc muốn giữ được gia thế và
tài sản của ḿnh, th́ không thể không
"cẩn thận" được. Cách ăn
mặc chỉnh tề, không xuề x̣a, cách ăn
nói khéo léo chính là biểu hiện của "tính
cẩn thận" này vậy. Một mặt th́ mạnh dạn, dũng
cảm, có sức chịu đựng, mặt khác
lại phải có tính cẩn thận, mới nghe
tưởng như mâu thuẫn, song đó chính là
điều kiện để làm "quư
tộc" châu Âu vậy. Tóm lại, các kỵ sĩ mặc giáp
trụ cưỡi ngựa chiến đấu
thời xưa, thời nay sống sót làm thành
những con người quư tộc điển h́nh
của châu Âu. Có sức chịu đựng, có tính
cẩn thận chính là những điều
kiện tất yếu của khái niệm người
"quư phái" vậy. C̣n một từ nữa để
chỉ "thanh nhă." Đó là "gentle"
của tiếng Anh (hoặc "gentil" của
tiếng Pháp) mà tiếng Nhật dịch là "có
vẻ, có dáng thân sĩ." "Thân sĩ" là
từ dùng để chỉ người tiểu tư
sản. Vậy nếu coi "noble" là "thanh
nhă quư phái" th́ "gentle" là "thanh nhă
thứ dân," "thanh nhă tiểu tư
sản." Gentleman (gentilhomme) là từ chỉ
những người từ tốn, ít khi biểu
lộ t́nh cảm, bị nói sao cũng b́nh tĩnh
đối đáp, thế mà lại không a dua theo
ư kiến người khác, biết tâm đắc
cái trung dung. Quư tộc Heian của Nhật Bản
th́ khác hẳn loại người gentleman này. Đối
với gentleman th́ quan trọng nhất là thường
thức và trung dung, rồi đến ư chí
cứng cỏi. "Thanh
nhă kiểu Nhật" không c̣n đắc
dụng nữa Xem như trên, ta thấy cái "thanh
nhă" Nhật Bản khác hẳn cái "thanh nhă"
Âu Mỹ. C̣n cái "thanh nhă" của châu Á,
thí dụ cái "thanh nhă" của Trung Hoa th́
ra sao? Cái "thanh nhă" Trung Hoa th́ hoàn toàn chú
trọng vào sự hiểu biết (chủ tri
chủ nghĩa), lấy hiểu biết làm điều
kiện lớn nhất. Bên Trung Hoa, sau khi nhà Đường
suy, trải qua thời kỳ hỗn loạn
gọi là thời Ngũ đại, rồi nhà
Tống bắt đầu chỉ một thời
gian ngắn sau thời Hikaru Genji hoạt động
chính trị. Ở thời này, bên Trung Hoa, h́nh
thức khoa cử để tuyển chọn quan
lại cao cấp đă được tổ
chức nghiêm minh và đă trở thành trọng
yếu. Chế độ khoa cử thật ra
đă bắt đầu từ thời Tùy sơ,
song cho tới hết thời Đường, th́
nhiều người đỗ đạt là
nhờ con ông cháu cha. Nhưng kể từ đời
Tống trở đi, khoa cử đă được
tổ chức nghiêm minh, và đỗ đạt
khoa bảng đă thành điều kiện thứ
nhất để được coi là "thanh nhă,"
để gia nhập giới thượng lưu. Nghĩa là, muốn trở thành con người
"thượng lưu" th́ điều
kiện thứ nhất là phải có đủ
hiểu biết để đỗ đạt
khoa bảng. Ở Trung Hoa th́ từ xưa, thi sĩ,
hoạ sĩ cũng nhiều người xuất
thân từ quan trường khoa bảng. Những
người sáng tạo ra học vấn hoặc
kỹ thuật mới, cũng phần lớn
xuất thân từ quan trường. Như
vậy, quả thật quan trường là nơi
tụ tập đủ loại nhân tài. Thậm
chí, "không thả rong nhân tài nơi dă
ngoại" được coi là lư tưởng
của quốc gia, nghĩa là quốc gia dùng
tất cả người tài làm quan, không để
ai chơi không. Đó là lư tưởng của chính
trị. Do đó, có tri thức đủ
để đỗ đạt đă là điều
kiện tất yếu để trở thành
"thanh nhă." Nhất là từ thời Minh
trở đi, "Chu Tử học" coi
trọng tri thức làm cho "chủ nghĩa
chủ tri (chủ nghĩa lấy biết làm
chủ)" trở thành phổ biến, th́ Trung
Hoa đă trở thành quốc gia mà những trí
thức hiểu biết nhiều được tôn
trọng lắm lắm. Ở Nhật, cứ xem câu nói
"trí thức mặt trắng bệch" đủ
thấy là người ta có phần nào khinh
miệt người trí thức, người đọc
sách. Quan niệm tương tự như vậy cũng
thấy có ở Mỹ, Anh. Ở Mỹ th́ đàn
ông vơ biền được ưa chung, trong khi
đó những người "đầu
trứng," tức là đầu nhét đầy
tri thức như quả trứng, th́ lại không
được tôn trọng. Tập quán tôn
trọng người trí thức th́ trước
nhất là Trung Hoa, thứ đến là Pháp[21]. Ở Trung Hoa, nơi mà những môn
học khoa cử như lịch sử, văn sách,
được coi trọng, th́ dù không muốn làm
quan nhưng để chứng tỏ ḿnh cũng là
thành phần "thanh nhă" thượng lưu,
người ta phải làm sao đậu được
khoa thi hương. Do đó, có nhiều người
đậu hương thí, lấy được
mảnh bằng để chứng tỏ đă có
cái hiểu biết của người thượng
lưu rồi, nhưng không ra làm quan, chỉ
ở nhà làm địa chủ hay nối
nghiệp ông cha, vẫn được tôn kính
gọi là ngài "cử nhân." Trí thức
Trung Hoa có học vấn, thường khinh bỉ
việc lao động chân tay và nghề vơ
biền[22],
song phát huy năng lực lănh đạo. Cái
trật tự trên dưới duy tŕ được
cũng là nhờ vậy. Quư tộc Heian của Nhật
Bản cũng biết làm thơ, cũng thông văn
sách chữ Hán, song với họ, có tri thức, có
học vấn hay không, không phải là tiêu
chuẩn ấn định sự "thanh nhă."
Với họ, ngâm vịnh thơ phú chỉ là
một phần trong ư thức thẩm mỹ. Hikaru
Genji là người đàn ông đẹp trai,
"thanh nhă," được nữ giới hâm
mộ
và làm tể tướng. Chàng được người
ta vô cùng v́ nể, song chẳng phải v́ chàng
biết làm thơ hay, cũng chằng phải v́
chàng có học thức đủ viết sách chú
giải Luận ngữ. Nhật Bản kể từ khi
gửi sứ sang nhà Tùy, đă học hỏi văn
hóa Trung Hoa rất nhiều, đă mô phỏng
chế độ chính trị Trung Hoa, song riêng
về khái niệm "thanh nhă" th́ Nhật
Bản khác xa với Trung Hoa. Đây có lẽ là
bởi v́ từ Đường mạt sang Tống sơ,
tức là vào thời kỳ biến chuyển
của nền văn hóa Trung Hoa, th́ Nhật
Bản đă dẹp bỏ việc gửi sứ
sang Trung Hoa, và thôi không du nhập văn hóa
mới của Trung Hoa nữa chăng? Ngày nay, 50 năm sau chiến tranh
thế giới thứ hai, chính phủ cũng như
xí nghiệp tư nhân đều bước vào
giai đoạn hướng tới ổn định.
V́ thế, càng ngày càng thấy nhiều người
"thanh nhă," "tư cách mười điểm,
tài năng zero điểm" kiểu Hikaru Genji,
giữ địa vị chóp bu. Điều này cũng thấy thể
hiện cả trong giáo dục con em của
Nhật Bản nữa. Giai cấp thượng lưu
châu Âu th́ trước nhất dạy con "tính
chịu đựng" và "tính cẩn
thận," tức là giáo dục con em thành người
cương cường. Nhưng nhà giầu
hoặc người có địa vị xă
hội ở Nhật th́ nuôi con sao cho thành người
"thanh nhă." V́ vậy, họ thường nuông
chiều con cái. Ở Nhật Bản, "đời
thứ hai" đang thịnh hành lúc này. Trong
giới đại biểu quốc hội, thày
thuốc th́ đă đành, ngay trong giới nhà
kinh doanh, nghệ sĩ nghệ nhân, thậm chí người
chơi thể thao cũng thấy xuất hiện
nhiều người "đời thứ
hai." Bầu không khí chung là nh́n nhận
những người thuộc đời thứ
hai này, bởi v́ xă hội Nhật Bản đang
bước vào thời kỳ ổn định
chỉ cần những người ngồi ở
chóp bu không làm ǵ cả song giữ được
vẻ "thanh nhă" Nhật Bản là đủ. Tuy nhiên, đời thứ hai có
nhiều, chứ sự giầu sang kéo dài tới
ba đời là chuyện hiếm có ở Nhật
Bản. Bởi v́, trong khoảng thời gian ba
đời, sáu mươi năm, thế nào cũng
có lúc biến động sôi nổi, khiến người
"thanh nhă" kiểu Nhật Bản dễ
bị đè bẹp. Ở điểm này,
Nhật Bản là nước mà giai cấp thượng
lưu luôn luôn thất bại trong vấn đề
giáo dục con em. Như trên, ngược ḍng thời
gian t́m đặc điểm ngày nay c̣n thông
dụng của xă hội Nhật Bản, người
ta tất sẽ đụng phải cái lối
sống của quư tộc thời Heian, cái nội
dung "thanh nhă" của giới quư tộc này.
Truyện Genji miêu tả Hikaru Genji, phải chăng
đă điển h́nh kể lại cái đó cho
tới ngày nay? Một mơ ước của người
Nhật ngày nay vẫn là lối sống của
Hikaru Genji, quư tộc thời Heian. Tuy nhiên, ở
thời đại mà sự quốc tế hóa ngày
càng tiến mạnh, đ̣i hỏi một sự
lănh đạo mạnh mẽ từ nay trở
đi, th́ liệu mẫu người Hikaru Genji có
thể đáp ứng được chăng? Nói cách khác, đă đến lúc
phải xem lại cái "thanh nhă" kiểu
Nhật Bản này. [1] Truyện Genji, tức là Genji Monogatari, do tác giả Murasaki Shikibu viết vào khoảng gần giữa thời Heian của Nhật Bản (vào khoảng thế kỷ thứ X), là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới, đồng thời là tiểu thuyết dài nhất trên thế giới từ trước tới nay, dài hơn gấp hai lần truyện Tam Quốc Chí diễn nghĩa. [2] Taisho, Đại Chính. Niên hiệu thời vua Taisho, từ 30/7/1912 tới 25/12/1926. [3] Showa, Chiêu Ḥa. Niên hiệu thời vua Showa, từ 25/12/1926 tới 7/1/1989. [4] Thuyết coi ḍng họ vua Nhật Bản là con cháu thần thánh từ trên trời xuống! [5] Gengi
sáng lóng lánh. [6] Hoằng Huy Điện là cung điện của các bà thái hậu, do đó cũng là danh xưng của các bà. [7] Naidaijin: một chức quan kế bậc tam công. [8] Dajodaijin: quan chức tối cao trong triều đ́nh Nhật cho tới thời vua Minh Trị, tương đương với chức tướng quốc. [9] Suzaku In, tên hiệu của vua Suzaku sau khi nhường ngôi cho vua Murakami để làm thái thượng hoàng. [10] Bushi, thường nói nôm na là "samurai." [11] Sadaijin: tương đương với tả thừa tướng. [12] Udaijin: tương đương với hữu thừa tướng. [13] Dainagon: tương đương với á tướng. [14] Shonagon: tương đương với thượng thư lang. [15] Gen Pei To Kitsu, tức là Minamoto, Taira, Fujiwara và Tachibana. [16] Quốc Phân Tự: Kokubunji, một h́nh thức chùa "quốc doanh" làm nơi nương tựa tinh thần cho nhân dân. [17] Ngày 26/2/1936, một nhóm sĩ quan lục quân trẻ, kéo khoảng 1.500 lính đánh chiếm phủ thủ tướng, giết vài bộ trường, làm đảo chính. Ba ngày sau th́ vụ này dẹp xong không đổ thêm máu nữa. [18] GNP (Gross National Product): tổng sản phẩm (lượng) quốc dân. [19] Xóm Nagata, Nagata-cho, là khu tụ tập các cơ quan chính phủ trung ương Nhật Bản. Nói Nagata-cho là nói trung tâm chính trị của Nhật Bản. [20] Bả n do NXB Chính Trị Quốc Gia ấn hành viết “đá cầu lông,” nay sửa lại là “đá cầ u.” [21] Việt Nam ta chịu ảnh hưởng lớn của cả hai nước này, nên đáng đứng hàng thứ ba chăng. [22] Ca dao Việt Nam có câu: "Quan văn tam phẩm đă sang, Quan vơ nhất phẩm c̣n mang gươm hầu!" cũng là thuộc phạm trù này chăng?
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả
..........
|